*** VIỆT CỘNG ĐANG ĐẨY MẠNH KẾ HOẠCH THÀNH LẬP HỆ THỐNG "CÁC HỘI DOANH GIA VIỆT KIỀU" ĐỂ BIẾN THÀNH CÁC TỔ KINH TÀI VÀ TÌNH BÁO Ở HẢI NGOẠI. ***VIỆT CỘNG HÃY TỰ TRẢ LỜI:"AI-VĂN KIỆN NÀO ĐÃ GIAO CHO ĐẢNG CỘNG ĐỘC QUYỀN CAI TRỊ ĐẤT NƯỚC MUÔN NĂM ???" *** Rồi đây, Cờ máu Việt Cộng cũng sẽ biến mất như Cờ búa liềm Liên Sô. Đó là sự thực sau nầy ! *** HỒ CHÍ MINH là một tên LƯU MANH NHỨT THẾ GIỚI - Vì dám lấy TÊN GIẢ để làm QUỐC TRƯỞNG VIỆT CỘNG từ 1945 - Thế Giới chưa ai DÁM GẠT cả một dân tộc như vậy !!! ***Quảng Ba đã công khai gia nhập Phật Giáo Quốc Doanh Việt Cộng Hải Ngoại cùng với Như Huệ, Tâm Phương ... Quảng Ba tự xưng khơi khơi chức vụ Hoằng Pháp Úc-Tân Tây Lan không kèn không trống ... *** VỢ CHỒNG HENRY DANG (Đặng Văn Hiền, Gốc QGHC và đương kiêm Chủ Tịch Hội Đồng Hương An Giang) đã xác nhận CÙNG về Hà Nội dự VESAK là chuyện có thật 100% - Từ nay CẶP VỢ CHỒNG nầy sẽ không thể nào TRÀ TRỘN vào các sinh hoạt Cộng Đồng Tự Do như trước ... *** Linh Mục Bùi Đức Tiến, Bs. Trần Thanh Nhơn, Bs. Nguyễn Ngọc Hương mong Việt Cộng sống lâu để họ được trở thành THÁNH TỬ vì mượn từ thiện để đánh bóng tên tuổi cá nhân ...

Tuesday, March 31, 2009

"PHÁI ĐOÀN GIANG MAI HẢI NGOẠI" Do Đóc tà NGUYỄN THỊ THANH HƯỚNG DẪN

***Mt68: Đây là Danh Sách mà Đóc tà NTThanh , Canada nhắm đến để tha thiết mời vào phái đoàn.

Sao không thấy tên của Thích Phước Huệ (Sydney); Tỳ Khu Quảng Ba (Canberra) và BS. Bùi Trọng Cường (QLD) ?- Không có ba tên nầy thì chắc không ai dám tham gia đâu ! Ngu vừa vừa thôi Đóc tà ơi !./- mt68.


Chúng tôi tha thiết kêu mời Quý Vị sau đây, cùng lập phái đoàn ngay, lên> đường qui cố hương, gặp bộ chính trị đảng CSVN ngay, gặp Nồng Đức Mạnh và> Nguyễn Tấn Dũng thuyết phục, với mọi giá phải ra sức cứu nguy tổ Quốc:>>

GS Nguyễn Văn Canh>>
GS Nguyễn Quốc Thúc>>
Vũ Hữu San>>
TS Mai Thanh Truyết>>
Nguyễn Tường Long>>
Alesander Vũ Hồng Lâm>>
Lê Việt Thường>>
Nguyễn Huy Hùng>>
Mường Giang>>
Bùi Trung Trực>>
Việt Sĩ>>
Nguyễn Thành Công>>
Ngô Nhân Dụng>>
Cao Hữu Thiện>>
Sơn Tùng>>
Vũ toàn>>
Nguyễn Gia Kiễng>>
Nguyễn Học Tập>>
Vũ Minh Hoàng>>
BS Nguyễn Hoàng>>
Phạm Thế Nhân>>
Tào Khang>>
Anne Trần>>
Bùi Tín>>
Lý Thị Như Mai>>
Francis Dương>>
Dương Thu Hương>>
Hoàng Nam>>
Micheal Bùi>>
Đổ hoàng Điềm>>
Lữ Giang>>
Võ Tử Đản>>
Ngô Võ>>
Trần Gia Phụng>>
Đoan Trang>>
Trần Chung Ngọc>>
Nguyễn Mạnh Quang>>
Đổ Thị Thuấn>>
Ngô Túy Phượng>>
Trần Văn Kha>>
Vương Vũ>>
Nguyễn Quốc Thắng>>
Phạm hoàng Quân>>
TS Nguyễn Nhã>>
Phạm Lê Anh>>
Đinh Lâm Thanh>>
Chu chỉ Nam>>
ĐT Nguyễn Khánh>>
Hoàng Dược Thảo>>
Tôn Thất Sơn>>
Đào Minh Quân>>
Nguyễn Gia Dương>>
Nguyễn Văn Hiệp>>
MS Nguyễn Quang Minh>>
Chu Tất Tiến>>
Đặng Viết Sách>>
Đại diện GH Phật Giáo>>
Đại diện PG Cao Đài>>
Đại diện PG Hòa Hảo>>
Đại diện GH CGVN>>
Đại diện TCG Tin Lành>>
TS Nguyễn Phúc Liên>>
Phạm Long>>
Hà Phước Thảo>>
Trần Mộng Vũ>>
Hà Tiên>>
Phùng Văn Hạnh>>
Chủ tịch các CĐ NVHN>>
Bs Nguyễn Thị Thanh>>>>

NẾU QUÝ VỊ ĐỒNG Ý, XIN EMAIL CHO TÔI NGAY. >> CHÚNG TA CẦN MỘT BUỔI HỌP MẶT TRƯỚC KHI LÊN ĐƯỜNG. >> XIN QUÝ VỊ THÔNG BÁO CHO NHỮNG AI KHÔNG LÊN MẠNG THƯỜNG ĐỂ BIẾT BÁO CÁO NẦY.>> NGUYỄN THỊ THANH


Đảng, quân đội bảo vệ ai?


***Mt68: Xin phép được trả lời là " CHÚNG NÓ BẢO VỆ VIỆT CỘNG" !

Lá thư ngỏ với giới tướng lãnh quân đội Việt Nam
Trần Quốc Cường

Tiếng nói TDDC 27/03/2009

Kính gởi quý vị tướng lãnh Quân đội Nhân dân Việt Nam.Tôi là Trần Quốc Cường công dân Việt Nam, đang sống tại TPHCM. Tôi viết thư này để gởi quý vị thao thức của những người trẻ chúng tôi và của nhiếu người dân khác. Xin quý vị bớt chút thời gian đọc và có thể bàn bạc với nhau để tìm cách giải thoát cho người dân Việt Nam chúng ta khỏi ách thống trị độc tài của nhà cầm quyền Cộng Sản.Tôi nhớ khi còn nhỏ, mỗi lần đến trường, tôi thường ngang qua một doanh trại quân đội. Nhìn tấm bảng lớn "DOANH TRẠI QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM" cùng mấy chú bộ đội ngồi đó, tôi cảm thấy yên tâm. Hồi đó tôi hay tự hào với chúng bạn vì nhà tôi ở gần doanh trại quân đội, vì tôi cứ vô tư nghĩ rằng gần các chú bộ đội khi có chiến tranh, các chú ấy sẽ bênh vực mình. Nhưng bây giờ mỗi lần nhìn lại những tấm bảng đó tôi không còn "vô tư" như xưa nữa mà suy nghĩ thật nhiều. Những suy nghĩ của tôi là:Suy nghĩ thứ nhất: Quân đội là của nhân dân. Tôi tin rằng mọi người đều nhất trí quân đội là của nhân dân, do dân và vì dân. Quân đội bảo vệ đất nước, bảo vệ dân. Mọi đất nước, dù ở bất cứ thể chế chính trị nào, đều có quân đội nhưng quân đội không thuộc về một thể chế chính trị hay một đảng phái mà thuộc về nhân dân. Nói cách khác, quân đội không bảo vệ thể chế chính trị hay đảng phái mà bảo vệ đất nước, bảo vệ nhân dân. Khi đất nước bị xâm lăng, quân đội đứng ra đấu tranh. Khi người dân gặp hoạn nạn, quân đội đứng ra giúp đỡ. Ví dụ như những lần giúp dân sơ tán tránh bão lụt, khắc phục lại hậu quả thiên tai… Như vậy xứng danh là "Quân đội nhân dân Việt Nam".Suy nghĩ thứ hai: Truyền thống hào hùng của quân đội ta trong công cuộc bảo vệ đất nước. Chúng ta thật tự hào về truyền thống anh hùng và bất khuất của quân đội ta. Tuy rằng đất nước ta trải qua nhiều cuộc chiến tranh chống quân xâm lược nhưng hầu hết đã mang lại chiến thắng vẻ vang. Nhiều cường quốc đã phải tháo chạy trước sức phản công của quân đội ta. Chẳng cần phải nói nhiều, các trang sử vàng đó còn in đậm mãi trong lòng dân tộc Việt Nam.Tuy nhiên điều khiến tôi suy nghĩ nhất là ngày nay nhân dân ta đang phải gánh chịu một cuộc đàn áp bất công trong xã hội. Xét từ ngày Đảng Cộng Sản lên nắm quyền tới nay, đất nước ta được mệnh danh là "độc lập, tự do, hạnh phúc" nhưng người dân lại không hưởng được những quyền này. Nhân dân ta vẫn phải tiếp tục gánh chịu cuộc đàn áp mới: đàn áp về tư tưởng, đàn áp bởi sự gian dối và bất công. Về tư tưởng, người dân phải suy nghĩ và nói theo chỉ đạo của Đảng, phải khen chứ không được chê. Hậu quả của sự đàn áp này tạo ra hàng loạt những trí thức XHCN giáo điều, những trí thức mà bộ não bị xơ cứng không suy nghĩ được điều gì ngược lại ý Đảng. Chúng ta chỉ cần nghe hay đọc những bài trả lời chất vấn, phỏng vấn của các bộ trưởng, các cán bộ nhà nước thì nhận ra điều này.Về mặt xã hội, Việt Nam ngày nay đang tràn lan sự gian dối, bất công. Gian dối len lỏi vào trong cuộc sống, công sở, học đường, đồng thời được chính thức và công khai hóa bởi những phương tiện truyền thông của Đảng và nhà nước. Các vụ báo chí bịa đặt, cắt xén, xuyên tạc thành ý của người dân là những bằng chứng. Vì gian dối nên đưa tới bất công. Những người có tâm huyết với đất nước, những người yêu mến sự thật đều bị mạt sát, trù dập, bỏ tù còn các bộ phận tham nhũng thì sống phây phây. Vụ luật sư Lê Trần Luật và 8 giáo dân trong phiên tòa phúc thẩm là một bằng chứng. Ngoài ra người dân cũng phải gánh chịu nhiều bất công do cán bộ cấp dưới làm bậy cấp trên làm ngơ. Hầu như người dân luôn là đối tượng để các cán bộ nhà nước đổ lỗi. Chẳng hạn trong vụ Thái Hà và tòa Khâm Sứ: cán bộ ăn cướp đất của dân, nhưng khi giáo dân tập trung cầu nguyện thì báo chí nhà nước rêu rao bôi xấu rằng họ phá rối trật tự công cộng; Vụ sập dầm cầu chợ Đệm do cán bộ rút ruột công trình nhưng lại đổ lỗi "do công nhân bất cẩn"; Còn vụ lụt ở Hà Nội là do "người dân ỷ lại vào nhà nước quá đáng"; Hay vụ cán bộ ăn chăn tiền Tết của dân nghèo là do "lòng tốt" của cán bộ "giữ tiền dùm dân", vân vân. Tôi tự hỏi không biết mấy vụ như: ông Nguyễn Tấn Dũng qua bên Úc, ông Nguyễn Minh Triết qua Mỹ phải "chui cửa hậu" như con Cún thì do lỗi ai?Từ những bằng chứng như thế tôi tin rằng Đảng không còn lấy dân làm gốc nữa, không còn xứng đáng là của nhân dân nữa mà chỉ là một lũ lừa bịp, ngoại trừ một vài cá thể nhỏ bé. Nhất là qua vụ Bauxite đang diễn ra ở Tây Nguyên thì tôi tin rằng Đảng đang là kẻ thù của nhân dân. Nếu là kẻ thù thì bằng mọi giá chúng ta phải loại trừ! Xét từ ngày nắm quyền đến nay, Đảng đã vấp phải rất nhiều sai lầm nghiêm trọng nhưng nhờ sự nhẫn nại của nhân dân nên Đảng vẫn tồn tại. Đáng lẽ Đảng phải nhận ra những sai lầm của mình mà sửa chữa, thế nhưng không những không nhận ra mà lại cố chấp trong sai lầm. Nói thẳng ra Đảng đã coi thường nhân dân, bất chấp đạo đức truyền thống, bất chấp sự thật, bất chấp tất cả chỉ để thủ lợi cho mình. Tôi nghĩ thời gian mấy chục năm qua nhân dân ta đã cắn răng chịu đựng Đảng như thế là đủ. Bây giờ phải hành động! Vấn đề là hành động như thế nào cho nhanh chóng và không đổ máu.Nhóm nghiên cứu sinh trẻ chúng tôi trao đổi với nhau nhiều và nhận thấy rằng cách thức êm đẹp nhất là quý vị trong quân đội hãy ra tay. Vì lợi ích của dân tộc chứ không phải lợi ích của Đảng, xin quý vị hãy trao đổi bàn bạc và lên kế hoạch để xúc tiến công việc sớm nhất có thể. Nếu chúng ta không dứt khoát thì sợ rằng năm mưới năm nữa đất nước chúng ta trở thành một tỉnh lẻ của Trung Quốc thì thật khốn cho dân tộc ta. Kính chúc quý vị vạn sự tốt đẹp. Xin cảm ơn.25-03-2009Trần Quốc Cường* Xin quý độc giả vui lòng giúp chúng tôi phổ biến lá thư này đến nhiều người kể cả trong các cơ quan nhà nước, nhất là giới sinh viên và các nghiên cứu sinh, những người có thao thức với vận mệnh đất nước. Xin cảm ơn quý vị./-

Kết qủa phiên tòa "GIA NÔ"
Xử phúc thẩm vụ Thái Hà
Trà Mi, phóng viên RFA 2009-03-27


http://www.rfa. org/vietnamese/ in_depth/ Vietnamese- Catholics- lose-appeal- in-land-dispute- TMi-032720091009 01.html
Phiên toà phúc thẩm xét kháng cáo của 8 giáo dân Thái Hà diễn ra sáng nay, 27-3-2009, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội.

AFP PHOTO/Ian Timberlake
Bất chấp sự ngăn cản của cảnh sát cơ động, cả ngàn giáo dân tập trung trước tòa án với các biểu ngữ kêu gọi "Sự Thật", "Công Lý"... cho 8 giáo dân Thái Hà.

Phần âm thanh

Tải xuống âm thanh

Email bản tin này
Sau phiên xử kéo dài hơn 5 giờ đồng hồ ở Hà Đông, Toà tuyên bố giữ nguyên mức án sơ thẩm đối với các bị cáo, tức từ 12 đến 15 tháng tù treo và cải tạo không giam giữ. Riêng bị can Thái Thanh Hải bị phạt cảnh cáo.
Hàng ngàn giáo dân tụ tập
Từ sáng sớm, hàng ngàn giáo dân, linh mục, cùng 8 bị cáo đã trật tự xếp hàng đi bộ từ nhà thờ Thái Hà đến Toà án, cách đó chừng 12 cây số.
Bà Nguyễn Thị Hợi, một trong tám bị cáo, mô tả khung cảnh xung quanh khu vực toà án:
“Lần này họ ngăn cản giáo dân không được đến gần khu toà án đến khoảng 100 mét, nhưng giáo dân đông vô cùng, 5 nghìn lá vạn tuế, 5 nghìn ảnh Đức Mẹ Công Lý vẫn không đủ cho giáo dân.
Giáo dân căng băng-rôn, biểu ngữ rất nhiều. Sinh viên rất nhiều, mà giáo dân vẫn kiên trì đứng chờ đợi. Chung quanh tất cả các ngã đường đi vào Toà, an ninh chặn không cho vào.”
Lần này họ ngăn cản giáo dân không được đến gần khu toà án đến khoảng 100 mét, nhưng giáo dân đông vô cùng, 5 nghìn lá vạn tuế, 5 nghìn ảnh Đức Mẹ Công Lý vẫn không đủ cho giáo dân.
Bà Nguyễn Thị Hợi
Bị cáo Nguyễn Thị Việt tiếp lời:
“Không thể đếm nổi, nguyên cảnh sát cơ động đến phải 10 xe cam-nhông. Đường nào họ cũng giăng hàng ra rào cản. Không phải để giữ trật tự đâu, mà họ ra để áp đảo.”
Dù vậy, các giáo dân cho biết không có hành động nào mạnh tay hay điều gì đáng tiếc xảy ra.
Thành phần tham dự phiên toà phía bị cáo có 8 giáo dân, thân nhân bị cáo, 4 linh mục nhà thờ Thái Hà, cùng 2 luật sư Sang và luật sư Đông.
Luật sư Lê Trần Luật, đại diện chính của các giáo dân, ngừơi sát cánh cùng các giáo dân từ toà sơ thẩm đến vụ kiện truyền thông, đã không tham dự đựơc phiên toà.
Mặc dù ông đựơc Toà án Hà Nội đồng ý làm luật sư bảo vệ các bị can trong phiên phúc thẩm, nhưng an ninh TPHCM công khai cản trở không cho ông ra Hà Nội mà không đưa ra bất kỳ lý do nào.
Bên trong phiên xử
Linh mục Nguyễn Văn Khải, phát ngôn nhân nhà thờ Thái Hà, cho biết thêm về thành phần tham dự tại phòng xử sáng nay: “Toà phúc thẩm lần này có rộng hơn lần trứơc. Có 4 linh mục vào phòng xử án. Tôi và 3 linh mục khác họ vào sau.”
Trà Mi: Thưa số ngừơi tham dự phiên toà hôm nay ứơc chừng khoảng bao nhiêu?
Linh mục Khải: Tôi đếm ghế và số người ngồi trên ghế, tính cả cán bộ xử án và cảnh sát tư pháp trong phòng xử chính có chừng 100 người. Còn một phòng dành cho các nhà ngoại giao, giới phóng viên, và một số thân nhân bị cáo để theo dõi phiên xử qua màn hình. Phòng đấy có sức chứa khoảng 30 người nhưng có chừng 10 ngừơi hiện diện.
Trà Mi: Linh mục thấy có sự hiện diện của người nước ngoài nào không?
Linh mục Khải: Đến giờ giải lao, tôi ra bên ngoài thấy có người ngoại quốc đi lại trong sân, nhưng tôi chẳng để ý họ là phóng viên hãng thông tấn nào. Lúc đấy tôi thấy họ đang đi lại chụp ảnh.

Video: Khung cảnh phía ngoài phiên tòa phúc thẩm vụ Thái Hà
(Video do thính giả AnthonyLong cung cấp)
Y án
Ngay khi phiên toà vừa kết thúc chúng tôi có dịp trao đổi với bị cáo Nguyễn Thị Việt. Bà chia sẻ:
“Ngừơi ta cũng làm qua loa giả dối, cốt để nó trở thành phiên toà thôi. Còn họ vẫn cố tình giữ mức án đã tuyên. Bây giờ họ còn ngoan cố hơn để áp đặt tội lỗi cho chúng tôi hầu giữ nguyên mức án.
Dù tại toà chúng tôi có nêu vấn đề sự thật, họ cũng không nghe mà họ cứ y án. Trình độ người ta không có, đầu óc người ta nghĩ thấp quá.”
Ngừơi ta cũng làm qua loa giả dối, cốt để nó trở thành phiên toà thôi. Còn họ vẫn cố tình giữ mức án đã tuyên. Bây giờ họ còn ngoan cố hơn để áp đặt tội lỗi cho chúng tôi hầu giữ nguyên mức án.
Bà Nguyễn Thị Việt
Trà Mi: Thưa bà nói phiên phúc thẩm hôm nay chính quyền cố tình giữ y án. Những cơ sở nào khiến bà nghĩ như vậy?
Bà Việt: Như bọn tôi từ xưa đến nay chỉ công nhận đập bức tường có 3 mét thôi, nhưng họ khăng khăng là 6 mét. Chúng tôi yêu cầu thẩm định lại thì họ không đồng ý mà cứ tuyên án luôn. Đấy là cái cố tình.
Trà Mi: Còn những lập luận luật sư đưa ra được toà phản hồi như thế nào?
Bà Việt: Không dám phản hồi mà đọc y án ngay. Luật sư nói họ không cãi đựơc cơ chứ.
Trà Mi: Luật sư có cơ hội trình bày hết lập luận của mình không?
Bà Việt: Không đựơc, họ toàn cắt ngang không. Luật sư đưa lý lẽ xác đáng, dẫn chứng dựa điều luật hẳn hoi, nhưng họ không trả lời.
Giám đốc thẩm?
Trà Mi: Cảm nghĩ của bà về phiên phúc thẩm, bà sẽ nói gì?
Bà Việt: Chúng tôi vẫn thấy bị oan sai, phải đi giám đốc thẩm thôi, lên tối cao thôi. Tất cả mọi người đều bất bình trứơc kết quả toà phúc thẩm hôm nay.”
Với tư cách là ngừơi tham dự phiên phúc thẩm sáng nay, linh mục Khải nhận xét:
Chúng tôi vẫn thấy bị oan sai, phải đi giám đốc thẩm thôi, lên tối cao thôi. Tất cả mọi người đều bất bình trứơc kết quả toà phúc thẩm hôm nay.
Bà Nguyễn Thị Việt
“Các luật sư khi hỏi những câu có lợi cho bị cáo đụng đến vấn đề căn bản là cơ sở luận tội của các bị cáo, tức tính pháp lý của khu đất thuộc về ai, thì bị toà yêu cầu dừng lại ngay. Tôi thấy ngay trong việc trình bày, tranh luận tại toà đã không có sự công bằng.”
Bị cáo Nguyễn Thị Hợi cho biết cảm nghĩ về phiên phúc thẩm hôm nay:
“Phiên toà hôm nay thực ra bối rối nhiều cái lắm. Công tố viên, thẩm phán họ lẫn lộn ngày tháng lung tung, cũng không đựơc minh bạch. Lần này họ bối rối nhiều lắm.
Viện kiểm sát cũng bối rối, trả lời không đựơc rành mạch một tí nào cả, chẳng nói lên được cái gì cả. Phiên toà lần này mình chỉ bức xúc chỗ là họ cứ không cho mình nói, họ khống chế, ngăn cản mình nói.
Trà Mi: Bà có cảm nghĩ như thế nào về kết quả phiên phúc thẩm này?
Bà Hợi: Mình phải được vô tội cơ mà họ xử lại vẫn y án, cho nên chúng tôi sẽ tíêp tục lên toà án tối cao.”
5 giờ chiều hôm nay 27/3, ngay sau khi phiên phúc thẩm kết thúc, chúng tôi gọi điện hỏi thăm luật sư Lê Trần Luật thì được biết ông đang bị giữ “làm việc” tại đồn công an quận Gò Vấp:
Bạn nghĩ gì về vụ xử này? Hãy gửi đến Ban Việt Ngữ ý kiến của Bạn email: vietweb@rfa. org; hoặc cùng tham gia thảo luận tại Trang blog Ban Việt ngữ RFA
“Luật sư Lê Trần Luật: Alô?
Trà Mi: Thưa luật sư Luật chúng tôi gọi từ đài RFA. Được biết phiên phúc thẩm hôm nay đã diễn ra mà không có sự tham dự của ông. Xin đựơc hỏi cảm nghĩ của ông như thế nào ạ?
Luật sư Luật: Có gì chị gọi lại sau vì tôi đang ở trong công an. Khi nào họ thả tôi về thì tôi sẽ…
Trà Mi: Hiện giờ ông đang ở trụ sở công an Gò Vấp phải không ạ?
Luật sư Luật: Dạ vâng.
Trà Mi: Cảm ơn ông rất nhiều. Chúng tôi sẽ gọi lại sau.
Các bị cáo bị kết tội “huỷ hoại tài sản” và “gây rối trật tự công cộng” tại phiên sơ thẩm ngày 8/12 vừa qua sau khi họ tập trung cầu nguyện và đập bức tường của công ty may Chiến thắng tại khu linh địa Đức Bà, khu đất tranh chấp giữa chính quyền và Giáo xứ Thái Hà.

GIÁO DÂN THÁI HÀ
CÓ QUYỀN TUYÊN BỐ CHIẾN THẮNG VIỆT CỘNG.


Mọi người đều biết rằng: với nhà cầm quyền độc tài cộng sản, việc đòi hỏi Sự thật – Công lý – Hoà bình là một điều hết sức khó khăn, nhiều khi là chuyện không tưởng.
Nếu Sự thật được thực thi, Công lý được áp dụng, Hoà bình được thực hiện, thì hiển nhiên đã không thể tồn tại Chủ nghĩa Cộng sản và chế độ Cộng sản. Chế độ Cộng sản sở dĩ vốn còn tồn tại được là dựa vào bạo lực, súng đạn, nhà tù, sự dối trá và sự sợ hãi của người dân. Chúng ta không hi vọng những phiên toà của nhà nước Cộng sản lại có thể độc lập, khách quan trong xét xử. Nhưng giáo dân Thái Hà và người yêu chuộng sự thật nói chung vẫn kiên trì theo đuổi dựa trên những điều khoản của nhà cầm quyền Hà Nội đưa ra nhưng rồi không thực hiện, để buộc họ phải có phiên xử phúc thẩm ngày 27/3/2009 đối với 8 giáo dân của mình. Chúng ta không hi vọng một bản án tuyên vô tội hay giảm nhẹ cho những anh chị em của chúng ta, bởi nhà cầm quyền cộng sản vốn kiêu ngạo và bất chấp sự thật sẽ không bao giờ muốn nương tay với anh chị em, đặc biệt khi người công giáo đã cả gan ngăn chặn âm mưu tham nhũng, chiếm đoạt đất đai, tài sản của nhân dân, của tôn giáo để biến thành tài sản riêng của mình. Vì vậy, việc các giáo dân Hà Nội, cùng hiệp thông với Giáo hội Công giáo Việt Nam cũng như những người yêu chuộng Hoà bình, Công lý và Sự thật đòi hỏi có phiên toà xử phúc thẩm 8 giáo dân – nạn nhân của nhà cầm quyền Hà Nội là nhằm để một lần nữa, đoàn kết tất cả mọi người nói lên nguyện vọng của mình với những giá trị tối thiểu của con người, xã hội và đất nước.Dù chần chừ, sợ hãi và lúng túng muốn nhanh chóng ỉm đi vụ án nhục nhã và hèn hạ này nhưng trước sự kiên trì, anh dũng và hiểu biết của các giáo dân, các luật sư và nhất là sự đoàn kết hi sinh của cộng đồng, nhà cầm quyền Hà Nội đã phải đưa các giáo dân này ra toà phúc thẩm ngày 27/03/2009. Trước đó cả tháng trời, nhà cầm quyền đã phải hao công, tốn của, tốn nhiều sức lực và tiền bạc của nhân dân để chuẩn bị cho phiên toà này. Chiến dịch truyền thông ma quái và bóp méo với chức năng nô lệ của báo chí VN đã huy động tổng lực nhằm vu cáo, bôi nhọ, nhục mạ các giáo sĩ, tu sĩ giáo xứ Thái Hà cũng như các nạn nhân. Họ tưởng rằng làm như vậy, các giáo dân sẽ chùn bước, sẽ sợ hãi và quần chúng nhân dân sẽ tin tưởng họ. Các linh mục đáng kính cống hiến sức lực và trí tuệ của mình để phục vụ người dân, đã bị vu cáo và bôi nhọ. Chỉ vì họ đã là hình ảnh đối lập với các quan chức cộng sản miệng nam mô, bụng bồ dao găm chỉ nhăm nhăm chiếm đoạt tài sản của cải, đất đai của nhân dân bỏ túi mình cho thật đầy. Trước đó, báo chí và các cơ quan cảnh sát, an ninh, thuế và ngay cả các đoàn luật sư cũng đã thể hiện tư duy và hành động nô lệ hèn mạt đánh hội đồng vào cá nhân Luật sư Lê Trần Luật và các cộng sự của ông, nhằm ngăn chặn ông đứng về phía giáo dân bảo vệ Công lý
Cũng trước đó, họ đã nhiều lần mời “đi làm việc”, gây nhiều khó khăn cũng như quấy rối những người có tâm huyết bảo vệ sự thật, công lý và hoà bình, những người có thiện tâm giải quyết vấn đề cách ôn hoà và chống lại sự kỳ thị chia rẽ cộng đồng tôn giáo như ông J.B Nguyễn Hữu Vinh. Ngay ngày xử án, những cá nhân đó bị cô lập, bị triệu tập “đi làm việc” với những lý do hết sức buồn cười chỉ có trong chế độ cộng sản VN. Trước khi xử án, các phường, xã quận ở Hà Nội và một số nơi công an, cán bộ đến đe nẹt, khuyên răn, dụ dỗ đến từng người, từng gia đình Công giáo và cả các linh mục, chức sắc không đến dự phiên toà phúc thẩm. Nhà cầm quyền quyết định đưa giáo dân về xử tại Hà Đông, nơi cách xa giáo xứ, cách Hà Nội cả chục cấy số nhằm làm nản những người muốn đến dự phiên toà. Ngay trước ngày xử, khu vực Toà án bị phong toả. Trong ngày xử án, tất cả trường học, chợ búa, cửa hàng kinh doanh đã bị buộc ngừng hoạt động. Các khách sạn, nhà nghỉ bị cấm hoạt động, nhà dân thì được khuyên là nên đóng cửa, không được cho khách tạm trú qua đêm. Các hàng ăn khu vực Hà Đông bị cấm nhận đặt cơm… Họ tưởng làm như vậy, người Công giáo sẽ hoang mang, sức mạnh đoàn kết sẽ suy giảm, các nạn nhân sẽ bị bỏ rơi, các giáo dân và những người yêu chuộng sự thật sẽ khiếp sợ. Nhưng họ đã lầm. Những hành động đê tiện như trên đã không mảy may làm nản lòng những người chân chính. Trái lại, chính nhà nước Cộng sản VN đã tự bôi trát vào mặt mình - những người luôn vỗ ngực cho mình là“đại diện nhân dân” là “trí tuệ nhân loại”, là “lương tâm thời đại” những mớ bùn ngàn năm không thể nào tẩy rửa. Diễn biến của phiên toà cho thấy sự mất lòng tin của nhân dân vào hệ thống chính trị, quan chức nhà nước đến mức nào. Hàng ngàn người diễu hành cả chục cây số với sự tự tin, kiêu hãnh đến với nạn nhân với cành Thiên tuế trên tay, với tấm hình Đức Mẹ Công lý trước ngực, giơ cao các khẩu hiệu đòi Sự thật – Công lý – Hoà bình và những tiếng nói hiệp thông trên các băng rôn từ các giáo xứ đã nói lên khát vọng của họ to lớn đến mức nào. Hàng chục linh mục, tu sĩ đã sát cánh cùng giáo dân, cùng những nạn nhân và những người cần lao đã chứng minh hình ảnh đốn mạt, dối trá và bạo ngược của hệ thống quan chức vốn luôn miệng tư xưng là “đầy tớ nhân dân” nhưng chỉ nhằm “ông chủ” sơ hở là ăn cắp, là ức hiếp và cướp.
Hàng ngàn người đối diện với súng đạn, dùi cui, xe đặc chủng… đã không hề tỏ ra khiếp sợ, đã làm cho chính quyền sợ hãi, lúng túng và bất lực. Hàng ngàn thanh niên, sinh viên, quần chúng diễu hành trên phố đến trước Thị uỷ Hà Đông, đến trước cổng Công an Hà Nội để nói lên sự ủng hộ với các giáo dân, với Thái Hà đã làm các cơ quan này khiếp sợ mà chui vào đóng cổng như những đám chuột ngày. Hàng vạn người tham dự Thánh lễ Tạ ơn ngay sau phiên toà, đã là một bằng chứng hùng hồn cho sức mạnh của sự đoàn kết, sức mạnh của niềm tin vào Thiên Chúa là - Sự thật – Công lý – Hoà bình. Và tất cả đó cũng là một bằng chứng để chứng minh bản chất của một chế độ xã hội bất nhân, bạo ngược và dối trá. Phiên toà đã kết thúc không ngoài dự kiến đối với các nạn nhân. Quan toà Cộng sản không thể kết tội nặng hơn cho các nạn nhân, đã phải y án với những lời nhân nghĩa giả trá. Nhưng đã có một phiên toà, mà ở đó người dân đã có dịp để thể hiện khát vọng của mình. Đã có một phiên toà, mà ở đó sức mạnh của súng đạn, dùi cui và nhiều khí cụ man rợ khác đã phải thúc thủ đầu hàng trước khí cụ bình an của Chúa - giáo dân tay không. Đã có một phiên toà mà ở đó những giáo dân đã nhận được sự đồng cảm và kính phục của những người yêu chuộng Hoà bình, sự thật và công lý ở ngoài công giáo, trong xã hội. Đã có một phiên toà xử ngược lại, mà ở đó sự tối tăm bị đẩy lùi, ánh sáng được chiếu dọi từ những người giáo dân đơn sơ và tay không hoàn toàn bất bạo động. Đã có một phiên toà, mà ở đó các thế lực ma quỷ, đen tối phải sợ hãi trước ánh sáng của Tình yêu thương, những thành quả lớn lao này đã là niềm khích lệ cho mọi người trong cuộc chiến này - cuộc chiến không cân sức với các thế lực đen tối nhằm tìm kiếm Sự thật – Công lý – Hoà bình. Với những thành quả lớn lao đó, chúng ta có quyền tuyên bố: CHIẾN THẮNG. Ngày 28/3/2009 Song Hà

Thất bại và phản bội

BS Trần Văn Tích

Trước 1975 bảo sanh viện Từ Dũ là bệnh viện sản phụ khoa công lớn nhất Sàigòn và lớn nhất miền Nam. Ngoài ra còn có bảo sanh viện Hùng Vương cũng là bệnh viện công. Tất cả các bệnh nhân mắc bệnh sản phụ khoa đều được gửi vào đây điều trị, viện phí hầu như không phải trả. Những người có phương tiện tài chánh khả quan hoặc dồi dào có thể ghi tên nhập viện tại ít nhất hai cơ sở tư : bệnh viện Dung Anh nằm trên đường Công lý do Giáo sư sản phụ khoa Trần Ðình Ðệ làm Giám đốc sáng lập điều hành và khu sản khoa bệnh viện công giáo Saint Paul ở đường Nguyễn Ðình Chiểu do Giáo sư sản khoa Nguyễn Văn Hồng phụ trách.
Bảo sanh viện Từ Dũ đi vào hoạt động chính thức sau khi các cơ sở chuyên môn trên toàn lãnh thổ Nam Việt Nam được người Pháp bàn giao lại cho chính quyền quốc gia. Nguyên là Maternité Beauchamp, bảo sanh viện mang tên mới Từ Dũ. Dần dà cơ sở điều trị sản phụ khoa này được canh tân và phát triển, trở thành lớn nhất nhì toàn vùng Ðông Nam Á, là nơi thực tập huấn nghệ cho sinh viên y khoa từ năm thứ ba trở đi, đồng thời cũng là trụ sở Trường Nữ Hộ sinh Quốc gia, qui tụ các nữ sinh viên được chọn lựa qua một kỳ thi tuyển, ăn ở nội trú trong trường, thực tập tại bảo sanh viện Từ Dũ trong ba năm và khi tốt nghiệp có quyền mở một bảo sanh viện để hành nghề tư một cách độc lập, không phụ thuộc vào Bộ Y Tế. Bệnh viện được tăng cường một phòng sanh mới, trang bị hiện đại, tọa lạc trong một tòa nhà ba tầng khang trang dành riêng để thu nhận điều dưỡng các bệnh nhân sản phụ khoa nằm chữa bệnh và/hoặc theo dõi sau khi sanh đẻ với tất cả những tiện nghi y tế cần thiết. Ngoài ra người phụ nữ nhập viện còn được cung cấp thức ăn nước uống đầy đủ hợp vệ sinh do nhà thầu phụ trách. Tất cả đều miễn phí, người bệnh hay người sanh không phải đóng bất cứ lệ phí nào. Bảo sanh viện Từ Dũ có tất cả khoảng năm trăm giường bệnh, mỗi ngày nhận khoảng từ một trăm năm mươi đến hai trăm bà tới để được hộ sản hoặc chữa bệnh phụ khoa. Chỉ riêng trong phạm vi sản khoa, người sinh viên y khoa đến thực tập tại Từ Dũ được chỉ dạy về cung cách đỡ đẻ bình thường con so và con rạ, bên cạnh các kỹ thuật sanh khó như sử dụng forceps, đặt vacuum, tiếp sanh thai ngược, sanh đôi, nạo thai, v.v.. Phòng giải phẫu phụ trách giải quyết các trường hợp thai ngoài tử cung, nang buồng trứng, tuyệt sản v.v.. Nếu biết rằng một bảo sanh viện tại các nước Âu Mỹ, mỗi ngày đêm nhận trung bình chừng một chục sản phụ, mỗi năm điều trị lối hai, ba ngàn sản phụ mà đã kêu là „quá tải” thì mới thấy rõ dung lượng dịch vụ to lớn mà bảo sanh viện Từ Dũ đã cung cấp hằng năm cho dân chúng miền Nam Việt Nam.
Sau tháng Tư đen, cùng với những chủ trương quái đản về kinh tế tài chánh do Đảng Cộng sản đưa ra, bảo sanh viện Từ Dũ đã trải qua những tháng năm đen tối thiếu thốn đủ thứ. Ðến khi người cộng sản, vì nhu cầu sống còn, phải chuyển qua đường lối kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì Từ Dũ cũng… chuyển hướng theo. Sản phụ nhập viện phải đóng viện phí, thức ăn nước uống phải tự túc, công việc chăm sóc điều dưỡng phần lớn phải tự lực lo toan. Ngân sách dành cho y tế quá thấp nên khía cạnh vệ sinh điều dưỡng cực kỳ tồi tệ thê thảm. (Nếu ở Ðức, chi phí y khoa dành cho mỗi đầu người dân hằng năm là 2.970 Âu kim thì ở Việt Nam, số liệu tương đương là 26 Mỹ kim).
Tạp chí Deutsches Ärzteblatt của Y sĩ đoàn Ðức tập 106, số 6, ngày 06.02.2009, từ trang 191 đến trang 194 có bài phóng sự khá dài về nền y tế xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhan đề „Ernüchternde Parallelwelten” (Thế giới song hành gây vỡ mộng) của nữ tác giả Martina Merten. Người viết phóng sự đến thăm bảo sanh viện Từ Dũ, Khu D. Ngay trên sàn hành lang Khu D này, sản phụ trải chiếu nằm la liệt chen chúc chờ đến lượt mình vào phòng hộ sản. Bên cạnh những bà mẹ tương lai thấy để các tô nhỏ đựng ít cơm, chút rau, miếng thịt. Nhiều sản phụ mồ hôi trán ướt đẫm, dùng tay phất qua phất lại trước trán nhằm có chút hơi mát. Hành lang dẫn vào những phòng bệnh, trong mỗi phòng có khoảng hơn một chục phụ nữ nằm chờ. Tất cả đợi tới lượt mình vào phòng hộ sản được trang bị mười giường sanh.
Ngay sát cạnh Khu D này là trại bệnh tư của nhà thương Từ Dũ. Một cánh cửa kính ngăn cách hai thiết kế y tế. Cánh cửa đó, theo nữ phóng viên người Ðức, mở vào một thế giới khác, thế giới này đóng kín đối với tuyệt đại đa số phụ nữ Việt Nam. Theo nữ bác sĩ Vương Thị Ngọc Lan thì bảo sanh viện Từ Dũ hiện nay có một nghìn giường bệnh và ngay trong bảo sanh viện, từ vài năm nay, có một số trại bệnh dành riêng cho phụ nữ Việt Nam giàu có. Các bà các cô này ăn diện theo thời trang Âu Mỹ, làm chủ những ngôi nhà hoặc những căn phòng riêng trong thành phố và di chuyển bằng xe ôtô gắn máy điều hòa không khí. Họ có phương tiện tài chánh để chi trả hơn hai trăm Âu kim cho mỗi lần lâm bồn nên được thu nhận vào phòng sanh trang bị đầy đủ tiện nghi vật chất và vệ sinh để hạ sanh các cháu bé. Sau khi mẹ tròn con vuông, mỗi người được đặc quyền tỉnh dưỡng nghỉ ngơi trong phòng riêng cá nhân; ngoài ra chính các bác sĩ phụ trách chăm sóc hậu sản cho họ, thay vì các nữ hộ sinh. Những ai gắng hết sức vẫn chỉ gom góp được sáu chục Âu kim đóng cho bệnh viện thì chỉ được thu nhận vào Khu D. Nữ bác sĩ Vương Thị Ngọc Lan phát biểu ý kiến : „Thật ra, để cho người giàu nằm cạnh người nghèo như vậy là không phải.” (!?!?)
Còn nữ bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng, từng giữ chức giám đốc bệnh viện Từ Dũ sau tháng Tư đen, thì nêu câu hỏi : „Tại sao những người giàu sang lại phải vào các bệnh viện công đầy nhóc bệnh nhân, khi mà họ có phương tiện đến các cơ sở chẩn đoán điều trị tư nhân, để được chăm sóc nhanh chóng hơn và hữu hiệu hơn?”. Bác sĩ Phượng lẽ ra đã nghỉ hưu, nhưng gặp thời điểm và cơ hội thuận lợi, vị cựu nữ dân biểu quốc hội cộng sản, phó chủ tịch Hiệp hội Sản Phụ khoa Việt Nam, đã đứng ra thành lập một bảo sanh viện tư ở vùng ngoại ô Sàigòn, với vốn đầu tư của tư nhân. Nếu cách nhà bảo sanh này vài bước, người phụ nữ thường dân chỉ mua được một tô phở với giá vài mươi xu Âu kim thì cơ ngơi y tế của bác sĩ Phượng được trang bị những máy móc tân kỳ hiện đại trị giá hàng triệu Âu kim, do những công ty ngoại quốc tự nguyện cung cấp mà không đòi tiền mua sắm!
Karl Marx trong Tư bản luận, quyển 1, tập 3, trang 97, bản tiếng Pháp, Paris, 1939, cho rằng : „Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, sự áp bức tư bản chủ nghĩa tăng lên, tình trạng bần cùng tương đối và tuyệt đối của giai cấp công nhân và của tất cả những người lao động càng ngày càng trầm trọng thêm. Của cải trong xã hội càng tập trung vào tay một nhóm nhỏ những nhà tư bản, thì quần chúng càng trở nên vô sản hóa, nạn thất nghiệp càng lan rộng, giai cấp công nhân càng nghèo đói.” Marx vốn không biết rằng ở Việt Nam đã có bảo sanh viện Từ Dũ lại có ngày 30 tháng Tư. Nếu biết, Marx chắc sẽ sẵn sàng thay hai chữ „tư bản” bằng hai chữ „cộng sản” trong tác phẩm kinh điển của mình.
Theo lý thuyết, mục đích của nền kinh tế tài chánh xã hội chủ nghĩa nói chung, không phải là vì lợi lộc mà vì con người, mục đích cụ thể của nó là thỏa mãn các nhu cầu vật chất - trong đó có nhu cầu phòng bệnh chữa bệnh - và văn hóa của con người. Cũng vẫn theo lý thuyết, chế độ xã hội chủ nghĩa thoát khỏi các mâu thuẫn đối kháng, không có khủng hoảng kinh tế, không có quần chúng lao động thất nghiệp và bần cùng. Nó đảm bảo cho mỗi người lao động quyền làm việc, quyền nghỉ ngơi, quyền học hành, quyền điều trị v.v.. Về phần mình, người trí thức mới xã hội chủ nghĩa mật thiết liên hệ với nhân dân, họ phục vụ nhân dân, tích cực góp phần vào công cuộc thúc đẩy đất nước tiến lên chủ nghĩa cộng sản.
Sau tháng Tư đen, nhà văn Chế Lan Viên hùng hồn khẳng định với đám văn nghệ sĩ ngụy quân ngụy quyền thất cơ lỡ vận ngày 03.08.1976, tại lớp nghiên cứu chính trị và văn nghệ khóa II : „Con đường chúng tôi đi qua, các anh chị em sẽ đi qua. Nhờ có Ðảng, chúng tôi đã đến. Và các anh chị rồi cùng chúng tôi sẽ đến.”
Mọi người quả đã đến thực, đến dưới khẩu hiệu tuyên truyền : „Tất cả vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.” Mọi sản phụ đều đã đến. Ðến bảo sanh viện Từ Dũ, Khu D. Ai có đôla và ai không có đôla cũng đều cùng đến, có điều cùng đến để được điều trị ở hai khu vực chỉ ngăn cách nhau bằng một tấm cửa kính lạnh lùng.
Người cộng sản Việt Nam du nhập học thuyết hoang tưởng của Marx để gây nên chiến tranh liên miên và tử vong vô kể. Kết quả họ „xây dựng” thành công (!) một khu bảo sanh viện tư hữu ngay trong bảo sanh viện công lập Từ Dũ trước kia của miền Nam quốc gia!
Rõ ràng chẳng những cộng sản Việt Nam thất bại, cộng sản Việt Nam còn phản bội. Phản bội chính họ và nhất là phản bội dân tộc Việt Nam./-

NHỮNG BUỔI CHIỀU CUỐI THÁNG TƯ, NĂM 75
* Đặng Văn Nhâm

LÀN SÓNG NGƯỜI KHẮP NƠI TRÀN VÀO SÀI GÒN.

Đúng 2 giờ sáng ngày 10.3.75, quân CSBV khởi sự tấn công Ban Mê Thuột. Không ai ngờ chỉ 24 tiếng đồng hồ sau thị trấn này bị thất thủ hoàn toàn. Đại tá Vũ Thế Quang, tư lệnh phó sư đoàn 23 BB, và đại tá Ng. Trọng Luật, tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Đắc Lắc bị bắt.
Ở Sài Gòn, TT Thiệu và chánh phủ vẫn chưa chịu xác nhận BMT thất thủ, còn tin tưởng vào khả năng tái chiếm của tướng Phú. Nhưng dư luận quần chúng trên toàn quốc đã hoang mang giao động. Chỉ 3 ngày sau, 14.3.75, TT Thiệu đã phải ra lịnh cho tướng Phú rút quân khỏi Pleiku, Kontum để bảo tồn lực lượng. Cuộc rút quân thảm hại này đã diễn ra ngày hôm sau, theo sáng kiến của đại tướng Cao Văn Viên, tổng tham mưu trưởng, đã khiến cho hàng trăm ngàn quân dân vùng hai bị chết kẹt một cách kinh hoàng trên con đường 7B, một con đường cũ của Sơn Tràng đi về phía đông, qua cái rốn của vùng này là tỉnh Phú Bổn. Xác người lẫn xác xe cộ trải dài la liệt khắp mặt đường. Hình ảnh đó đã khiến tinh thần quân dân vùng Một bị hoảng loạn ngay.
Đêm 19.3.75, TT Thiệu bắt buộc phải lên tiếng trên đài truyền hình chính thức xác nhận BMT đã thất thủ, và ra lịnh "tử thủ" Huế, nhưng lại trút mọi tội lỗi cho Mỹ. Ngày 21.3.75, tướng Ngô Quang Trưởng lên đài phát thanh Huế, trấn an quần chúng bằng câu nói lịch sử: "Tôi sẽ chết trên đường phố Huế. Việt Cộng phải bước qua xác chết của tui mới vô được cố đô này!" Trong khi đó Huế đã bị bao vây, sân bay Phú Bài bị pháo kích nặng, quốc lộ 1 bị cắt đứt, mọi di chuyển đều bị tắc nghẽn, chỉ còn lại một sinh lộ duy nhất mà cũng là tử lộ- chẳng khác nào Huê Dung Đạo trong Tam Quốc Chí - để chạy ra biển theo cửa Thuận An và cửa Tư Hiền!
Dân chúng vùng Một bồng bế nhau tìm đường chạy ra biển, lính của tướng Trưởng và cả tướng Trưởng cũng chạy lẫn trong dân, để tìm sống sót. Nhìn cảnh tượng tranh cướp, bắn giết lẫn nhau hỗn loạn trên bãi biển Đà Nẵng, ai cũng phải rùng mình run sợ. Sáng ngày 29.3.75, tướng Trưởng đang lóp ngóp bơi và trôi giữa những cơn sóng nguy hiểm ngoài khơi Đà Nẵng, thì được vớt lên tàu. Nhờ vậy mà ông đã không phải bỏ xác trên đường phố Huế. Thật là hú vía!
Đến lúc này dân số Sài Gòn đã tăng vọt từ 5 triệu đến 7 triệu. Đa số đều là quân dân vùng một và vùng hai, thoát chết chạy vào thủ đô. Nhưng đồng thời dân chúng trong các tỉnh miền Đông giáp ranh Sài Gòn cũng bỏ nhà, bỏ của dắt díu nhau chạy vào Sài Gòn lánh nạn. Đông nhất là dân chúng trong tỉnh Tây Ninh và Bình Dương. Vì người ta đồn Việt Cộng sẽ đánh chiếm Tây Ninh để làm thủ đô cho Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam VN. Chánh phủ Thiệu cũng tin như thế, nên dư luận càng đồn thổi mạnh mẽ hơn, hoang mang hơn.
Đường phố Sài Gòn và các vùng phụ cận đã chật ních người. Trên mặt ai cũng hiện rõ vẻ sợ hãi, lo âu, ngơ ngác... Giữa lúc đó, ngày 8.4.75, trung ương cục và quân ủy miền của CSBV tung ra chiến dịch Hồ Chí Minh. Nguyễn Văn Linh phó bí thư trung ương cục đặc trách công tác thúc đẩy quần chúng nổi dậy, Võ Văn Kiệt được trao trách nhiệm tiếp quản thành phố. Phối hợp nhịp nhàng với kế hoạch của CS, phi công phản lực F5 nằm vùng, Nguyễn Thành Trung thình lình ném bom dinh Độc Lập rồi bay thẳng ra Nha Trang, hợp tác với CSBV. Mấy quả bom này đã làm cho cơn sốt của Sài Gòn tăng thêm nhiệt độ.
Ngày 9.4.75, CSBV tấn công Xuân Lộc, sân bay Tân An, và cắt đứt quốc lộ 4. Thế là Sài Gòn gần như đã bị bao vây tứ phía. Quân dân Sài Gòn chẳng khác nào những con cua trong giỏ. Từ đây nhiệt độ cơn sốt tăng lên không ngừng từng giây từng phút. Tinh thần quần chúng đã căng thẳng đến tột độ, tưởng chừng chỉ cần một cái búng nhẹ cũng có thể làm đứt được!
Nhưng đó là chuyện thiên hạ, ngoài xã hội, thân ai nấy lo. Còn trong chánh phủ thì sao? Sinh hoạt của các cơ quan đầu não, lãnh đạo tối cao miền Nam, trong dinh tổng thống, dinh thủ tướng, bộ Tổng Tham Mưu, và thượng hạ viện thì như thế nào?

NHỮNG BUỔI CHỢ CHIỀU...
Đây là điều mà có lẽ nhiều người tị nạn ở hải ngoại ngày nay muốn biết. Một phần tư thế kỷ qua, tôi không thấy ai đề cập đến. Những vị cầm đầu các cơ quan đó, như các ông: Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Thiệu, Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Bá Cẩn, Cao Văn Viên, Trần Văn Lắm... hầu hết đều đã an toàn, thong dong đem gia đình thân quyến ra hải ngoại, nhưng chẳng ai tiết lộ nửa lời. Vì thế, nay tôi không ngại sự thấy biết đơn sơ và trí nhớ cùn mòn, cố gắng kể lại cách tóm lược những diễn biến tản mạn trong các cơ quan lãnh đạo tối cao này, để bạn đọc thưởng lãm.
_ Ngày 14.4.75, thấy tình hình chiến sự đã nguy ngập vô cùng, lại thêm bị chấn động kinh hoàng bởi mấy quả bom của Ng. Thành Trung giáng xuống dinh Độc Lập, đe dọa sinh mạng của gia đình vợ chồng TT Thiệu, và TT Khiêm cũng nhận thấy hết đường cạy gỡ gì được nữa, mới chấp nhận bàn giao nội các cho dân biểu thân chính Nguyễn Bá Cẩn, một thủ hạ thân tín nhất của TT Thiệu, vốn xuất thân Quốc Gia Hành Chánh. Tôi đã có dịp quen biết Ng. Bá Cẩn cả chục năm trước từ khi ông còn là phó tỉnh trưởng.
Lễ bàn giao giữa Trần Thiện Khiêm và Ng. Bá Cẩn đã diễn ra tại phòng khánh tiết dinh Độc Lập vào sáng ngày 14.4.75, trước sự hiện diện của TT Thiệu, phó TT Hương, các dân biểu thượng, hạ viện và đầy đủ các vị tổng, bộ trưởng trong hai nội các cũ và mới. Về phía nội các mới, thấy có Trần Văn Mãi, Nguyễn Văn Diệp, Lê Quang Trường, Trần Văn Đôn, đóng vai phó thủ tướng, và Dương Kích Nhưỡng, phó thủ tướng đặc trách định cư và cứu trợ. Nghe nói còn có Ng. Xuân Phong, nguyên trưởng phái đoàn thương thuyết hòa đàm Ba Lê đã được phong làm quốc vụ khanh, nhưng hiện còn ở Pháp chưa về trình diện kịp. Trong nội các cũ, người ta thấy có mấy khuôn mặt nổi bật như Nguyễn Văn Hảo và Trần Văn Đôn. Nhưng thiếu Vương Văn Bắc, tổng trưởng ngoại giao.
Lúc đó, Lê Quang Giảng, thứ trưởng ngoại giao quyền ngoại trưởng, đã thay mặt cho Vương Văn Bắc, vì Bắc đã đem hết vợ con thân quyến vọt ra nước ngoài từ trước khi Ban Mê Thuột bị thất thủ. Từ đó Vương Văn Bắc đi lòng vòng đến khắp các tòa đại sứ VNCH trên thế giới, để kiểm tra "ngân sách". Cuối cùng đến ngày 25.4.75, khi biết chắc số phận con bịnh miền Nam đã hết thuốc chữa, Vương Văn Bắc mới đánh điện về Sài Gòn xin từ chức. Xin từ chức với ai? Vì ngày 21.4. chính Nguyễn Bá Cẩn, tân thủ tướng cũng đã âm thầm đem vợ con theo chân TT Thiệu và TT Khiêm chuồn êm ra ngoại quốc rồi!
Trong cuộc bàn giao tẻ nhạt, không khí tràn ngập hoang mang, lo sợ phập phồng này, người ta cũng còn thấy cả sự có mặt của các cha cố, sư sãi, và một số đại diện báo chí trong nước và ngoại quốc.
Về phía tòa đại sứ Mỹ, ngày hôm nay đã bắt đầu phát ra cho tất cả người Mỹ ở Sài Gòn giấy "bảo lãnh bạn VN thoát khỏi bị CS tắm máu trả thù." Chỉ trong vòng 24 giờ sau, không khí sinh hoạt Sài Gòn bỗng nhốn nháo hẳn lên. Không hiểu bằng cách nào những kẻ gian manh đầu cơ thời cuộc đã nhanh chóng tung ra thị trường giấy bảo lãnh của Mỹ với giá bán, lúc đầu là 250 đô la một tờ. Chỉ vài tiếng đồng hồ sau, giá giấy tăng lên gấp đôi đến 500 đô la một tờ. Rồi 1000 đô la một tờ cũng có người tranh nhau mua. Nhiều người còn mua đi bán lại, để ăn lời. Nên biết lúc đó giá một đô la ăn 60.000 đồng VN. Càng ngày giá giấy bảo lãnh càng tăng như pháo thăng thiên. Nhiều gia đình không đủ tiền mua giấy bảo lãnh của Mỹ, nhưng trong nhà có con gái, hay đàn bà còn sạch mắt cũng vui lòng đem tấm tiết trinh giá đáng ngàn vàng ra thế chấp cho mấy ông bạn đồng minh, với hy vọng được bảo lãnh sang Mỹ, thoát nạn CS. Nhưng tội nghiệp, đại đa số đều không ngờ mình đã là nạn nhân của một thủ đoạn lừa bịp trắng trợn, tàn nhẫn nhất. Họ chỉ thực sự đau đớn và bàng hoàng tỉnh ngộ, khi dắt díu con cái đến cổng Phi Long, phi trường Tân Sơn Nhất, chìa tấm giấy bảo lãnh ra, bị chú quân cảnh Mỹ lạnh lùng xé toạc vứt xuống đất, và dùng báng súng xua ra như đuổi gà!
_ Ngày 21.4.75, TT Thiệu thình lình triệu tập nội các tỏ ý muốn từ chức, đến tối quần chúng thấy Thiệu xuất hiện trên đài truyền hình tuyên bố chịu từ chức và trao quyền lại cho phó tổng thống Trần Văn Hương. Tiếp theo ông Hương kêu gọi ngưng bắn để thương lượng. Ngay sau đó, TT Thiệu và gia đình được người Mỹ hộ tống đưa ra phi trường trong đêm tối để bay qua Đài Bắc với tất cả của cải đã gom góp được trong một khối hành lý khổng lồ cân nặng gần 10 tấn, không sứt mẻ đồng nào, ngoại trừ 500 đô la tiền "buộc boa" để trả ơn phục dịch lo liệu chuyến đi cho đại tá Cầm.
Kể từ giờ phút ấy nội các Ng. Bá Cẩn kể như cũng đã tự động "tan hàng". Từ Ng. Bá Cẩn đến các tổng, bộ trưởng không còn ai léo hánh đến nhiệm sở nữa. Nhà báo, đặc biệt là những người thân cận, quen biết lâu năm, muốn tiếp xúc với họ phải đến tư gia. Tuy nhiên, đa số đã vọt từ khuya, chỉ còn gia nhân ở lại trông nhà!
_ Sáng ngày 25.4. 75, lưỡng viện quốc hội VNCH họp phiên khoáng đại đặc biệt theo lời yêu cầu của TT Trần Văn Hương tại hội trường Diên Hồng, dưới quyền chủ tọa của Trần Văn Lắm, chủ tịch Thượng Viện. Khi TT Hương lên diễn đàn thượng viện, ai cũng thấy ông đã lệt bệt, bết bát lắm rồi. Nhưng ông vẫn còn cố gắng run rẩy kêu gọi mọi người cùng ông tử chiến để bảo vệ miền Nam. Lần này, khác với mọi khi ông nói rất vắn tắt, rồi ra xe về liền. Không khí hội trường sau đó cũng sôi nổi bát nháo hẳn lên. Đa số ngồi đó mà đít đã nhấp nhổm, mắt thường láo liên nhìn về phía cửa ra vào. Nhưng họ vẫn chia ra từng khối để thảo luận riêng. Tựu trung có ba khuynh hướng chính: Một phe thuộc thành phần thứ ba, thân cộng, gồm các dân biểu Lý Quí Chung, Dương Văn Ba, Hồ Ngọc Nhuận, Hồ Ngọc Cứ, Nguyễn Hữu Chung, hiệp với nhóm nghị sĩ cựu đại tá Hồng Sơn Đông đòi đưa Dương Văn Minh lên thay thế ông Hương, để thương thuyết với MTDTGPMN. Nhóm khác có vẻ theo phe Ng. Cao Kỳ, chống lại, nêu giả thuyết chưa chắc CS đã chịu thương thuyết với Dương Văn Minh, lại còn có thể khiến cho Ng. Cao Kỳ làm đảo chánh. Nhóm ủng hộ Dương Văn Minh liền phản công, nói nếu Kỳ đảo chánh DV Minh thì Thiết Giáp và Thủy Quân Lục Chiến sẽ làm phản đảo chánh chống lại Kỳ. Nhà báo dự thính chẳng biết họ căn cứ vào đâu để phát ngôn lung tung như thế, nên có cảm giác như đang nghe đám con nít đang chơi trò "cút bắt" đấu khẩu, trong xóm Bàn Cờ. Nếu ai có chút kinh nghiệm sinh hoạt chính trị hậu trường tất nhận ra ngay nhóm ủng hộ Kỳ đã được Trần Văn Lắm kín đáo giật giây. Vì TV Lắm có người con rể là Đặng Đức Khôi, vốn là bạn thân của Ng. Cao Kỳ đã từng ủng hộ Kỳ trong suốt thời gian Kỳ làm chủ tịch UBHPTƯ và Phó Tổng Thống cho Thiệu. Lúc đó tuy ĐĐ Khôi đang ở Mỹ, nhưng nghe đâu nếu TV Lắm vận động thành công thì Khôi sẽ lập tức về ngay để trợ lực cho Kỳ và cho bố vợ. Mặt khác, TV Lắm cũng cố gắng đem vấn đề hiến chế ra để bác bỏ mọi đề nghị đưa DV Minh ra thay TV Hương, và cho rằng nếu TT Hương từ chức thì phải trao quyền lại cho chủ tịch thượng viện.
Đến 8 giờ tối, lưỡng viện quốc hội lại tái nhóm chung trong bầu không khí sôi nổi khác thường. Đa số nêu ý kiến bất tín nhiệm TV Hương, đưa DV Minh lên thay thế. Giải pháp TV Lắm thay TV Hương bị chìm nghỉm trong khung cảnh vô cùng nhốn nháo.
_ Ngày 26.4.75, có tin chính thức TT Ng. Bá Cẩn đã lén đem vợ con và thân nhân vọt ra ngoại quốc rồi, cho nên TV Đôn, phó thủ tướng đặc trách liên lạc với quốc hội đã phải thay mặt Ng. Bá Cẩn tường trình trước quốc hội về tình hình chung. Phó thủ tướng đặc trách kinh tế, Ng.V. Hảo tường trình về kinh tế, và cuối cùng đến phiên ĐT Cao Văn Viên trình bày tình hình quân sự. Bản tường trình tổng kết của các nhân vật thẩm quyền ấy đã khiến cho người nghe hình dung ra được thảm trạng cực kỳ đen tối, bi đát đến tuyệt vọng. Không khí chán nản, lo sợ hãi hùng bao trùm toàn thể hội trường, lúc đó chỉ còn lại chừng trên trăm người. Cuối cùng để cứu vãn tình hình trong cơn cực kỳ nguy cấp, nhóm dân biểu thủ hạ của Dương Văn Minh đã năng nổ hô hào vận động tích cực cho giải pháp đưa DV Minh ra đóng vai trò hòa giải với phe MTDTGPMNVN.Dường như ai cũng đặt hết tin tưởng vào lá bài DV Minh. Điều này có lẽ đã khiến ông già gân TV Hương bị xúc phạm tự ái, nên đã tuyên bố huỵch toẹt trước quốc dân đồng bào, trên đài truyền hình: "Thằng Minh nó là học trò tôi. Tôi biết nó quá mà... Nó chỉ muốn vẽ bùa mà đeo!"
Lúc này ô. Minh có vẽ bùa mà đeo hay không cũng đã hết thành vấn đề. Vì đa số dân biểu và nghị sĩ đã quyết tâm chọn DV Minh để thay ông TV Hương rồi. Bởi thế, có tiếng vọng vào dinh Độc Lập cho ông Hương biết, nếu ông còn ương ngạnh không chịu trao quyền cho ông Minh thì lưỡng viện sẽ phải bỏ phiếu "bất tín nhiệm" ông. Như vậy, ông Hương sẽ bị mất thể diện nặng nề hơn. Vì thế đến tối hôm nay, ông Hương đã phải xuất hiện trên màn ảnh truyền hình tuyên bố trao cho quốc hội toàn quyền chọn tổng thống khác.
_ Hôm sau, ngày 27.4.75, lưỡng viện quốc hội lại họp chung lần nữa tại hội trường Diên Hồng từ 18 giờ đến 22 giờ đêm để tiến hành thủ tục bầu ông Minh lên làm tổng thống hầu có thể điều đình với CSBV về việc lập một chánh phủ hòa hợp hòa giải gồm 3 thành phần: Quốc gia, trung lập (còn gọi là "thành phần thứ ba"), và MTDTGPMNVN. Nhà báo để ý thấy số dân biểu và nghị sĩ hiện diện trong cuộc bỏ phiếu này rất thưa thớt, chẳng khác nào một phiên chợ chiều. Đa số đã bỏ chạy ra bến tàu, hay vô phi trường Tân Sơn Nhứt để tìm đường chạy ra ngoại quốc.
_ Ngày 28.4.75, tình hình bên ngoài thành phố đã khẩn trương, quân CSBV đã siết chặt thêm vòng vây. Một số máy bay phản lực ở Biên Hòa đã phải dời về TSN, bộ tư lệnh quân đoàn 3 của tướng Toàn cũng đang gấp rút chuẩn bị dời về Gò Vấp. Đến 10 giờ sáng, ông Hương thông báo cho DV Minh biết tin lễ bàn giao chức vụ tổng thống sẽ diễn ra vào lúc 17 giờ tại dinh Độc Lập. Nhưng đến khoảng 15 giờ 30 một phi đội 5 chiếc oanh tạc cơ A.37 do Trung úy nằm vùng Ng. Thành Trung hướng dẫn đã cất cánh từ sân bay Thành Sơn (Phan Rang) vào ném bom xuống phi trường Tân Sơn Nhứt. Hôm nay tướng Cao Văn Viên đã cởi bỏ nhung phục, mặc quần Jean, áo Polo, bám theo máy bay Mỹ vọt qua Thái Lan.
_ Đúng lúc lễ bàn giao giữa hai ông Hương và Minh đang diễn ra trong dinh Độc Lập, bỗng trời đất chuyển động ầm ầm, sấm chớp liên hồi và cơn mưa to đầu mùa trút nước xuống như thác đổ. Cảnh tượng này càng làm tăng thêm vẻ hãi hùng bi đát cho lễ bàn giao. Trong dân chúng, nhiều người tin dị đoan cho rằng đó là một điềm gở!
_ Ngày 29.4.75, chủ tịch Thượng Viện Trần Văn Lắm, tướng Ng. Cao Kỳ, tướng Trần Văn Đôn vội vàng nhanh chân vọt theo Mỹ ra ngoại quốc. Tướng Đôn lên chuyến trực thăng Mỹ cuối cùng trên sân thượng tòa nhà Alliance Francaise, góc Hai Bà Trưng và Gia Long, cùng một chuyến với BS Trần Kim Tuyến. Cùng thời gian này tướng Toàn tư lệnh QĐ 3 cũng bỏ chạy, nhưng vẫn còn để lại cuộn băng phát thanh kêu gọi quân dân vùng 3 tử thủ đến giọt máu cuối cùng!
Hôm nay ngay sau khi vừa được bàn giao chức vụ tổng thống, việc đầu tiên của DV Minh là di chuyển toàn bộ gia đình vợ con, cháu chắt vào cư ngụ trong dinh Độc Lập. Suốt ngày hôm nay, DV Minh và Ng. Hữu Có chỉ lo giữ liên lạc với TT Trí Quang, để tiến hành việc thành lập một chánh phủ hòa hợp hòa giải dân tộc gồm 2 thành phần (thay vì 3 như lúc đầu). Một bản dự thảo nội các đã được phác họa như sau:
Đồng chủ tịch: Dương Văn Minh, Trần Văn Trà.
Ba phó chủ tịch : Vũ Văn Mẫu, Trịnh Đình Thảo, Cao Văn Bổn.
Tổng trưởng quốc phòng: Phạm Văn Phú, tổng trưởng ngoại giao: Nguyễn Thị Bình, TT Tư pháp: Trương Như Tảng, TT Nội Vụ: Vũ Quốc Thúc, TT kinh tế: Ng. Văn Hảo, TT thương mại: Lê Quang Uyển, TT tài chính: Trần Ngọc Liễng... Nếu bộ nào tổng trưởng là người của Minh thì đổng lý VP là người của MTDTGP. Ngoài ra còn một Hội Đồng Cố Vấn chánh phủ gồm: Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Thích Trí Quang (Phật Giáo), Lương Trọng Tường (Hòa Hảo), Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa (Cao Đài), linh mục Chân Tín (Thiên Chúa Giáo), cựu thủ tướng Trần Văn Hữu v.v...
Cũng trong ngày 29.4.75, từ 8 giờ sáng, dân chúng Sài Gòn càng thêm nhớn nhác, sợ hãi, khi thấy trên trời từng đoàn trực thăng khổng lồ bay rầm rập không ngừng nghỉ, giữa những cụm khói đen ngùn ngụt bốc lên từ phía Nhà Bè. Xen lẫn trong những âm thanh hỗn độn khủng khiếp đó, người ta còn nghe đài phát thanh, cứ cách khoảng 15 phút một lần lại phát đi trên băng tần FM 99,9 mê ga héc, bản tin về nhiệt độ Sài Gòn đã lên đến trên 40 độ centigrade, với một bài hát trật đường rầy và câu nói bâng quơ xem ra hoàn toàn vô nghĩa lý trong hoàn cảnh này: "Tôi đang mơ một ngày lễ Giáng Sinh có tuyết trắng!"
Hầu hết dân chúng Sài Gòn lúc bấy giờ chẳng ai hiểu gì về câu nói khơi khơi đó, khiến họ càng thêm kinh hãi bàng hoàng. Đó là ám hiệu di tản toàn bộ người Mỹ ra khỏi Sài Gòn đã có ghi trong một quyển sách nhỏ "tuyệt mật" gọi là "SACE" (tên tắt của mấy chữ: Standard instructions and Advice to Civilians for normal and Emergency situations), bìavàng, vỏn vẹn chỉ có 15 trang, phổ biến rất giới hạn trong giới người Mỹ ở VN mà thôi.
_ Sáng ngày 30.4.75, ông Vũ Văn Mẫu được tân tổng thống DV Minh chỉ định làm thủ tướng, thay thế Ng. Bá Cẩn. Nhưng Ng. Bá Cẩn đã vọt mất tiêu từ mấy hôm trước rồi, nên ông Mẫu cứ đến thẳng dinh Thống Nhất, ngồi vào chỗ của Ng. Bá Cẩn. Chung quanh ông lúc bấy giờ chẳng có ai, ngoại trừ dân biểu Lý Quí Chung. Do đó ông đã ban hành bằng khẩu lệnh cho Lý Quí Chung chức tổng trưởng thông tin, để tiện việc loan truyền các tin tức cấp thiết. Lập tức Lý Quí Chung lôi ngay Ngô Công Minh, nguyên chủ nhiệm nhật báo Lẽ Sống Mới, (anh của Ngô Công Dư sau năm 75 đã ở Bolsa, HK) vào làm thứ trưởng. Nhưng nội các "một ngoe" này chỉ tồn tại được không đầy 3 tiếng đồng hồ thì chiến xa của quân CSBV đã tiến vào tiền đình dinh Độc Lập!

Thổn thức, Nghẹn ngào cho Việt Nam
Tác giả: Đoàn Văn Toại
- Felix lược dịch
Ngày đăng: 3/31/2009

Khi cộng sản chiếm miền Bắc Việt Nam năm 1954, hàng triệu người đã lũ lượt di cư vào Nam. Tôi đã tận tai nghe nhiều câu chuyện về sự đau khổ tột cùng của họ. Nhưng cũng như nhiều người miền Nam lúc ấy, tôi đã không tin vào những câu chuyện đó. Cả về sau này, tôi cũng đã không tin về những câu chuyện được kể trong tác phẩm Quần Đảo Ngục Tù (The Gulag Archipelago) của văn hào Solzhenitsyn. Tôi không tin vì cho rằng đó là những luận điệu tuyên truyền chống Cộng. Nhưng vào năm 1979, tôi đã cho xuất bản cuốn sách Việt Nam Ngục Tù của chính tôi. Liệu những người đã từng nếm trải những kinh hoàng dưới chế độ cộng sản có bao giờ thử thuyết phục những người không có cái kinh nghiệm này? Kể từ năm 1945, năm tôi ra đời tại huyện Cái Vồn thuộc tỉnh Vĩnh Long, một tỉnh lỵ cách Sài Gòn 160 km về hướng Nam, cho đến khi ngày tôi rời Việt Nam vào tháng 5/1978, tôi chưa từng một ngày vui hưởng hoà bình. Căn nhà gia đình tôi đã bị đốt 3 lần trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong suốt cuộc đời niên thiếu, tôi đã phải theo cha mẹ di tản từ làng này sang làng khác để tránh tên bay đạn lạc. Cũng giống như những người Việt Nam yêu nước khác, cha mẹ tôi cũng tham gia kháng chiến chống Pháp. Khi tôi lớn lên, tôi lại tận mắt chứng kiến các nông dân đã bị các quan chức địa phương của chính quyền Sài Gòn áp bức ra sao, và họ đã phải chịu những cuộc oanh tạc tàn khốc của quân Pháp như thế nào. Tôi đã học trong lịch sử sự chiến đấukiên cường của dân tộc chống lại ách đô hộ ngàn năm của giặc Tàu rồi đến các cuộc kháng chiến gian khổ chống ách thống trị trăm năm của giặc Tây. Với hành trang đó, tôi và các bạn đồng lứa đã lớn lên cũng với nỗi căm thù sự can thiệp của ngoại bang.Vietnam, A portrait of its people at war Nguồn: media.us.macmillan. com------------ --------- --------- --------- --------- --------- -Khi các sinh viên Sài Gòn bầu tôi vào chức Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Sinh viên Sài Gòn vào năm 1969 và 1970, tôi đã tham gia vào các hoạt động đòi hoà bình khác nhau, đã lãnh đạo sinh viên biểu tình chống chế độ Thiệu và sự dính líu của người Mỹ. Tôi đã ấn hành nguyệt san Tự Quyết, và đã làm một cuộc du hành đến California để thuyết trình về các hoạt động phản chiến ở Đại học Berkeley và Stanford vào tháng 1/1971. Vì các hoạt động đó, tôi đã bị bắt và tống giam nhiều lần dưới chế độ Thiệu.Vào thời điểm ấy, tôi tin rằng tôi đang thi hành sứ mệnh hoà bình và độc lập cho đất nước tôi. Tôi cũng tin tưởng vào đề cương của MTDTGPMN, một tổ chức đang lãnh đạo cuộc kháng chiến cách mạng ở miền Nam Việt Nam. Tôi căm ghét các nhà lãnh đạo Sài Gòn, các người như Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, Trung tướng Đặng Văn Quang ‒ những cựu chiến binh trong quân đội viễn chinh Pháp. Đó là những người được Pháp tuyển mộ vào năm 1940 để giúp chúng tiêu diệt các phần tử kháng chiến Việt Nam. Theo thời gian, họ đã vươn lên thành những nhà lãnh đạo, nhưng sự lãnh đạo của họ không thu được lòng dân. Và chính vì không có được ủng hộ của người dân, nên họ phải dựa vào các thế lực nước ngoài.Với tư cách một lãnh tụ sinh viên, tôi cho rằng tôi phải hoàn thành khát vọng của người dân Việt Nam về dân chủ, tự do và hoà bình. Một cách ngây thơ, tôi nghĩ rằng chế độ Hà Nội ít nhất cũng là người Việt Nam, trong khi người Mỹ chỉ là những kẻ xâm lược giống như người Pháp trước đó. Như nhiều người trong phong trào đối lập tại miền Nam lúc ấy, tôi tin rằng dù sao các đồng bào cộng sản miền Bắc cũng sẽ dễ có sự tương nhượng và dễ nói chuyện hơn là người Mỹ. Hơn thế nữa, tôi lại thấy choáng ngợp trước các thành tích hy sinh và tận tâm của các lãnh tụ cộng sản. Chẳng hạn, Tôn Đức Thắng, Phó Chủ tịch Bắc Việt, đã bị nhốt đến 17 năm trong nhà tù của Pháp. Tôi cũng bị hớp hồn trước bản đề cương chính trị được MTDTGPMN áp dụng, bao gồm chính sách hoà giải dân tộc, không hề có sự trả thù, và chính sách ngoại giao phi liên kết. Cuối cùng, tôi đãchịu ảnh hưởng của các phong trào tiến bộ khắp thế giới và các nhà đại trí thức phương Tây lúc ấy. Tôi đã có cảm tưởng rằng các lãnh đạo phong trào phản chiến ở Mỹ cuối thập niên 60 đầu 70 đã chia sẻ cùng niềm tin với tôi.Niềm tin ấy càng được củng cố hơn sau khi Hiệp định Paris ký kết vào năm 1973 và sự sụp đổ của Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa năm sau đó. Khi cuộc giải phóng đã hoàn tất, tôi chính là người đã khuyên bảo bạn bè và thân nhân không nên di tản. “Tại sao các người lại bỏ đi?” tôi hỏi, “Tại sao các người lại sợ cộng sản?” Tôi chấp nhân một viễn cảnh khó khăn trong thời gian tái thiết quê hương nên đã quyết định ở lại và tiếp tục làm việc với tư cách một quản trị viên một chi nhánh của Ngân hàng Saì Gòn, nơi tôi đã làm việc hơn 4 năm, và là nơi tôi viết các báo cáo mật về tình hình kinh tế Nam Việt Nam cho MTDTGPMN (Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi đã không bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa động viên vì là con một trong gia đình. Tôicũng không gia nhập Việt Cộng vì MTDTGPMN nghĩ rằng tôi sẽ phục vụ tốt hơn trong vai trò báo cáo tài chính từ ngân hàng). Sau khi Sài Gòn thất thủ được nhiều ngày, MTDTGPMN thành lập chính quyền Cách mạng Lâm thời, mời tôi gia nhập một uỷ ban tài chính, một nhóm bao gồm các trí thức có nhiệm vụ cố vấn cho chính quyền về các vấn đề kinh tế. Tôi hăng hái tham gia, chấp nhận mức cắt giảm lương đến 90%. Nhiệm vụ đầu tiên của tôi là giúp thảo ra một kế hoạch nhằm tịch thu tất cả các tài sản tư nhân ở miền Nam Việt Nam. Tôi cảm thấy sốc, và đề nghị chỉ nên thi hành điều đó với tài sản những người từng cộng tác với chính quyền cũ và với những người đã làm giàu nhờ chiến tranh, và sẽ phân phối lại theo một cách thức nào đó cho các người nghèo và nạn nhân chiến tranh không phân biệt thuộc phe nào. Đề nghị của tôi bị bác bỏ, dĩ nhiên. Tôi đã quá ngây thơ khi nghĩ rằng các quan chức địa phương đã sai lầm, rằng họ đã hiểu lầm ý định tốt của các lãnh đạo đảng cộng sản. Tôi đã tranh đấu với họ nhiều lần, vì hoàn toàn đặt niềm tin vào các tuyên bố của Hà Nội trước đây rằng “tình hình ở Nam Việt Nam rất đặc biệt và rất khác với tình hình miền Bắc Việt Nam”. Chỉ vài tháng trước khi Sài Gòn thất thủ, Lê Duẩn, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản, đã tuyên bố “miền Nam cần có chính sách riêng của nó”. Sau cùng, tôi không thể tuân theo lệnh sắp đặt các cuộc tịch thu tài sản tư hữu, một kế hoạch vẫn đang được xúc tiến. Một kế hoạch như vậy không hề đáp ứng nguyện vọng của người dân Nam Việt Nam, và nó đi ngược với lương tâm của tôi. Tôi quyết định từchức. Nhưng không ai được phép từ chức trong chế độ cộng sản. Một ngụ ý bất tuân lệnh sẽ không được người cộng sản tha thứ. Khi tôi đưa đơn từ chức, người lãnh đạo uỷ ban tài chính đã cảnh cáo rằng hành động của tôi “sẽ bị xem là sự tuyên truyền nhằm kích động quần chúng, và rằng chúng ta không bao giờ cho phép điều đó xảy ra”. Nhiều ngày sau đó, trong khi tôi đang tham dự một buổi hoà nhạc tại Nhà Hát Lớn (trước đây là trụ sở Quốc hội Việt Nam Cộng hòa, nơi mà tôi đã lãnh đạo các sinh viên chiếm giữ nhiều lần trước đây dưới chế độ Thiệu), tôi bị bắt. Không có sự truy tố cũng như không có lý do nào được đưa ra. Sau khi Sài Gòn thất thủ, rất nhiều nhà trí thức tiến bộ cũng như nhiều nhà lãnh đạo các phong trào phản chiến trước đây đều tin rằng chính quyền mới sẽ đem lạidân chủ và tự do thay cho sự thống trị của ngoại bang. Họ tin rằng chính quyền mới sẽ đeo đuổi các quyền lợi tốt nhất cho nhân dân. Sẽ giữ đúng lời hứa của chính họ về chính sách hoà giải dân tộc, không có sự trả thù. Phủi sạch những hứa hẹn, nhà cầmn quyền cộng sản đã bắt giam hàng trăm ngàn người ‒ không chỉ những người đã cộng tác với chế độ Thiệu mà cả những người khác, bao gồm các vị lãnh đạo tôn giáo và các cựu thành viên MTDTGPMN. Việt Nam ngày nay trở thành một quốc gia không có luật pháp nào khác hơn là sự điều hành độc đoán của những kẻ đang nắm quyền lực. Không hề có cái gọi là dân quyền. Bất cứ ai cũng đều có thể bị bắt mà không cần truy tố cũng như không cần xét xử. Và khi đã ở trong tù, các tù nhân đều được giáo dục rằng chính các thái độ, hành vi và sự “cải tạo tốt” là yếu tổ chủ chốt đễ xét xem liệu họ có thể được trả tự do hay không- không cần biết họ đã phạm tội gì. Vì vậy, các tù nhân thường là phải tuân lệnh tuyệt đối các quản giáo để hy vọng được thả sớm. Trong thực tế, họ không bao giờ biết được khi nào họ sẽ được thả – hay có thể bản án của họ sẽ được kéo dài thêm. Ở đất nước Việt Nam ngày nay có bao nhiêutù chính trị? Không ai có thể biết được con số chính xác. Bộ Ngoại giao Mỹ cho rằng có khoảng từ 150.000 đến 200.000 chính trị phạm, người Việt tỵ nạn thì ước đoán con số đó là 1 triệu. Hoàng Hữu Quýnh, một trí thức tốt nghiệp Đại học Mạc Tư Khoa, hiệu trưởng một trường kỹ thuật tại Tp. HCM (trước đây là Sài Gòn), vừa mới bỏ trốn trong một chuyến đi tham quan các nước Châu Âu do nhà nước bảo trợ. Ông đã nói với báo chí Pháp, “Hiện nay ở Việt Nam có ít nhất 700.000 tù nhân”. Một nhân chứng khác, Nguyễn Công Hoan, một cựu thành viên trong Quốc hội thống nhất được bầu vào năm 1976, đã vượt biển thành công vào năm 1978, đã tuyên bố chính bản thân ông được biết về “300 trường hợp xử tử” chỉ nội trong tỉnh Phú Yên của ông. Vào năm 1977, các quan chức Hà Nội khăng khăng rằng chỉ có 50.000 người bị bắt giữ vì có những hành vi gây nguy hại cho an ninh quốc gia. Nhưng trong khi đó, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã tuyên bố trên tờ Paris Match số ra ngày 22/9/1978, “Trong vòng 3 năm qua, tôi đã trả tự do cho hơn 1 triệu tù nhân từ các trại cải tạo.” Người ta có thể tự hỏi làm thế nào có thể thả 1 triệu tù nhân trong khi chỉ bắt giữ có 50.000!Tôi bị tống vào một xà lim 1m x 2m, tay trái bị xiềng vào chân phải và tay phải xiềng vào chân trái. Thứ ăn của tôi là cơm trộn với cát. Khi tôi khiếu nại về cát trong cơm, các quản giáo đã giải thích rằng cát được cho vào cơm để nhắc nhở các tù nhân về các tội ác mà họ đã phạm. Tôi đã khám phá ra khi đổ nước vào tô cơm có thể tách cát ra khỏi cơm và lắng nó xuống đáy. Nhưng phần nước chỉ có 1lít cho một ngày dùng cho uống và tắm rửa, do vậy tôi phải dùng nó hết sức tiết kiệm.Sau 2 tháng biệt giam, tôi được chuyển ra phòng giam lớn, một phòng giam 5m x 9m, tuỳ theo thời điểm được nhồi nhét từ 40 đến 100 tù nhân. Nơi đây chúng tôi phải thay phiên để được nằm xuống ngủ, và phần lớn các tù nhân trẻ và còn mạnh khoẻ phải chịu ngủ ngồi. Trong cái nóng hầm hập, chúng tôi cũng phải thay phiên để được hứng vài cơn gió mát của khí trời từ một lỗ thông gió chút xíu và cũng là cửa sổ duy nhất của phòng giam. Mỗi ngày tôi đều chứng kiến các bạn tù chết dưới chân tôi.Vào tháng 3, 1976, khi một nhóm phóng viên phương Tây đến viếng thăm nhà tù của tôi, các quản giáo đà lùa các tù nhân đi và thay vào đó là các bộ đội miền Bắc. Trước cửa nhà tù, không còn thấy các hàng rào kẻm gai, không có tháp canh, chỉ có vài công an và một tấm bảng lớn chăng ngang cửa chính đề câu khẩu hiệu nổi tiếng của Hồ Chí Minh, “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Chỉ có những người đang bị giam và các quản giáo là biết cái gì thực sự ẩn giấu đằng sau những dấu hiệu đó. Và mọi tù nhân đều biết rằng nếu họ bị tình nghi đào thoát thì người bạn đồng tù và người thân của họ tại nhà sẽ bị trừng phạt thay vì chính họ.Chúng ta sẽ không bao giờ biết được con số thực sự của những tù nhân bỏ mạng, nhưng chúng ta đã biết cái chết của nhiều tù nhân nổi tiếng, những người trong quá khứ chưa bao giờ cộng tác với Chính quyền Thiệu hay với người Mỹ: chẳng hạn, Thích Thiện Minh, nhà chiến lược cho các phong trào tranh đấu hoà bình của Phật tử tại Sài Gòn, một nhà đấu tranh phản chiến đã từng bị kết án 10 năm dưới chế độ Thiệu, sau cùng bị buộc phải thả ông vì sự phản đối mạnh mẽ của nhân dân Việt Nam và các nhà hoạt động phản chiến khắp thế giới. Đại Đức Thiện Minh đã chết trong tù 6 tháng sau khi ông bị bắt vào năm 1979. Một cái chết âm thầm khác là của Luật sư Trần Văn Tuyên, một lãnh tụ khối đối lập tại Quốc hội dưới thời Tổngthống Thiệu. Nhà hoạt động nổi tiếng này đã chết dưới bàn tay cộng sản vào năm 1976, mặc dù vào cuối tháng 4/1977, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã tuyên bố với các phóng viên Pháp rằng ông vẫn còn sống mạnh khoẻ trong trại cải tạo. Một trong những tổn thất to lớn nhất là cái chết của triết gia nổi tiếng Việt Nam Hồ Hữu Tường. Tường, bạn đồng môn với Jean Paul Sartre thập niên 30 tại Paris, có lẽ là nhà trí thức hàng đầu tại Nam Việt Nam. Ông chết tại nhà tù Hàm Tân vào ngày 26/06/1980. Đây là những người bị bắt, cùng với rất nhiều những người khác trong nhóm những người Nam Việt Nam ưu tú và được trọng nể nhất, với mục đích ngăn ngừa bất cứ một sự chống đối nào với chế độ cộng sản.Một số người Mỹ ủng hộ Hà Nội đã làm lơ hoặc biện minh cho những cái chết này, như họ đã từng làm với vô số các thảm kịch đã xảy ra từ khi Việt Nam Cộng hòa sụp đổ năm 1975. Rất có thể họ sẽ vẫn tiếp tục giữ im lặng nhằm lãng tránh một sự thật về Việt Nam nếu tiết lộ sẽ mang lại một nỗi vỡ mộng sâu xa đối với họ. Cay đắng thay nếu tự do và dân chủ vẫn là mục tiêu xứng đáng để chiến đấu tại Philippines, tại Chile, tại Nam Hàn hay tại Nam Phi, thì nó lại không xứng để bảo vệ tại các nước cộng sản như Việt Nam. Mọi người đều nhớ đến vô số các cuộc biểu tình chống đối Mỹ can thiệp vào Việt Nam và chống lại các tội ác chiến tranh của chế độ Thiệu. Nhưng một số trong các người đã từng một thời nhiệt thành với các nguyên tắc dân chủ và nhân quyền thì nay lại tỏ ra hết sức lãnh đạm khi cũng chính các nguyên tắc ấy đang bị chà đạp tại nước Việt Nam cộng sản. Chẳng hạn, một nhà hoạt động phản chiến, William Kunstler, vào tháng 5, 1979 đã từ chối ký vào một bức thư ngỏ gởi nhà nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, trong đó có chữ ký của nhiều nhà hoạt động phản chiến khác, kể cả Joan Baez, phản đối sự vi phạm nhân quyền của chế độ Hà Nội. Kunstler nói “Tôi không tin vào sự chỉ trích công khai một chính quyền xã hội chủnghĩa, dù đó là sự vi phạm nhân quyền”, và “toàn bộ chiến dịch này của Baez có thể là một âm mưu của CIA”. Câu nói này đã làm tôi nhớ lại lập luận mà chế độ Thiệu thường đưa ra làm lý do đàn áp các người đối lập, “Tất cả các hoạt động phản chiến và đối lập đều do cộng sản giựt dây”.Còn có rất nhiều những huyền thoại về chế độ hiện hành tại Việt Nam mà người dân rất nên được soi sáng. Nhiều người cho rằng Hồ Chí Minh đầu tiên là một người quốc gia và rằng đảng cộng sản Việt Nam trước đây cũng như hiện nay đều độc lập với Liên Sô. Tôi cũng là người tin như vậy trước khi cộng sản chiếm miền Nam.Nhưng rồi chân dung các nhà lãnh đạo Soviet nay được treo đầy các chung cư, trường học và các công sở trên khắp nước “Việt Nam độc lập”. Ngược lại, người ta chưa từng thấy chân dung bất cứ một nhà lãnh đạo Mỹ nào được treo ngay cả trong chế độ được gọi là bù nhìn của Tổng thống Thiệu. Mức độ lệ thuộc của chính quyền hiện hành vào các ông chủ Soviet được thể hiện rõ ràng nhất do thi sĩ nổi tiếngcủa cộng sản Việt Nam, Tố Hữu, thành viên Bộ Chính Trị và là Trưởng Ban Văn hoá Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng ta có cơ hội được nghe người thi sĩ cao cấp này than khóc nhân cái chết của Stalin:‘Xít-ta-lin! Xít-ta-lin, Yêu biết mấy, nghe con tập nói Tiếng đầu lòng, con gọi Xít-ta-lin Ông Xít-ta-lin ôi. Ông Xít-ta-lin ôi, Hỡi ôi ông mất, đất trời có không? Thương cha, thương mẹ, thương chồng Thương mình thương một, thương ông thương mười.’ (Đời đời nhớ ông - Tố Hữu).Thật là khó mà tưởng tượng những vần thơ như vậy lại được viết tại Việt Nam, một đất nước mang nặng truyền thống gia đình và bổn phận với con cái. Và bài thơ ấy vẫn đang chiếm một vị trí trang trọng trong ấn bản về thơ ca Việt Nam hiện đại được xuất bản tại Hà Nội.Hơn thế nữa, Lê Duẩn , Tổng Bí thư đảng cộng sản Việt Nam, trong một bài diễn văn chính trị đọc trước Hội nghị khoáng đại của Quốc hội thống nhất năm 1976, “Cuộc cách mạng Việt Nam là để thực thi bổn phận và các cam kết quốc tế”, và vì vậy, trong lời lẽ của bản luận cương của đảng năm 1971 đã viết, “dưới sự lãnh đạo của Liên bang Soviet”. Sự vinh quang của một xã hội Soviet là mục tiêu chính yếu trong sách lược của đảng cộng sản Việt Nam.Sau khi Sài Gòn thất thủ, nhà nước đã ngay tức khắc đóng cửa toàn bộ các nhà sách và rạp hát. Tất cả các sách vở được xuất bản trong chế độ cũ đều bị tịch thu hay đốt bỏ. Các tác phẩm văn hoá thuần tuý cũng không ngoại lệ, kể cả các bản dịch tác phẩm của Jean Paul Sartre, Albert Camus và Dale Carnegie. Ngay cả tác phẩm Cuốn Theo Chiều Gió của Margaret Mitchell cũng nằm trong danh sách văn chương đồi truỵ. Nhà nước thay thế những tác phẩm ấy bằng những tác phẩm văn chương nhằm nhồi sọ trẻ em và người lớn với ý tưởng chủ đạo, “Liên bang Soviet là thiên đường của xã hội chủ nghĩa”.Một lập luận khác của các nhà biện luận phương Tây có liên quan đến vấn đề tự do tôn giáo tại Việt Nam. Một điều khoản của bản hiến pháp mới, được đưa ra vào năm nay, có nêu rằng “nhà nước tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và quyền tự do không tín ngưỡng”. Về điều khoản này, Lê Duẩn đã nhiều lần tuyên bố, “Chế độ của chúng ta triệu lần dân chủ hơn bất cứ chế độ nào trên thế giới”. Ngược lại, trên thực tế, đã trình bày rõ sự thật qua một sự kiện mang tính báng bổ một ngôi chùa Phật giáo, trong vụ đó một người đàn bà khoả thân theo lệnh nhà nước đã tiến vào ngôi chùa trong giờ hành lễ. Khi Hoà thượng Thích Mẫn Giác, một nhà lãnh đạo Phật giáo nổi tiếng, lên tiếng phản đối, nhà nước đã nhân vụ này lên án Phật giáo là kẻ thù của dân chủ, chính xác là vi phạm quyền tự do không tín ngưỡng. Hoà Thượng Thích Mẫn Giác, người đóng vai trò là cầu nối giữa Phật giáo và nhà nước cộng sản, đã phải vượt thoát Việt Nam bằng thuyền vào năm 1977 và nay đang định cư tại Los Angeles. Tất cả những ai từng ủng hộ MTDTGPMN trong cuộc chiến đấu chống chế độ Sài Gòn đều có thể cảm nhận sự bị phản bội và nỗi tuyệtvọng của họ. Khi Harrison Salisbury của tờ New York Times viếng thăm Hà Nội vào tháng 12, 1966, các nhà lãnh đạo Hà Nội đã nói với ông, “Sách lược tranh đấu của miền Nam được chỉ đạo từ miền Nam chứ không phải từ miền Bắc”. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói với Salisbury, “Không có ai ở miền Bắc có ý tưởng ngu ngốc, tội ác” rằng miền Bắc muốn thôn tính miền Nam.Vậy mà trong diễn văn đọc nhân lễ mừng chiến thắng vào ngày 19/05/1975, Lê Duẩn đã nói, “Đảng của chúng ta là một và là người lãnh đạo duy nhất đã tổ chức, kiểm soát và điều hành toàn bộ cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam ngay từ ngày đầu của cuộc cách mạng”. Trong bản báo cáo chính trị đọc trước Quốc hội hợp nhất tại Hà Nội vào ngày 26/05/1976, Lê Duẩn nói, “Nhiệm vụ cách mạng chiến lược của đất nước ta trong thời kỳ mới là thống nhất tổ quốc và đưa toàn bộ đất nước tiến nhanh, tiến mạnh và tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, lên chủ nghĩa cộng sản”.Vào năm 1976, Chính phủ Cách mạng Lâm thời do MTTGPMN thành lập đã bị xoá sổ, và toàn thể 2 miền Nam Bắc Việt Nam đều nằm dưới sự cai trị của những người cộng sản. Ngày nay,trong số 17 thành viên Bộ Chính trị và 134 Uỷ viên Trung ương thuộc Đảng Cộng sản Việt Nam, không hề có người nào thuộc MTDTGPMN trước kia. Ngay cả Nguyễn Hữu Thọ, cựu Chủ tịch MT, chỉ nắm chức vụ Chủ tịch nhà nước, một chức vụ mang tính nghi lễ với nhiệm vụ đón tiếp khách nước ngoài và tham dự các buổi lễ lạc. Nhưng ngay cả vị trí đó rồi sẽ bị xoá bỏ khi bàn hiến pháp mới ra đời.Trương Như TảngNguồn: A Vietcong Memoir------------ --------- --------- --------- --------- --------- -Hãy nghe lời của ông Trương Như Tảng, một những người sáng lập MT, cựu Bộ trưởng Tư pháp của Chính phủ Cách mạng Lâm thời, vừa mới đây cũng là một thuyền nhân vượt biển. Ông Tảng trốn thoát khỏi Việt Nam vào tháng 12, 1979 và hiện nay sống tại Paris. Ông đã nói với các phóng viên về kinh nghiệm của ông trong cuộc họp báo gần đây vào tháng 5, 1980. 12 năm trước, ông nói, khi ông bị bỏ tù dưới chế độ Thiệu vì các hoạt động thân cộng của mình, cha của ông đã đến thăm ông. Ông cụ đã hỏi ông, “Tại sao con lại dứt bỏ tất cả ‒ một công việc tốt, một gia đình sung túc ‒ để gia nhập cộng sản? Con không biết rằng cộng sản rồi sẽ phản bội con và sẽ thủ tiêu con, và khi con thật sự hiểu ra thì đã quá muộn?” Tảng, một nhà tríthức, đã trả lời cha “Tốt hơn là cha nên im lặng và chấp nhận sự hy sinh một trong các đứa con của cha cho nền dân chủ và độc lập của đất nước”.Sau cuộc Tổng Công kích Tết Mậu thân 1968, Tảng được trao đổi với 3 Đại tá tù binh chiến tranh Mỹ, và sau đó ông biến mất vào rừng với MT. Ông đã viếng thăm nhiều nước cộng sản và các nước thế giới thứ 3 để kêu gọi sự ủng hộ dành cho MT trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Ông đã nói trong cuộc họp báo. “Tôi đã biết MT là một tổ chức do cộng sản chi phối và tôi đã quá ngây thơ khi cho rằng Hồ Chí Minh và Đảng của ông ta sẽ dặt quyền lợi quốc gia lên trên ý thức hệ và đặt quyền lợi nhân dân Việt Nam lên trên quyền lợi của đảng. Nhưng nhân dân Việt Nam và tôi đã sai lầm”.Trương Như Tảng đã kể về kinh nghiệm của ông về phương sách các tầng lớp lãnh đạo cộng sản cai trị, “Người cộng sản là chuyên gia về nghệ thuật chiêu dụ và có thể làm bất cứ cách nào để dụ bạn về phe họ một khi họ chưa nắm được chính quyền. Nhưng một khi đã nắm được quyền lực lập tức họ trở thành sắt máu và tàn nhẫn”. Ông tóm tắt tình hình tại Việt Nam hiện nay, “Gia đình ly tán, xã hội phân ly, ngay cả đảng cũng chia rẽ”.Bây giờ nhìn lại cuộc chiến Việt Nam, tôi chỉ cảm thấy buồn rầu cho sự ngây thơ của mình khi tin rằng cộng sản là những người cách mạng và xứng đáng được ủng hộ. Trên thực tế, họ đã phản bội nhân dân Việt Nam và làm thất vọng các phong trào tiến bộ trên toàn thế giới. Tôi nhận lãnh trách nhiệm về những thảm kịch xảy ra cho đồng bào của tôi. Và nay tôi chỉ còn cách đóng vai nhân chứng cho sự thật này hầu các người đã từng ủng hộ Việt Cộng trước kia có thể cùng chia sẻ trách nhiệm với tôi.Khi tôi còn trong tù, Mai Chí Thọ, một Uỷ viên Trung ương đảng, đã nói chuyện trước một nhóm tù nhân chính trị chọn lọc. Ông ta đã nói với chúng tôi, “Hồ Chí Minh có thể là một quỷ dữ, Nixon có thể là một vĩ nhân. Người Mỹ có thể có chính nghĩa, chúng ta có thể không có chính nghĩa. Nhưng chúng ta đã chiến thắng và người Mỹ đã bị đánh bại bởi vì chúng ta đã thuyết phục được người dân rằng Hồ Chí Minh là một vĩ nhân, Nixon là một tên sát nhân và người Mỹ là những kẻ xâm lược”. Ông ta đã kết luận, “Yếu tổ chủ chốt là làm thế nào kiểm soát người dân và ý tưởng của họ. Chỉ có chủ nghĩa Mác Lê mới có thể làm được như vậy. Không ai trong các anh đã từng biết đến một sự kháng cự nào đối với chế độ cộng sản, bởivậy không nên nghĩ đến điều đó nữa. Hãy quên chuyện đó đi? Giữa các anh ‒ những nhà trí thức ưu tú ‒ và tôi, tôi đã nói với các anh sự thật”.Và quả là ông ta đã nói sự thật. Từ năm 1978, khi cộng sản Việt Nam chiếm đóng Lào, xâm lấn Kampuchea và tấn công Thailand, trong khi đó Liên Sô xâm lăng Afghanistan. Trong mỗi một sự kiện đó, người cộng sản vẫn tự phác hoạ chân dung của họ một cách ly kỳ, là những người giải phóng, người cứu rỗi, người bảo vệ chống lại các lực lượng xâm lăng nước ngoài. Và trong mỗi sự kiện, dư luận thế giới vẫn tương đối êm dịu.Nhưng ở Việt Nam, người dân vẫn thường nhắc nhau, “Đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn những gì cộng sản làm”. Một trong những người Nam Việt Nam theo cộng sản, ông Nguyễn Văn Tăng, bị tù 15 năm dưới thời Pháp, 8 năm dưới thời Diệm, 6 năm dưới thời Thiệu, và hiện nay vẫn còn đang nằm tù, đã nói với tôi, “Muốn hiểu người cộng sản, trước nhất phải sống với cộng sản”. Vào một buổi chiểu mưa rơi tại nhà tù Lê Văn Duyệt, Sài Gòn, ông đã nói với tôi, 'Ước mơ của tôi bây giờ không phải là được thả ra, không phải là được gặp lại gia đình. Tôi chỉ mơ được trở lại nhà tù của Pháp 30 năm trước”. Đó là giấc mơ của một người đàn ông 60 tuổi đã gởi trọn tuổi thanh xuân vào việc ra vào nhà tù để chiến đấu chotự do và độc lập của đất nước. Giờ này, có lẽ ông đã chết trong tù hay có thể đã bị nhà nước của nhân dân hành quyết.Ước mơ của nhân dân Việt Nam là một cuộc cách mạng thực sự, họ không muốn chủ nghĩa cộng sản. Mức độ đo lường sự chán ghét cộng sản là việc hàng ngàn người đã từ bỏ sự ràng buộc lịch sử của họ với đất mẹ. Dưới thời thực dân Pháp, trải qua bao năm dài chiến tranh, ngay cả trong thảm cảnh nạn đói năm 1945 có đến 2 triệu người chết đói, người Việt Nam vẫn không đành đoạn rời bỏ quê hương, mảnh đất có mồ mả ông cha. Các cuộc đổ xô ra đi tỵ nạn là bằng chứng trực tiếp của sự kinh hoàng với chế độ hiện nay. Hãy nghe lời một người tỵ nạn khác, Nguyễn Công Hoan, cựu thành viên MT và là thành viên Quốc hội thống nhất được bầu năm 1976, “Chế độ hiện nay là chế độ phi nhân và áp bức nhất mà nước Việt Nam từngđược biết đến”. Ông Hoan trốn thoát bằng thuyền vào năm 1977, sau khi từ bỏ chức vụ của ông trong Quốc hội cộng sản. “Quốc hội”, ông tuyên bố, “là một bù nhìn, các thành viên ở đó chỉ biết nói dạ, không bao giờ biết nói không”.Giữa các thuyền nhân sống sót, bao gồm cả những người bị hải tặc hảm hiếp và những người chịu nhiều cực nhục trong các trại tỵ nạn, không hề có người nào hối tiếc đã tìm cách trốn khỏi chế độ hiện nay. Tôi tuyệt đối tin rằng sự thật về Việt Nam sẽ dần dần hiện rõ. Nó có sẵn cho những ai muốn tìm hiểu về nó. Như Solzhenitsyn đã từng nói, “Sự thật cũng nặng nề như là thế giới vậy”. Và Việt Nam là một bài học về sự thật.------------ --------- --------- --------- --------- --------- -Từ: A Lament for Vietnam, The New York Times, March 29, 1981

Đứng giữa đời thường
Trần Khải

Ngày đăng: 3/30/2009
Không phải ai cũng sống vượt nổi đời thường, nhất là trong thời khủng hoảng tài chánh toàn cầu như hiện nay. Nghĩ như thế, mới hết lòng khâm phục những người hoạt động dân chủ ở quê nhà, khi vừa gìn giữ được trách nhiệm của một người trong gia đình và vừa dấn thân đòi hỏi thực hiện các ước mơ dân chủ cho toàn dân.Thí dụ, như trường hợp gần nhất, vừa xảy ra tại Sài Gòn. Phương Nam Đỗ Nam Hải, hôm 26/03/2009, vừa bị 20 công an các cấp thành, quận, phường xông vào nhà, tịch thu, như ông kể lại:“...họ để mặc tôi dưới phòng khách còn họ lên phòng, phá khóa. Căn phòng nhỏ xíu khoảng 10 mét vuông thế mà cả hàng chục người xông vào lục soát. Họ lục tung tất cả mọi đồ đạc, sách vở, các túi quần áo… Vật quan trọng hơn cả mà họ muốn tìm cho ra là máy vi tính và cục USB nhỏ bằng hai ngón tay để kết nối Internet. Sau khoảng 1 tiếng đồng hồ lục soát, họ đã lấy đi của tôi theo như biên bản kiểm kê tài sản gồm: 1 đầu máy vi tính CPU, 1 màn hình, 1 bàn phím, 1 chuột vi tính, 1 web cam, 1 tai nghe (headphone), 1 đầu đọc thẻ nhớ (memory stick reader), 2 ổ USB (flash disks), 1 điện thoại motorola màu đen, 1 cục modem để kết nối Internet.” (hết trích)Lý do, công an lấy cớ là thu tiền phạt “vi phạm hành chính,” nhưng thực ra, và ai cũng hiểu, là trong vài tuần qua, Đỗ Nam Hải nói chuyện trên đài phát thanh Chân Trời Mới về “nguy cơ rất lớn cho đất nước do nhà cầm quyền CSVN này gây ra khi cho Trung Quốc khai thác bauxite tại Tây Nguyên. Kế đến là tôi đã góp phần tham gia soạn thảo những bản văn như ‘Tuyên bố 9 điểm của Khối 8406’, hoặc ‘Tuyên bố của Khối 8406 về vấn đề bauxite tại Tây Nguyên’, v.v...” (hết trích)Đó là điển hình một trường hợp. Trước đó vài ngày, văn phòng Luật Sư Pháp Quyền của LS Lê Trần Luật, người nhận biện hộ cho hồ sơ 8 giáo dân Thái Hà, bị đóng cửa không thời hạn, và như thế, ông không thể nào tiếp tục biện hộ cho các hồ sơ này.Chúng ta nơi hải ngoại không thể nào hình dung hết các gian nan của người trong nước, nhất là với các nhà hoạt động, cho dù là vì nhân quyền và pháp quyền, như LS Lê Trần Luật, hay là để đưa đất nước tới nền dân chủ đa nguyên đa đảng, như ông Đỗ Nam Hải. Một thời tuổi trẻ, chúng ta đọc truyện kiếm hiệp Kim Dung và theo dõi chuyện các cao thủ võ lâm đi nơi này nơi kia, hành hiệp giang hồ, và không hề thắc mắc rằng làm sao họ mưu sinh, và lấy tiền đâu để chi trả cho phòng trọ, bữa cơm. Các nhà hoạt động thời này cũng có các đau khổ đời thường như chúng ta. Thí dụ, như trường hợp LS Lê Trần Luật, ông phải nghĩ tới chuyện đi làm thuê cho văn phòng luật khác. Hay như trường hợp ông Đỗ Nam Hải, hoạt động có thể sẽ phải tê liệt vàituần lễ hay cả tháng, cho dù là có bạn bè thân hữu trao tặng cho máy vi tính mới, hay điện thoại mới... vì muốn nhờ anh lên tiếng liên tục giùm để gây ý thức về tình hình bô-xít Hán hóa Tây Nguyên, và muốn giúp nuôi lửa dân chủ.Thấy như thế, mới hiểu đời thường là cái gì có thể làm vướng bao nhiêu là chuyện. Đôi khi chúng ta lên các diễn đàn trên mạng, và bất chợt thấy nhiều người với các tên trên mạng rất là không quen thuộc, hô hào bạo động, kêu gọi toàn dân nổi dậy kéo ra phá sập Lăng Ba Đình, và vân vân. Chúng ta không biết những người kêu gọi bạo động là ai, và thực sự muốn gì. Bởi vì chính những người kêu gọi bạo động như thế, lại không hẹn một giờ, một ngày và một nơi cụ thể nào để tập họp, điểm danh xuất quân lên đường. Và chúng ta cũng không biết người hô hào bạo động đó đang ở Mỹ hay Anh, muốn rủ nhau lên chuyến bay nào về phi trường Nội Bài để ra giựt sập Lăng Ba Đình. Nhưng ngôn ngữ nghe có vẻ như không đời thường tí nào.Độc giả hãy hình dung rằng mình cũng là một người trong nước, đang đứng hay đang đi bộ trên phố Nguyễn Huệ, Sài Gòn, hay đang đi trên một lối vào Phố Cổ Hà Nội. Giữa dòng người đi lại, giữa dòng xe đông đúc, cả xe đạp, xe gắn máy, xe buýt, và xe hơi. Và nếu chúng ta muốn đấu tranh dân chủ, có thể nhìn thấy quanh quẩn vài công an thường phục đang bám sát. Đó là đời thường. Thấy như thế, mới biết khi xuất hiện để đấu tranh là cả một bước nhảy khổng lồ.Đó là chưa kể chuyện thế giới đang khủng hoảng, và các áp lực đang hiển hiện ngay chung quanh đời sống các nhà hoạt động dân chủ. Họ nhìn thấy nhiều trẻ em trong xóm phải bỏ học. Hoặc nhìn thấy trực tiếp, hoặc đọc trên mạng. Bản tin Bernama hôm 26/03/2009 viết rằng kể từ đầu niên học năm nay, có hơn 86.260 học sinh khắp VN bỏ học, theo phúc trình của Bộ Giáo Dục, trên tổng số 15,3 triệu học sinh toàn quốc. Trong đó, 30% lý do là vì quá nghèo. Thấy như thế trong xóm, đọc như thế trên mạng, người quốc nội và các nhà hoạt động quốc nội chắc chắn là nóng ruột hơn người hải ngoại nhiều. Bởi vì dễ dàng bước ra phố là thấy ngay các em bỏ học đang giúp ba mẹ, đi khắp các phố để bán vé số, thuốc lá, bánh trái...Tình hình kinh tế thê thảm tới mức, sức tăng cực kỳ thê thảm. Bản tin thông tấn Bloomberg hôm 27/03/2009 cho biết, kinh tế VN trong quý đầu năm nay tăng thấp nhất kể từ khi có các bản thống kê kinh tế: VN chỉ tăng 3.1% so với cùng thời kỳ năm trước, kém hơn phân nửa sức tăng 7.5% đã đạt trong cùng thời kỳ năm 2008. Sức tăng tệ hại nhất là 3.8% trong quý đầu năm 1999, năm đầu tiên có các con số kết toán theo tam cá nguyệt.Như thế, kinh tế trong khu xóm, trong các bạn hữu, và thậm chí tình hình tài chánh của các gia đình của các nhà hoạt động dân chủ cũng đều đi xuống. Mất đi một máy vi tính, là cũng một vấn đề. Mất cả một văn phòng luật, là nhiều lần thê thảm hơn bão lụt.Họ cũng là người đời thường. Các nhà hoạt động dân chủ không phi thân từ Sài Gòn ra Hà Nội chớp nhoáng như truyện võ hiệp Kim Dung. Họ cũng không hề nghĩ tới chuyện gửi thư cho Nông Đức Mạnh và Nguyễn Tấn Dũng để hẹn lên đỉnh núi Tản Viên mở hội đấu quyền tranh chức võ lâm minh chủ. May lắm, và cũng tài ba lắm, mới có trường hợp như Trần Khải Thanh Thủy ngồi giữa Hà Nội, hay Trần Thị Hồng Sương từ Cần Thơ, có khả năng “phóng chưởng” ngàn dặm xa, đưa văn chương ra hải ngoại để kêu gọi dân chủ.May mắn là khi những người hoạt động đứng giữa phố Sài Gòn, Hà Nội, giữa dòng người và xe đời thường, họ vẫn nuôi được ngọn lửa đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền bất kể là bị tịch thu kê biên tài sản, hay bị đóng cửa văn phòng luật. Khi dẫn xe gắn máy ra chạy nơi này nơi kia cho công việc, họ vẫn phải nghĩ tới chuyện kiếm tiền đổ xăng, và cũng lo lắng quan ngại khi thấy giá xăng đã tăng vọt lên. Nhỡ khi gặp xăng dỏm thì lại hỏng việc, nhăn nhó.Đó là đời thường, có những vất vả gian nan như thế, và may mắn là còn có những người hoạt động dân chủ như thế./-

NỖI ĐỚN ĐAU TRONG NGÀY TÀN CUỘC

TRƯƠNG THÀNH MINH
tka23 post


Vâng.! Chúng tôi thuộc Biệt đội 817 cuả Liên Đoàn 81 Biệt cách dù, một biệt đội tân lập dể nhằm đáp ứng nhu cầu chiến trường thật sôi động vào những ngày cuối cuả tháng tư đen.

NHẬN ĐƠN VỊ

Sau lễ ra trường vội vã tại căn cứ Long Thành, tôi và một số anh em khoá 28/29, những người trai trẻ khát khao gió mưa cùng nguy hiểm, đã chọn bộ đồ dù với chiếc nón xanh ngạo nghễ làm chiến y. Nêu ai hỏi tôi: "Cái gì làm mày chọn binh chủng oai hùng đó", tôi sẽ trả lời bằng hai câu thơ cảm khái của một nữ sinh ở chiến trường đẫm máu An Lộc:

An Lộc địa, sử lưu chiến tích,
Biệt Cách Dù vị quốc vong thân.

Tuổi trẻ là vậy đó: thèm khát chiến trường, sau gần bốn năm trui rèn gian khổ mong được thử lửa, thêm với bầu máu nóng của tuổi trẻ muốn bảo quốc an dân, chúng tôi đã xông pha vào trận chiến vói hành trang thật đầy đủ từ tinh thần, thể lực lẫn trí tuệ của một sĩ quan đa hiệu, và còn nữa: trên vai chúng tôi còn cả một truyền thống oai hùng của các bật đàn anh. Ôi ! Kể sao cho hết lòng tự tin, hăng say náo nức của ngày đầu tiên tôi được khóac lên mình bộ quân phục khét tiếng chiến trường ấỵ

Tôi và Xuân, một tay có dáng người cao/đen/đẹp trai của khóa 29, sau khi cùng anh em trình diện Trung tá Thông ở bộ Tư Lệnh Tiền Phương 2 Suối Máu, được phân phối ngay về Biệt Đội 817 do Đại úy L. chỉ huy, không một ngày giờ phép.

Tôi xin nói sơ qua về cách phối trí đơn vị và danh xưng trong liên đoàn một cách tóm lược vì sự hiểu biết hạn hẹp và cũng để bảo mật cho một đơn vị đặc biệt nàỵ Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn là Đại tá Huấn, hậu cứ của Liên Đoàn đóng ở An xương, Hóc Môn, có hai Bộ Tư Lệnh Tiền Phương đặc nhiệm cho từng vùng hoạt đông. Dưới quyền cuả Bộ Tư Lệnh Tiền Phương là những Biệt Độị. Biệt Đội có quân số của một đại đội, lúc nào cũng được bổ sung thật đầy đủ, và được chia ra làm 03 Trung Đội Xung Kích, một Trung Đội Thám Kích và một Trung Đội Súng Nặng. Sau đó được chia thành Toán và Tổ. Khi hành quân, các trung đội xung kích thường đánh trực diện và trung đội thám kích được phân phối thành 06 toán để nhảy thăm dò, đột kích, tìm diệt, thu thập tin tức, hay hoa nở trong lòng địch. Biệt Đội được yểm trợ đặc biệt như một Tiểu Đoàn khi hành quân.

Đại Úy L. là một người thật dày dạn và bình tĩnh. Sau khi chào trình diện, ông chỉ nói vỏn vẹn: "Chào hai anh" rồi lặng yên nhìn hai đứa tôi như dò xét khả năng, nhưng chúng tôi như một cặp gà nòi ế độ, đứng lặng yên chờ nhận nhiệm vụ, không chút bồn chồn, dù trong lòng có chút băn khoăn.

Sau khi yên lặng soi vảy và xem giò cẳng, Đại Úy L. từ từ nói: "Biệt Đội cần một Trung Đội Trưởng súng nặng và một Trưởng toán Thám Kích, hai anh chọn cái nào?". Xuân/29 e dè nhìn qua tôi, bắt gặp cái nhìn của Xuân tôi hiểu rằng "em muốn nhường anh". Tôi không ngần ngại, bước lên một bước, đưa tay lên chào và dõng dạc nói: "Tôi nhận Trưởng toán Thám Kích". Quả thật cái gì đã in sâu trong tôi: Truyền Thống/ Tình Anh Em ? Em nhường Anh và Anh gánh vác hiểm nguy cho Em...và cùng lúc đó trong đầu tôi thoáng qua hình ảnh người tôi yêu với đôi mắt đợi chờ sâu thẳm.

Sau thủ tục giấy tờ và giới thiệu sơ qua về đơn vị do một Sĩ quan khác đảm nhiệm, hai đứa tôi được đi ăn bữa tối đầu tiên của đời lính thật sự trong căn lều lớn có những lớp bao cát dày che chở chung quanh.

Trên đường đi, Xuân lo ngại hỏi tôi: "Làm sao Niên trưởng, tôi quên hết rồi, Niên trưởng chỉ tôi với." - Tôi trấn an Xuân: "ông đừng lo, chỉ cần ông định điểm đứng và chấm tọa độ cho chính xác là đủ, tụi nó sẽ làm hết cho ông." Xuân vẫn còn lo ngại nói tiếp: "Tối nay tôi qua hỏi thêm Niên trưởng vài chuyện". Tôi gật đầu và sụyt khẽ với Xuân khi có vài người lính đi lại gần. Trong đầu tôi lúc đó cũng mang nặng nỗi lo không kém : làm sao để thu phục được những người lính gan lì đã từng vào sinh ra tử này ?

Buổi tối hẹn với Xuân không bao giờ đến, vì sau bữa cơm chiều, chúng tôi đã nhận được lệnh hành quân cấp tốc vào sáng sớm ngày mai.

VÀO VÙNG TRÁCH NHIỆM.

Biệt đội chúng tôi được chuyển vận về sân vận động ở bên hông bộ Tổng Tham Mưu đúng vào ngày 23 tháng tư của năm định mệnh 1975.

Trên đường về Sài gòn, ngang qua đại lộ Trương minh Giảng, chúng tôi đã nhìn thấy những căn cứ phòng thủ được vội vàng thiết lập đọc hai bên đường, nhưng Sài Gòn vẫn còn ngơ ngác, chưa sẵn sàng cho một cuộc phòng thủ qui mô rộng lớn trong chiến tranh. Dân chúng hốt hoảng, sợ VC, ủng hộ quân đội Quốc gia, nhưng họ vẫn xem cuộc chiến chống lại VC là của Quân Đội VNCH, người dân chỉ đóng vai trò như một cổ động viên trong một trận tranh tài thể thao không hơn không kém. Những căn cứ phòng thủ được thiết lập lẻ loi trơ trọi, không kết hợp đươc với địa hình bao quát chung quanh, chưa thiết lập được sự liên kết chặt chẽ cần thiết giữa dân và quân cũng như giữa những đơn vị chính qui và địa phương cho một phòng tuyến liên hợp cần thiết khi chiến tranh đã đi vào thành phố.

Nhìn những lô cốt bằng bao cát nằm lẻ loi trơ trọi hai bên xa lộ, quan sát những tòa nhà cao ốc chung quanh không một sự phòng thủ thích nghi, tôi lo ngại cho sự an toàn bền vững của nhưng chốt phòng thủ nàỵ Chúng là miếng mồi béo bở của một trái B40 hay cối 61 của một tóan đặc công vô danh nào đó len lỏi vào các toà cao ốc trước khi tank hay lưc lượng chính qui tiến chiếm trận địa.

Suy nghĩ bâng quơ một lúc, thì đoàn xe đã đến ngã tư Công Lý và quẹo phải dể chạy về hướng Bộ Tổng Tham Mưu Đến đây, chúng tôi phải chạy chậm lại vì dân hai bên đường di chuyển hỗn loạn khác thường, một số đã nhận ra chúng tôi và bắt đầu hô lên: "Biệt Cách Dù về! Biệt Cách Dù Về!" và làn sóng âm thanh ấy từ từ rộ lên nhịp nhàng lấn át cả mọi tiếng động ồn ào trong thành phố và rồi toả rộng ngân vang : Biệt Cách Dù về ! Biệt Cách dù về ! Biệt Cách Dù về! hoà với tiếng vỗ tay cách nhịp của các em thiếu niên, và trên khuôn mặt hốt hoảng của những người dân đã dấy lên ánh mắt loé sáng của niềm tin. Vâng! Chúng tôi, những người lính của chiến trường đẫm máu, đã về thành phố. Bất giác, tay tôi nắm chặt lại, nhìn gương mặt của những người lính vốn đã gan lì nay lại rạng ngời lên ánh mắt cương quyết. Trong lòng chúng tôi như cùng thầm nguyện lời hứa Kinh Kha.

Chúng tôi đổ quân xuống sân vận động quận Nhất, Sau khi bố trí canh gác phòng thủ, các sỉ quan trong biệt đội được lệnh họp và chúng tôi được tiếp xúc với một vị Trung Tá từ Bộ Tổng tham Mưu phái đến. Sau khi sơ lược ngắn gọn tình hình và nhiệm vụ, ông ta dõng dạc nói: "Các anh là đơn vị cuối cùng được cấp trên tin tưởng đưa về đây phòng thủ BTTM, và chúng tôi tin rằng đơn vị các anh không phụ lòng tin đó." - Sau lời phát biểu ngắn gọn hàm chứa ý nghĩa ủy thác, ông ta lên vội xe jeep về lại TTM, chúng tôi về đơn vị mình và tôi băt đầu làm quen với những người lính chai lỳ có gương mặt lạnh lùng u uất, những nét chỉ có trên những người đã từng về từ cõi chết. Quả thật họ là những người đáng gờm, những người lính lạnh lùng ít nói này sẽ gầm lên như hổ dữ khi chạm trán địch quân.

Chiều hôm đó, chúng tôi được cấp phát mỗi người một bộ quân phục của cán binh VC và được huấn luyện sơ qua về các hoạt động trà trộn trong lòng địch cùng cách xưng hô địch quân thường gọi nhau trong đơn vi... Mãi sau này, tôi mới biết cấp trên đã dự trù một kế hoạch rút vào rừng và tiếp tục chiến đấu nếu Sài gòn thất thủ. Sau đó, sĩ quan và các trưởng toán được phát một bản đồ quân sự của Sài gòn.

Chúng tôi đóng quân hai ngày đêm trong sân vận động để dưỡng quân, huấn luyện và cũng để các binh lính và sỉ quan làm quen với đơn vị mới. Sáng ngày 26/04, theo từng vùng trách nhiệm đã phân định sẵn, chúng tôi âm thầm rải quân trấn ngự các dịa điểm trọng yếu. Toán Thám Kích do tôi chỉ huy trấn đóng nhà thương Cơ Đốc lúc bấy giờ còn đang xây cất dở dang và một dãy cao ốc đối diện.

Đã được chỉ thị từ trước, tôi cho anh Trung sỉ toán phó chọn hai người lính có kinh nghiệm xử dụng M72, thiết lập hai tổ chống tank di động trải dài dọc theo bờ rào bằng gạch tab-lô (concrete block) năm`cạnh lề đường, một tổ khác nằm trên cao ốc đối diện, Tôi theo tổ thứ tư đóng ở nhà thương Cơ Đốc....

Phối tri đơn vị xong thì trời cũng đã đứng bóng, trong lòng tôi đầy ắp những lo âu và căng thẳng tột cùng: giặc vào Đô Thành dân chúng sẽ ra sao? Đánh giặc trong thành phố thật là điều mới mẻ trong kiến thức quân sự nhỏ bé của tôi. Từ cao ốc nhìn xuống nhũng dãy phố chung quanh, tôi tưởng như những dãy đồi trùng điệp với nhũng địa dạo bí hiểm bên trong. Trong đầu tôi loé lên kế hoạch xử dụng những toán trẻ đưa tin như Huân tước Baden Powell (ông tổ của Phong trào Hướng đạo) để chống lại sự xâm nhập bằng đặc công của đich. Tôi lịm người thiếp đi trên vai người hạ sĩ mang máy PRC25 với giấc mơ tuổi thơ của những trò chơi lớn. Những đêm mất ngủ lo âu đã kéo đôi mi tôi sụp xuống.

TÌNH QUÂN DÂN

Tôi giật mình tỉnh giấc vì những tiếng rè rè cuả PRC 25 từ Tổ 1 gọi lại: "Ka đây Hắc báo ! Nghe rõ trả lời." - Tôi đáp : 5/5. - "có 02 con tôm đang bò lại nghe rõ trả lời! - 5/5 - tôi đáp gọn nhưng trong lòng hoang mang với danh từ mới mẻ nàỵ Cua là tank của địch, én hay chuồn chuồn là các loại phi cơ, còn tôm.... tôi đảo mắt nhìn xuống mặt đường, hai chiếc xích lô đang đậu lại, trên mỗi xe là một giỏ cần xé đầy được phủ bao đệm, không biết cái gì bên trong. Tôi giật mình thét lên: "d.m. coi chừng!" rồi nhảy từ lầu một xuống một đụn cát bên dưới, người Hạ sĩ mang máy cũng nhảy theo, Toán phó H. đã nhanh chóng dẫn tổ ba người của anh tràn lên mặt đường, phối hợp với tổ trực đang gác trên đường cô lập hiện trường, một mặt kềm chế những chiếc xích lô, một mặt chận đứng giao thông. Tôi đích thân gọi các toán trưởng khác cùng lên máy.

Một người đàn bà ăn mặc bình dân từ sau giỏ cần xé của chiếc xích lô bước xuống với vẻ ngạc nhiên lẫn hốt hoảng : "Tôi đem đồ ăn tới cho lính mình mà". - Trung sĩ nhất H. quay nhìn tôi chờ lệnh.

Thấy hơi quê với đàn em, tôi làm như tay sành điệu, đưa bàn tay phải ra, chúm năm đầu ngón tay lại rồi dùng ngón chỉ của tay kia chạm vào chúm tay nọ rồi bung năm đầu ngón tay ra (hiệu lệnh lục soát tôi mới học lóm được). H. hiểu ý, sai một lính dưới quyền trải tấm poncho mỏng bên lề đường, (đời lính ăn ngủ và hy sinh goí trọn trong tấm poncho).

Người đàn bà cùng hai phu xích lô lần lượt chất chả và bánh mì xuống poncho dưới sự quan sát cẩn thận của H. rồi tất tả cùng đạp đi như sợ người khác nhận diện, không kịp nhận một lời cảm ơn.Tôi giao cho H. xử lý mọi việc, không quên nhắc anh ta chia đều cho các toán khác và "cúng dường" ban chỉ huy Biệt đội.

Bữa cơm trưa thật ngon miệng, những lát chả thơm ngon lạ lùng sau một tuần lễ gạo sấy cá hộp làm ấm cả lòng người (racion C chỉ còn là huyền thoại). Nhìn khuôn mặt những người lính tươi lên, có lẽ họ cũng thấy ấm lòng như tôi và tay súng của họ sẽ ghì chặt thêm trong trận chiến.

Trời dần về chiều, những tin tức bất lợi dồn dập đưa tới, tiếng nổ xa gần của đại pháo không làm tôi quan tâm đến nữa. Những chiếc xe buýt chật cứng người được Mỹ cho đặc ân di tản chạy về hướng Tân Sơn Nhất báo trước sự chạy làng của cái gọi là "Đồng Minh", chúng tôi chỉ chận lại xem xét giấy tờ và tịch thâu tất cả vũ khí trên xe để phòng ngừa rối loạn có thể xảy ra.

Họ ra đi cho bản thân riêng, chúng tôi ở lại vì nhiệm vụ chung của người lính cho đến giờ phút cuối, không mảy may than phiền thắc mắc.

Tối đến trong căng thẳng, sau bũa cơm chiều, tôi ra lệnh cho các tổ giữ vững cách phối trí nhưng thay đổi vị trí để ngừa đặc công. Tổ chỉ huy của tôi di chuyển qua bên kia đường đóng trên một cao ốc. Khuya hôm đó, H. Toán phó, chuyền tay đến tôi một chai Jhony Walker với hàng chữ thật dễ thương ghi bên ngoài : "tặng các anh". Chúng tôi chuyền tay nhau hết chai, đỏ mắt lên chờ sáng.

NGAO DU SÀI GÒN.

Hôm nay đã là ngày 29, 08 ngày mang chiếc lon Thiếu Úy mới toanh trên trên cổ áo với nhũng nhiệm vụ thật mới lạ và bất ngờ không có trong binh thư, tôi cũng đã quen dần với đời sống lính rừng trong thành phố. Suốt gần 04 năm quân trường, có bao giờ tôi nghĩ đến tình huống ngộ nghĩnh như thế này: Đường đường một đơn vị lính trận mà phải chia nhau đứng gác đường như những anh chàng cảnh sát bạn dân không bằng. Thật rõ chán, lòng lại nóng như lủa đốt vì những tin tức bất lợi dồn dập đưa đến không ngừng qua các đài phát thanh. Đất nước tan hoang, gia đình di tản không nơi ăn chốn ở.

Người yêu duy nhất của tôi lúc bấy giờ đã một lần đến thăm tôi nắm tay để nói lời từ biệt, Nàng muốn ra đi với một ông lớn nào đó trong Bộ Dân vận Chiêu hồi, nơi Nàng đang làm viêc. Lòng tôi thật rối như tơ vò nhưng ngoài mặt vẫn lạnh như băng.

Tội nghiệp những người lính đang trông chờ tất cả vào tôi, họ nhìn thẳng vào mắt tôi mỗi khi có biến động dầu chỉ là tiếng nổ của đạn pháo xa xa.

Quả thật phòng thủ không phải là sở trường của một đơn vị đầy tính chất linh động như thế này. Và chúng tôi bắt đầu cảm thấy mình như những con vật nửa người nửa ngợm. Bộ đồ dù này chỉ đẹp trong những buổi sớm chiều trong rừng già trùng điệp, hay trên bãi chiến trường khét mùi thuốc súng.

Ngày 29 trôi qua thật nhàm chán, thỉnh thoảng chỉ nghe vài tràng liên thanh nhỏ, không khí ngột ngạt, một sự yên lặng ngấm ngầm ghê rợn. Lệnh tử thủ vẫn được nhấn mạnh từ Bộ Tư lệnh tiền phương. Trong ánh mắt những người lính gan lì đã thoáng lên sự nhàm chán. Tôi chợt nghỉ ra một cách để giải khuây : Hai tiếng đồng hồ phép cho tất cả mọi người, một quyết định thật táo bạo trong tình huống bấy giờ, nhưng không biết tại sao tôi lại tin tưởng hoàn toàn ở những người lính chịu chơi này.

Tôi im lặng phối trí lại các tổ tam đầu chế, mỗi tổ có một người biết đường đi nước bước ở Sài Gòn. Đúng 08 giờ tối, tôi cho tổ đầu tiên âm thầm lên trình diện.

Tôi ra lệnh ngắn gọn :

- Tao cho tụi bay đi chơi, đúng hai tiếng, mỗi đúa chỉ được mang theo một trái mini, súng đạn để hết lại đây, thằng tổ trưởng giữ cây P38 này của tao nghe... Đi về cho đúng giờ để thằng khác còn đi. Nhớ cẩn thận.

Đầu tiên là ngạc nhiên và sau đó là những nụ cười sáng rỡ, hồn lính thật ngây thơ. Một tiếng dạ ngắn rồi ba chàng Ngự Lâm biến mất trong màn đêm, tôi bắt đầu lo âu chờ đợi... Và họ đã trở về đầy đủ, đúng giờ với những nụ cưòi hồn nhiên pha một chút bẻn lẻn khi nghe tôi hỏi : " Dzui không tụi baỵ ".

Khi các tổ đã về đầy dủ, tôi cũng tự cho phép tôi, mượn chiếc Honda, chạy vội về thăm gia đình đang tạm trú ở nhà người quen gần đó sau khi di tản từ Qui nhơn. Tôi chỉ kịp ôm hôn Mẹ tôi, trấn an Bà vài câu rồi vội vã ra đi, mang theo ánh mắt luyến lưu chịu đựng của một bà Mẹ VN tiễn con đi trong những giờ phút cuối.

ĐÔI CO TRÊN LỬA ĐỐT.

Khoảng 5 giờ rạng sáng ngày 30 tháng tư, toán thám kích chúng tôi như một chú sư tử ngái ngủ trong củi sắt giữa một thanh phố bỏ hoang. Bỗng nhiên tiếng gầm của đại pháo và súng chống tank vang lên dữ dội từ hướng Lăng cha Cả, cùng lúc tiếng rè rè của máy PRC25 vang lên, tôi vươn mình chụp vội cần liên hợp không kịp chờ anh Hạ sỉ mang máy. Lệnh chuẩn bị hành quân từ Đ/U Biệt đội trưởng.

Qua đối thoại ngắn ngủi, tôi biết rằng biệt đội đang chận đứng một đoàn Tank của cộng quân không rỏ bao nhiêu chiếc và đã nướng được 04 con. Chúng tôi được lệnh chuẩn bị thật nhẹ để nhảy chân chim, một lối nhảy trải mỏng từng tổ một và thay đổi vị trí liên tục để gây hoang mang trên đường tiến của địch quân. khu vực và phương tiện sẽ được chỉ định sau.

Tôi ra lệnh cho thuộc cấp chỉ mang theo những trang bị nhẹ nhàng nhất và chuẩn bị tinh thần cho những trận cận chiến và chống Tank. Vài người lính rút chiếc dao găm ra ngắm, liếc nhẹ vào nòng súng vài cái, đút lại vào bao rồi vỗ mạnh, tôi biết họ đã sẵn sàng và thật điệu nghệ... Có người còn nhổ một bãi nước bọt vào nòng súng, có lẽ vì một thói quen cố hữu....

Chúng tôi nóng lòng đợi chờ lệnh hành quân như những con ngựa chiến bị ghìm cương, mắt trợn trừng lồng lộn, bạn bè cùng đơn vị chúng tôi đang sống chết với giặc ngoài kia, sao chúng tôi đành ôm vó đợi chờ vô cớ sự, và tôi như một chàng trai tân đang chờ đợi cuộc hẹn đầu đời với con gái của Ma Vương.

Cái đợi chờ làm tôi bồn chồn nóng nảy lẫn lo âu như một chú cá đang bị nướng sống trên lò lửa nóng, mắt tôi đỏ gừ, hơi thở dồn dập, mặt tôi tê dại đi không còn cảm giác. Tôi cắn chặt hàm răng, cố thở thật sâu để nén đi cảm xúc của mình rồi lừ mắt nhìn thẳng vào mặt của từng người lính. Bất giác, tôi chưởi thề lớn tiếng: "d.m, tao như đứng trên lửa... " - và cứ thế thời gian trôi qua như thử thách sự dẻo dai của những dây thần kinh đang căng thẳng đến cùng cực. Để đốt thời gian, trấn an tinh thần lính, tôi trãi rộng tấm bản đồ, định hướng chính xác, rồi gọi các tổ trưởng đến phân tách và giải thích từng cứ điểm quan trọng trong vùng.

Tuy sẵn sàng nhưng chúng tôi vẫn duy trì nhiệm vụ của mình trong vùng trách nhiệm, các tổ vẫn thay phiên nhau cho người đứng gác đường, chứng tỏ sự có mặt của mình để duy trì trật tự. Đang trong tình thế căng thẳng đó, một sự kiện buồn cười nhưng cảm động xảy đến làm tôi nhớ mãi.

Người đứng gác đường lúc bấy giờ là một anh Trung sỉ tổ trưởng với bộ quân phục đẹp nhất mà anh có được trong túi quân trang. Bổng nhiên, có chiếc cyclo đậu chịch lại sát bên anh, mọi người đều giật mình chưa kịp phản ứng thì một cô gái trẻ ăn mặc diêm dúa nhảy ra, cô ta cười toe toét, ăn nói líu lo rồi rút ra một xấp tiền dúi vào tay anh chàng Trung sĩ trẻ, anh ta đẩy tay cô này ra, nhìn về hướng tôi có vẻ lo lắng vì tôi rất nghiêm ngặt trong nhiệm vụ đứng gác này, sau một hồi đôi co, cô gái tìm cách dúi đại tiền vào túi quần trận của anh Trung sĩ rồi leo lên cyclo chạy đi mất.

Tôi ra lệnh cho người khác lên thay gác, kêu anh chàng này đến chấn chỉnh để làm gương. Anh Trung sỉ này chỉ biết gãi đầu bứt tai rồi phân trần với giọng đặc khẹt miền Nam: "Hồi hôm, Trung úy cho tụi em đi chơi (lại lên lon), em quằm con nhỏ này, tiền bạc đàng hoàng, sáng nay ngang qua đây, nhận ra mặt em đứng gác, nó tội nghiệp, nằng nặc đòi trả tiền lại cho được,"

Tôi mỉm cười trong bụng, ra lệnh anh ta quay lưng lại, đá nhẹ một cái vào đít cảm thông. Anh ta xoay người chào tôi với nụ cười trên khoé mắt rồi vội vàng chạy đi thi hành tiếp nhiệm vụ canh gác đang được tạm thời thay thế.

NGƯỜI LÍNH MANG MÁY

Lúc bấy giờ đã hơn 10 giờ30 phút trưa ngày 30, lệnh tử thủ vẫn được duy trì, lệnh hành quân tôi vẫn đang chờ đợi mặc dù trên đài phát thanh, Tướng Minh đã tuyên bố và kêu gọi đầu hàng. Chúng tôi, những người lính, chỉ biết tuân lệnh cấp chỉ huy trực tiếp của mình. Tôi thấy được trong ánh mắt lính sự hoang mang, trong lòng tôi cũng tự đặt câu hỏi không biết phải làm gì.

Tuy đã quá mệt mỏi với sự đợi chờ và lo âu kéo dài, nhưng tinh thần trách nhiệm trong tôi vẫn còn tỉnh thức: "mạng sống của thuộc cấp và sự an toàn ổn dịnh của người dân" trong khu vực trách nhiệm lúc bấy giờ là mối quan tâm chính yếu của tôi.

Trên vai trái hai khẩu M72, trong túí áo 04 trái mini, vai phải là cây M16 với cấp số đạn đầy đủ trong túi quần, giắt khẩu P38 ngắn nòng vào dây nịt dưới chiếc áo 04 túi, tôi cố gắng tạo cho mình một dáng di chững chạc bình tỉnh dẫn anh Hạ sĩ mang máy đi một vòng thăm hỏi nói chuyện với từng người lính, tinh thần họ hơi xáo dộng vì không biết việc gì sẽ xảy ra, nhưng những người lính gan lì này vẫn quyết tâm sát cánh bên tôi cho đến giờ phút cuối, thật không hổ danh là những con cọp biết nhảy dù. Không biết tôi trấn an họ hay chính họ đã làm lòng tôi ấm lại và vững vàng hơn.

Tôi biêt rằng một sơ sẩy của tôi trong lúc này có thể đưa đến cái chết thật oan uổng cho những người lính quả cảm trung thành ấy. Chúng tôi như keo sơn sống chết có nhau, quan cũng như lính, sự hiểm nguy thật công bằng trong những đơn vị nhảy toán này. Đây đã là giờ thứ 25, tất cả đều im lặng vô tuyến, tôi rít một hơi thuốc dài cuối cùng rồi dùng ngón tay bóp nát đóm thuốc lúc nào không biết. Mãi lo nghĩ đến sự an nguy của thuộc cấp, tôi quên hẵn đi thân phận của chính mình.

Đang suy nghĩ vẫn vơ, bỗng nhiên, một chiếc bờ rô 404 màu trắng bóng lóang thắng rít cạnh lề đường, gần chỗ tôi đang đứng, một người đàn bà đứng tuổi, ăn mặc sang trọng xuống xe, chạy vội lại ôm chầm lấy người hạ sĩ mang máy, bù lu bà loa:

- Con ơi con! sao giờ này con còn ở đây con ! Về với má đi con.

Trong tình huống này, tôi không biết phải làm gi, có nên giữ anh ta ở lại đơn vị trong giờ phút thứ 25 này không? Suy nghĩ thóang nhanh trong đầu, tôi vội bước lui vài bước, quay đi hướng khác, để tùy anh ta định đoạt. Qua ánh nắng đổ nghiêng, tôi thấy bóng anh ta quay lại phía tôi im lặng hồi lâu, rồi với giọng trầm buồn nhưng quả quyết :

- Má về đi, con ở lại với Thiếu uý à.

Tôi bất giác quay lại nhìn anh, nén vội dòng lệ đang trào dâng lên mắt. Tình đồng đội, tinh thần trách nhiệm hay khí phách của một người trai đã giữ anh ở lại với chúng tôi trong những giờ phút cuối cùng tuyệt vọng đó. Đơn giản quá một câu trả lời ngăn ngủi, nhưng nó hàm chứa tâm tình của một hào kiệt, và tâm tình đó không thiếu trong đơn vị đồ dù mũ xanh này.

Người Mẹ không biết làm gì, quay lại phía tôi với ánh mắt nhìn cầu cứu, một lần nữa tôi lại phải ngoảnh mặt để tránh đi một tình huống ngỡ ngàng khó xử. Trong đầu tôi thoáng hiện lên hình ảnh luyến lưu chịu đựng của Mẹ tôi đêm hôm trước.

- Thôi, Mẹ về, con nhớ lời Mẹ dặn.

Bà chỉ nói được bao nhiêu, rồi ôm chầm lấy con thổn thức. Người lính mang máy đứng thẳng người, hai tay trong túi quần trận, đầu ngẫng cao, cắn chặt răng, quai hàm bạnh ra, trông anh vững vàng như một cổ thụ đang cố đè nén những cơn bão táp phong ba dữ dội trong lòng.

Người Mẹ sau đó lau vội nước mắt, đi chậm chậm về hướng chiếc xe, tôi đưa mắt ra hiệu cho anh trung sĩ toán phó đang ở gần đó đến mở cửa đứng chờ. Bà lẵng lặng bước lên xe nổ máy, ngồi nhìn con một lúc rồi từ từ lái xe đi sau khi quay lại đón nhận cái gập mình cúi đầu chào tôn kính của tôi.

Quả cảm thay người lính, bao la thay lòng hy sinh của người Mẹ trong chiến tranh. Lòng tôi chạnh lại dưới ánh nắng dã dượi của Sài gòn trong ngày tàn cuộc.

ĐẦU HÀNG RỒI

Lòng bàng hoàng xúc động về lòng trung thành của anh Hạ sĩ mang máy đối với đơn vị, tôi ngẩn ngơ đứng lặng người, nhìn bâng quơ lên bầu trời ám khói hanh vàng.

Lúc bấy giờ đã gần 11 giờ, dân chúng di chuyển tấp nập, thỉnh thoảng họ lén đưa ánh mắt ái ngại nhìn về phía chúng tôi. Họ đang nghĩ gì? Về chúng tôi : những nhân chứng của chiến tranh, hình ảnh hào hùng đã trôi vào quá khứ, hay những hình nộm được trưng bày không đúng thời hợp lúc. Mặc cho những suy nghĩ thị phi, chúng tôi vẫn chu toàn nhiệm vụ của mình trong vùng trách nhiệm : bảo vệ mạng sống của binh sĩ dưới quyền và sự an toàn ổn định của người dân cho đến khi có lệnh mới.

Một tràng M16 nổ dòn tan kéo tôi ra khỏi những suy nghĩ vẩn vơ, tiếp theo là tiếng thét thất thanh phẩn nộ : "Địt mẹ nó! Đầu hàng rồi, Địt mẹ nó! Đầu hàng rồi. Một toán lính Dù gồm một người có vẻ là cấp chỉ huy và 03 người lính xuất hiện ở ngã ba cuối phố, họ di chuyển về phía chúng tôi không được bình tỉnh, thỉnh thoảng, người chỉ huy bắn một tràng M16 rồi lại thét lên "Địt mẹ nó! Đầu hàng rồi", trên vai anh, một dòng máu chảy dài xuống cánh tay còn nhỏ giọt, ba người lính im lặng đi theo bảo vệ còn trang bị đầy đủ với khuôn mặt đanh lại lạnh lùng.

Tôi ra dấu cho thuộc cấp giữ ổn định tại vị trí của mình. Chúng tôi đã dùng áp lực tước vũ khí nhiều toán quân lẻ tẻ không tổ chức khi họ qua phòng tuyến của chúng tôi để vào Sài gòn nhằm tránh những hỗn loạn đáng tiếc trong thành phố. Nhưng đây là một trường hợp thật nguy hiểm và khó khăn.

Chúng tôi tôn trọng những người anh em lính Dù mũ đỏ này với những chiến công lừng lẫy, nhìn tình đồng đội của họ trong hoàn cảnh tuyệt vọng hiện nay cũng đủ thấy tinh thần và hiệu quả chiến đấu của họ như thế nào khi lâm chiến. Làm sao đây để chận đứng những hành động nguy hiểm chết người có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong cơn cuồng nô phẩn uất ấy.

Một suy nghĩ táo bạo thoáng qua trong đầu, tôi lột chiếc nón sắt đưa cho một thuộc cấp, gác hai khẩu M72 bên vệ đường, rút trong túi áo ra chiếc nón xanh của binh chủng đội lên đầu, mang cây M16 trên vai, khoác tay ra dấu cho thuộc cấp cùng đứng lên, rồi với thái độ bình tỉnh ung dung, tôi dẫn anh Hạ sĩ mang máy chậm bước đến vị trí người lính đang đứng gác giữa đường. Một tràng M16 nữa lại nổ vang, toán lính Dù này chỉ còn cách chúng tôi khoảng 30 thước, và họ vẫn chưa nhận thấy sự hiện diện của chúng tôi. Họ tiến gần chúng tôi khoảng 20 thước, một tràng đạn nửa lại nổ dòn trên không. Tôi hít một hơi thở sâu, dùng hết sức thét lên: "NGHIÊM". Đúng là Lính, họ giật mình dừng lại nhìn quanh, thấy chúng tôi với quân trang và vũ khí đầy đủ, có lẽ cảm thấy ấm lòng trong vùng kiểm soát của một đơn vị bạn, họ dừng chân và hơi bình tỉnh trở lại, chúng tôi nhìn nhau, chung bộ đồ Dù, một là chiếc nón đỏ với những trận chiến vang danh, một là chiếc nón xanh với những hoạt động biệt cách đởm lược. Tôi tiến đến bắt tay anh, người chỉ huy toán lính Dù quả cảm. Chúng tôi im lặng nhìn nhau, anh vẫn còn thì thào : "Địt mẹ nó!...... "

Tôi đích thân đưa anh vào một căn bỏ trống trong toà cao ốc, kêu toán phó băng bó vết thương ở vai và lưng cho anh rồi vội vã ra ngoài sau khi đưa cho anh chiếc áo dù còn mới toanh của tôi để thay chiếc áo đã bết máu khô. Ba người lính Dù vẫn lặng lẽ bám theo anh không rời một bước.

Tôi không nhớ anh mang cấp bật nào, nhưng chỉ biết toán lính Dù này rút về đây khi trại Hoàng Hoa Thám đã hoàn toàn thất thủ. Sau khi chuyện trò thuyết phục, họ đã đồng ý ở lại với chúng tôi và trở thành một tổ mới trong toán. Về sau toán lính Dù này đã theo chúng tôi cho đến tọa độ cuối cùng.

Đến bây giờ, khi ngồi viết lại những dòng chữ này, tôi vẫn còn thắc mắc: Không biết anh lính dù đã chửi ai trong đoạn đường cùng tuyệt vọng đó.

TOẠ ĐỘ CUỐI CÙNG.

Thời gian như dừng lại, cái nắng ảm đạm của Sài gòn như chuyên chở tâm tư tôi trở về với những thực tại phủ phàng : Sụp đổ rồi ư ! Những hoài bảo ước mơ vá trời ngang dọc.,..có làm được gì không trong cơn tuyệt vọng cùng đường.

Đầu óc tôi trống không mụ mẫm. cổ họng tôi khô quánh lại. Những người lính của tôi dễ thương và tội nghiệp quá, làm sao để bảo vệ mạng sống của họ trong hiện tại và dẫn dắt họ trong đời sống vô định của một tương lai đen tối. Vì trách nhiệm, tôi bám chặt lấy họ để làm lẽ sống, vì quả cảm trung thành, họ quyết theo tôi cho đến bước đường cùng. Tôi đứng như trời trồng, nhìn sững xuống chân thấy bóng mình dần thu ngắn lại.

Tiếng rè rè của PRC25 làm tôi giật mình, đích thân Đ/U Biệt đội trưởng ra lệnh hành quân, các sĩ quan trong ban chỉ huy Biệt đội đã đồng ý một kế hoạch rút quân về toà nhà Quốc Hội, giá súng tại đây, tuyệt đối không buông súng trong vùng trách nhiệm. Trung đội Thám kích mở đường và tập hậu, chiếm các cao ốc làm điểm tựa cho cuộc rút quân.

Tôi tê dại đánh rơi cần liên hợp xuống mặt đường, Vậy là hết !...Sững người trong phút chốc, tôi buông thỏng :

- Đi !

- Đi đâu thiếu uý. - Người toán phó nôn nóng hỏi.

Tôi nhìn anh ta với đôi mắt ngầu lên uất hờn tủi nhục rít qua kẽ răng đang nghiến chặt :

- Lệnh hành quân về Quốc Hội ! - Tôi đáp gọn rồi kịp quay đi dấu đôi dòng lệ trào tuông không cầm được.

Biệt đội đã bắt đầu di chuyển, ba toán nhảy theo chân sáo mà điểm đậu là các tòa cao ốc để bảo vệ các trung đội xung kích di chuyển trên mặt đường. Toán chúng tôi tuy vẫn giữ nguyên tắc tổ tam đầu nhưng tụ lại cho ấm cúng hơn.

Bỗng nhiên, tiếng máy của T54 đồng loạt gầm lên trên khắp ngã đường, những khối sắt đen đồng loạt bò ra dừng lại án ngữ những điểm chính yếu rồi đứng lại đe doạ, có tiếng click nhẹ của những khẩu M72 dương nòng, tôi chưa kịp phản ứng gì thì nhìn quanh, những người lính thiện nghệ của tôi đã vào vị trí sẵn sàng chiến đấu, tôi vụng về dương nòng cây M72 rồi ẩn mình sau một gốc cây lớn vệ đường quan sát.

Một sự im lặng căng thẳng cùng cực, T54 gục nòng trong tư thế trực xạ, M72 đã sẵn sàng với biểu xích đã bật lên, súng ghìm súng, mắt long lên theo từng động tỉnh của đối phương, chỉ cần một tiếng súng nổ là khai hỏa một trận chiến không ai lường được hậu quả. Lúc bấy giờ khả năng tham chiến của biệt đội 817 chúng tôi vẫn đầy đủ.

Đang trong phút im lặng tử thần đó, một sì quan, nếu tôi nhớ không lầm là một toán trưởng kỳ cựu trong trung đội thám kích, một cánh tay phải của Biệt đội trưởng, đứng thẳng người, mạnh dạn bước ra, nhìn về hướng Biệt đội trưởng như chờ sự chấp thuận, nhận được thủ lệnh, anh từ tốn cởi bỏ vũ khí để xuống mặt đường, rồi dõng dạc bước ra đứng giữa đường lớn tiếng :

- Chúng tôi, biệt đội 817 Biệt Cách Dù, chúng tôi không buông súng trong vùng trách nhiệm, chúng tôi đang hành quân về Quốc Hội để trả vũ khí lại cho dân. - Giọng anh sang sảng bằng tiếng Bắc 54.

Phía đối phương không động tỉnh một hồi lâu, có lẽ họ đang liên lạc để chờ lệnh trên hay để đánh giá lực lượng chúng tôi trước khi quyết định việc gì. Sau đó, từ chiếc T54 phía sau, một người bên đối phương bước xuống nói chuyện với anh Sĩ quan toán trưởng này, hai bên tranh luận dằng co, lúc nhẹ nhàng, khi lớn tiếng, cuối cùng, anh toán trưởng quay trở lại, khuôn mặt đỏ ngừ. Vì sự an nguy của đồng đội, anh đã cố nén đi sự phẩn nộ, có lẽ anh đã quen nói chuyện với địch quân bằng một phương pháp cứng rắn hơn.

Sau khi về lại vị trí, anh toán trưởng này đã gọi mọi người cùng lên máy và chúng tôi nói chuyện bằng bạch văn.

Tôi được biết đối phương đã đồng ý để chúng tôi tiếp tục hành quân về toà nhà Quốc Hội, nhưng hai bên cùng thỏa thuận : trên lộ trình hành quân, nếu gặp nơi đối phương đang trú quân, chúng tôi phải vác súng lên vai và ngược lại, khi chúng tôi nghỉ chân thì bất cứ đơn vị nào của đối phương đi chuyển qua cũng phải vác súng lên vai không được ở tư thế tác chiến.

Đ/U Biệt đội trưởng ra lệnh tiếp tục hành quân. Chúng tôi câm lặng di chuyển, trong lòng thấm dần niềm đau nỗi nhục, nhìn quang cảnh phố phường lẫn lộn đỏ xanh của màu cờ gạt lừa dối trá, dân chúng hai bên đường nhìn chúng tôi như những bóng ma đang đi chuyển trong một nghĩa địa hoang tàn của Sài gòn sau cơn binh lửa.

Đến ngã tư Phan thanh Giản + Công Lý, một lần nữa tiếng gầm rú của T54 lại vang lên như đang cố gắng nghiền nát tinh thần chúng tôi, đối phương đã huy động một lực lượng chiến xa lẫn chủ lực đáng kể nhằm khống chế chúng tôi tại chỗ. Toán nhảy tiền phương đã bị chận đứng không thi hành được nhiệm vụ vì đối đầu với những khẩu 3.5 đang theo dõi bước chân của từng người lính thám kích, nhìn chung quanh, đại pháo của chiến xa trên các ngã dường nhuư đang gục nòng sẵn sàng khai hoả, toán nhảy tập hâu đã gọi về báo một tình trạng tương tự ở sau lưng, trên các cao ốc đối phương đã hoàn toàn trấn giữ.

Chúng tôi nhìn nhau không biết phải làm gì, Biệt đội trưởng lắc đầu chậm chạp, từng khuôn mặt lặng câm không cảm xúc. Một cảm giác tê dại chạy khắp người tôi từ bàn chân lên dến dỉnh dầu, tâm trí hoàn toàn trống không, tôi đứng như trời trồng uất nghẹn, mắt trợn trừng nhìn vào cõi hư vô, tai ù lên chỉ còn nghe tiếng mạch máu nhảy lên trong lồng ngực. Tôi nói như trong mơ:

- Các anh về với gia đình đi.
..............................

Từng người lính rời xa, trái tim tôi quặn thắt.
..............................

Tôi không nhớ việc gì đã xảy ra sau đó, nhìn chung quanh trống vắng lạnh lùng, nòng súng đại pháo trên các chiến xa T54 vẫn còn nhìn tôi với con mắt chột đen ngòm lạnh lẽo.

Bấm chữ "Older Posts" trên đây để xem tiếp .... Dưới Là Bài Cũ Theo Từng Tháng.

 
*** Nếu Thích QUẢNG BA, Thích Phước Tấn bất chấp dư luận can ngăn mà về VN tham dự Phât Đản do Việt Cộng tổ chức tại Hà Nội vào tháng 5/2008. Thì đương nhiên 2 Cộng Sư nầy đã đứng ra khiêu khích và tuyên chiến với cả Cộng Đồng Tự Do Hải Ngoại chúng ta ...