*** VIỆT CỘNG ĐANG ĐẨY MẠNH KẾ HOẠCH THÀNH LẬP HỆ THỐNG "CÁC HỘI DOANH GIA VIỆT KIỀU" ĐỂ BIẾN THÀNH CÁC TỔ KINH TÀI VÀ TÌNH BÁO Ở HẢI NGOẠI. ***VIỆT CỘNG HÃY TỰ TRẢ LỜI:"AI-VĂN KIỆN NÀO ĐÃ GIAO CHO ĐẢNG CỘNG ĐỘC QUYỀN CAI TRỊ ĐẤT NƯỚC MUÔN NĂM ???" *** Rồi đây, Cờ máu Việt Cộng cũng sẽ biến mất như Cờ búa liềm Liên Sô. Đó là sự thực sau nầy ! *** HỒ CHÍ MINH là một tên LƯU MANH NHỨT THẾ GIỚI - Vì dám lấy TÊN GIẢ để làm QUỐC TRƯỞNG VIỆT CỘNG từ 1945 - Thế Giới chưa ai DÁM GẠT cả một dân tộc như vậy !!! ***Quảng Ba đã công khai gia nhập Phật Giáo Quốc Doanh Việt Cộng Hải Ngoại cùng với Như Huệ, Tâm Phương ... Quảng Ba tự xưng khơi khơi chức vụ Hoằng Pháp Úc-Tân Tây Lan không kèn không trống ... *** VỢ CHỒNG HENRY DANG (Đặng Văn Hiền, Gốc QGHC và đương kiêm Chủ Tịch Hội Đồng Hương An Giang) đã xác nhận CÙNG về Hà Nội dự VESAK là chuyện có thật 100% - Từ nay CẶP VỢ CHỒNG nầy sẽ không thể nào TRÀ TRỘN vào các sinh hoạt Cộng Đồng Tự Do như trước ... *** Linh Mục Bùi Đức Tiến, Bs. Trần Thanh Nhơn, Bs. Nguyễn Ngọc Hương mong Việt Cộng sống lâu để họ được trở thành THÁNH TỬ vì mượn từ thiện để đánh bóng tên tuổi cá nhân ...

Friday, October 30, 2009

Hồi ký cựu phi công “Cò Trắng”
NGƯỜI VỀ TỪ CÕI CHẾT
Phan thanh Vân

Năm 1957, sau khi tiếp thu các phi đoàn vận tải của KQ Pháp giao lại (như các phi đoàn Béarn, Franche- Comté và Sénégal đóng tại TSN), với cấp bực Trung úy, anh làm huấn luyện viên phi công vận tải tại Liên Phi đoàn 1 vận tải dưới quyền chỉ huy của Trung tá Nguyễn cao Kỳ.
Đầu năm 1958, anh được biệt phái sang Hàng Không Dân sự, lái phi cơ cho hãng Hàng Không VN (Air Vietnam ) thay thế cho các phi công dân sự Pháp bị sa thải hồi hương.
Năm 1961, anh được gọi trở về Bộ Tư lệnh KQ để nhận lảnh nhiệm vụ mới. Anh được chỉ định chỉ huy và lái một trong hai chiếc “Cò Trắng”, có nhiệm vụ đặc biệt bay thám thính, tiếp tế và thả dù các toán gián điệp biệt kích ra miền Bắc CSVN, (lúc bấy giờ chỉ có hai phi hành đoàn Cò trắng được thành lập để bay ra Bắc theo kế hoạch hoạt động tình báo do CIA Mỹ tổ chức và điều động, một phi hành đoàn do Trung tá Kỳ chĩ huy và lái, phi hành đoàn thứ hai do Trung úy Vân chỉ huy. Gọi là Cò Trắng vì 2 chiếc phi cơ C47 dành riêng cho các phi vụ đặc biệt này đều được “sterilized”, tẩy xóa hết mọi cờ quạt, quốc huy, quốc hiệu để lại toàn thân chiếc phi cơ một mầu nhôm trắng toát.)
Ngày 1 tháng 7 năm 1961, anh lãnh một nhiệm vụ đặc biệt thay thế cho ông Kỳ, lái phi cơ ra miền Bắc để thả dù tiếp tế biệt kích. Trong chuyến bay định mệnh này, phi cơ của anh đã bị hỏa tiễn tâm nhiệt của phóng không CSBV bắn rơi lúc 01 giờ 15 phút rạng ngày 2-7-61, khi phi cơ bay sát từ mặt biển vừa vào đất liền. Máy bay bị rơi xuống một nơi thuộc xã Tô hiệu, huyện Kim sơn, tỉnh Ninh Bình. Phi hành đoàn do anh chỉ huy và lái, gồm thêm 2 phi công phụ (Trung úy Phan khắc Thích, Thiếu úy Trần minh Tâm), 2 điều hành viên (Thiếu úy Tiêu huỳnh Yên, Chuẩn úy Phạm trọng Mậu), 1 vô tuyến điện viên (Trung sĩ Nguyễn văn Nở), 1 cơ khí viên (Thượng sĩ Phạm văn Đăng), ngoài ra còn có 3 biệt kích dù (Thượng sĩ Lộc, Trung sĩ Tiết và Thượng sĩ Khoa) thuộc phòng 46 (sở Bắc, sau đổi thành Nha Kỹ thuật).
Cả thảy 10 người trên phi cơ lúc bị bắn rơi xuống bãi sình lầy, rồi bốc cháy, người chết cháy vì kẹt lại trong phi cơ, người bị thương nặng rồi chết sau đó, chỉ còn lại 3 người sông sót là anh, người cơ khí viên và 1 biệt kích dù. Cả 3 đều bị thương tích nặng và bị dân quân CSBV trên bờ ào ra bắt giữ. Sau một thời gian bị giam giữ hỏi cung tại trại giam Hỏa lò Hà nội, ngày 15 thàng 11 năm 1961, anh bị đưa ra Tòa Án Quân Sự Trung ương CSBV xét xử cùng với 2 đồng hành với bản án như sau:
-Đinh như Khoa, biệt kích dù, 15 năm tù
-Phan thanh Vân, trưởng phi cơ, 7 năm tù
-Phạm văn Đăng, cơ khí viên, 3 năm tù
Sau khi lảnh án, anh bị đưa đi cải tạo ở trại Bắc Bạc (Ba vì, Sơn tây), rồi sau đó bị đưa lên giam giữ tại trại E ở Phố Lu (Lào Cai)
Năm 1971, anh được CSBV phóng thích sau một thời gian 10 năm (tù giam và quản thúc), và nhờ sự lo lắng của gia đình người chị ruột, qua Hồng thập tự Pháp, anh được đưa sang Pháp để đoàn tụ với gia đình và sinh sống.

xxxxxxxx


Hôm nay đã là 29 tháng chạp, chỉ còn vài ngày nữa là Tết rồi. Tết năm nay là Tết Tân Hợi (1971) và đúng là cái Tết thứ 10 mà mình sống bơ vơ, xa gia đình, xa quê hương xứ sở.
Chiều hôm nay, sau khi hoàn thành xong chiếc giường đôi rẻ quạt, gã chính ủy (ủy viên chính trị) quản lý hợp tác xã mộc Đồng tiến ở thị xã Ba vì, tỉnh Sơn Tây gọi tôi lên văn phòng và nói:
-Anh nghỉ việc sáng hôm nay, về lán thu xếp để chuẩn bị ngày mai về Hà nội.
Tôi thắc mắc:
-Dạ, báo cáo cán bộ, tôi về Hà nội có chuyện gì và về bao lâu?
Gã lạnh như tiền:
-Anh đừng thắc mắc, đó là lệnh trên của Trung ương, tôi cũng không biết lý do. Anh cứ chuẩn bị sẵn sàng đi, và có lẽ anh sẽ không trở về đây đâu.
Ra khỏi văn phòng cán bộ, tôi trở về lán thu xếp đồ nghề mà trong lòng nghĩ ngợi miên man; lại cái gì đây?Được đưa về đây sống quản thúc ở hợp tác xã mộc này đã gần 2 năm nay, ngày ngày tháng tháng lòng mình lúc nào cũng thấp thỏm lo âu với cái tội nặng nề thầm kín mang trong người là “giặc lái Mỹ ngụy”
Năm 1961, sau khi lãnh cái án tù 7 năm, là từ Hỏa Lò Hà Nội đến trại này trại kia, cuối cùng là trại E Phố Lu (Lao Cai), tôi đã “ngoan ngoãn” cải tạo tư tưởng để trở thành “thành phần tiến bộ”, để sau khi hết án 7 năm tù, được hường thêm 2 năm “tự giác” ở lại trại giam. Và cuối cùng cho đến năm 1969, tôi đã thở phào nhẹ nhõm người khi được nhân dân, Đảng và nhà nước trả tự do, đưa về đây quản thúc với nghề thợ mộc,”ngày động tối điểm” (ban ngày lao động:cưa xè, đóng bàn, đóng giường, tối điểm danh trước khi đi ngủ).
Tối hôm nay trằn trọc mãi, không tài nào ngủ được, lo nghĩ lại chuyện gì sẽ đến với mỉnh đây, tại sao lại bị đưa về Hà nội, tại sao...tại sao...nằm mãi không ngủ được thôi thì dậy, phì phèo vài điếu thuốc lào.
Ngoài làn các “đồng chí” đang quây quần bên đống lửa to, canh nồi bánh chưng. Nghĩ lại nếu không có cái lệnh đi Hà nội thì giờ này mình cũng ngồi ngoài đó vì ban sáng mình đã được phân công canh nấu bánh chưng tối nay.
Sáng rồi, chưa tới 9 giờ thì thấy đã có một chiếc xe Molotova loại nhỏ như xe Jeep của Mỹ, đậu sẵn ở trong sân của Hợp tác xã. Tôi cũng đã sẵn sàng khi đồng chí cán bộ quản lý xuống kêu lên văn phòng gặp cán bộ trung ương.
Vào đến văn phòng là tôi khựng lại, nghĩ thầm trong lòng: Lại cái ông Toán này nữa, cái ông cán bộ công an đã săn sóc mình trong mấy năm qua, từ khi mình được trở thành ngườI tự do.!!
Sau khi anh quản lý bảo tôi ngồi xuồng rồi đi ra, ông Toán mới chậm rãi:
Anh có được khỏe không? Hôm nay tôi lên gặp anh để đưa anh về Hà nội và sau đó đưa anh ra sân bay để anh đi Pháp đoàn tụ với gia đình. Đảng và nhà nước đã rất khoan hồng đối với anh và đã chấp thuận lời xin của gia đình người chị của anh ở bên Pháp, cho anh về Pháp sum họp gia đình.
Nghe đến đây tôi như tắt thở, mừng đến nỗi nhịp tim đập mạnh như muốn nhảy ra ngoài, tuy nhiên vẫn cố lấy bình tĩnh để nghe tiếp những lời lải nhải của đĩa hát cũ đã rè, lập đi lập lại, nào là anh phải biết ơn nhân dân, biết ơn Đảng và nhà nước, nào là anh phải tiếp tục cải tạo tư tưởng để thành người tiến bộ, trở về phục vụ nhân dân, phục vụ Đảng và nhà nước v...và v...
Ông Toán nói tiếp:
Đây là giấy thông hành tạm cấp cho anh để anh dùng đi đường ra nước ngoài, còn đây là giấy máy bay của hãng hàng không Pháp Air France đi từ Hà nội đến Paris . Giấy máy bay này do người chị của anh mua và gởi sang cho chúng tôi để nhờ đưa lại cho anh dùng. Thôi chúng ta chuẩn bị lên đường kẻo trễ, anh còn có ý kiến, còn muốn phát biểu gì không?
Tôi lập bập:
Dạ báo cáo cán bộ, dạ dạ thưa không!
Đứng dậy ra xe chân mình bủn rủn, đi hết muốn vững. Đâu có ngờ!
Ra đến xe thấy cán bộ quản lý chạy lại:
Anh cầm lấy túi bánh chưng này, đây là quà Tết của hợp tác xã tặng anh, cầm theo mà ăn đi đường.
Xe lăn bánh rờI Ba Vì, bon bon trên đường hướng về Hà nội. Ngồi trên xe mà lòng tôi lâng lâng, nửa tỉnh nửa mơ, mừng lo lẫn lộn, vì chưa hẳn dám tin đó là chuyện thật, hai bên đường cây cối trơ trụi, bụi đường tung tóe theo lằn bánh xe lăn, nhưng sao mình thấy cái gì cũng vui tươi, cái gì cũng đẹp sáng, tưng bừng như...Tết.
Mải triền miên với trăm nghìn ý nghĩ trong đâøu, tôi không để ý đã băng qua Hà nội lúc nào và đang trên đường tiến vể sân bay Bạch mai
Xe đến cổng phi trường thì chạy chậm lại, tài xế lái xe vào đậu ở gần nhà ga hành khách, ông Toán bước xuống quay lại bảo tôi xuống xe theo ông vào trong làm thủ tục giấy tờ.
Tôi liếc nhanh quanh sân bay, ngoài bãi đậu xa hai ba chiếc máy bay rải rác đậu, một chiếc máy bay kiểu Illouchine 14 của Nga (loại máy bay vận tải chở hành khách loại nhỏ đang chuẩn bị, năm ba người nhân công chạy chung quanh, người đổ xăng, người đi vòng phi cơ kiểm tra.
Tôi nghĩ bụng mình sẽ đi với chiếc phi cơ này. Sau khi theo ông Toán vào quầy hành khách để trình giấy tờ, giấy thông hành, giấy máy bay...làm xong thủ tục, ông Toán nói:
Thôi đến giờ rồi, anh theo ra máy bay đi, anh đi mạnh giỏi và hãy nhớ những gì anh đã tiếp thu được mà cố gắng trở thành người tốt.
Dạ báo cáo cán bộ, dạ tôi xin cám ơn!
Mình lập bập, hối hả theo sau độ năm mười người nữa ra hướng máy bay đậu. Nhìn những hành khách khác, không biết là Việt hay Tàu, người nào cũng áo bốn túi, cổ Mao, chắc toàn là cán bộ đi công tác, còn mình thì chả giống ai với bộ bà ba nâu, chân đi dép cao su Bình Trị Thiên, tay quẩy túi bánh chưng bây giờ mới để ý thấy có bốn cái, mình lững thững bước lên vào tìm chổ ngồi trong phi cơ. Nhìn anh phi công cao lớn, da đỏ có lẽ là người Nga, mặc đồ phi hành dân sự, đi giữa hai hàng ghế hành khách để lên buồng lái, tôi ngẩn ngơ nhớ lại... ngày nào!
Chiếc vận tải cơ Illouchine 14 của hãng hàng không Nga từ từ chuyển bánh ra phi đạo, ngừng lại chỗ thử máy và sau đó cất cánh nhẹ nhàng.
Toàn thân tôi rung mạnh theo đà máy bay lăn trên phi đạo rồi từ từ rời đất liền và theo chiều cao bay lên, bỗng dưng hai mắt tôi nhắm nghiền lại, người tôi tự nhiên thấy ớn lạnh khi chợt nghĩ đến... một chuyến bay!!!
Rồi những kinh hoàng, hãi hùng của những giây phút rùng rợn gần 10 năm xưa dần dần tiếp diễn qua tâm trí tôi như một cuốn phim:
Tôi nhớ rõ chiếc máy C47 trắng ngần do tôi lái khi vượt qua vĩ tuyến 17, bay là sát mặt biển xâm nhập vào bầu trời của miền Bắc, dù còn ở ngoài khơi của biển Đông, cả 7 người trong phòng lái chúng tôi đều bắt đầu thấy thần kinh căng thẳng; người này lo lắng liếc mắt nhìn người kia, không ai nói vơi ai một lời. Khi máy bay vào sâu nội địa, tôi còn nhớ lúc ấy khoảng hơn 1 giờ đêm, đột nhiên tôi thấy nhoáng lên như ánh chớp màu da cam ngay trước mặt tôi trong bầu trời như bức màn đen, máy bay tự nhiên rung giật mạnh, không hề nghe một tiếng nổ hay bất cứ một âm thanh gì, hai tay tôi ôm cứng lấy tay lái, cố giữ thăng bằng cho chiếc máy bay, mắt tôi còn thoáng thấy anh Mậu điều hành viên và anh Thích phi công phụ ôm chầm láây nhau, rồi...tôi không còn biết gì nữa!
Không biết mãi bao lâu sau, khi thấy lạnh run, tôi cố mở mắt nhìn trong đêm tối đen kịt, người tôi như vỡ nát ra trăm mảnh, tôi không cử động được tay chân, đau đớn tận cùng hồn tôi lửng lơ, tôi tưởng như tôi đã chết rồi, hay đang... chết. Sau đó dần dần một lúc, tôi mới cảm thấy đau nhừ khắp cả người, chỗ nào cũng đau, tôi không nhìn thấy gì cả, cố thu hết tàn lực đưa tay quờ quạng hốt ít nước bùn lầy đưa lên mặt để rửa. Nước bùn nhầy nhụa hòa với một thứ nước mằn mặn trên gương mặt loang lổ của tôi, “máu “ mặt tôi đày máu, tôi cố mở mắt nhiều lần nhưng vẫn không thấy gì, đầu tôi như có ai cầm chiếc gậy đập đều đều, tôi lại mê man, tâm trí như có một khoảng trống rỗng, chẳng còn ý niệm gì về thời gian, không gian.
Tôi cũng chẳng biết là cho đến bao lâu nữa, mãi khi tai tôi chợt nghe văng vẳng trong gió lao xao của đêm khuya: Chết tôi rồi, chết tôi rồi, nóng quá, nóng quá, chết...tôi rồi!
Tiếng kêu thảm thiết của những người đang chết cháy! Tôi không nhúc nhích gì được, cả một nửa người của tôi đã ngập sâu dưới bùn lầy, tôi cố mở mắt to: xa xa cách chỗ tôi “đứng” độ vài trăm thước, một đám cháy to, lửa đỏ bốc lên ngùn ngụt và những tiếng thét kinh hoàng mà tôi nghe từ đó vọng ra, tôi như nửa tỉnh nửa mê, chợt lờ mờ có ý niệm rằng chiếc C47 do tôi lái đã bị bắn rơi xuống đây và đang bốc cháy!
Tôi lại mê man bất tỉnh cho đến khi mở choàng mắt ra, lúc này đã nhìn được lơ mơ thấy khung cảnh đồng ruộng sình lầy, đầu tôi đau nhức như có người lấy dao nạo vào óc, rồi tôi nghe rõ tiếng người hò hét xa xa, tiếng léo nhéo, quát tháo vẳng trong gió đêm.
Một ý thức bừng dậy thành phản xạ của sự sống còn ập đến như một đòn bẩy, tôi cố vùng vẫy, nhô người lên khỏi đám sình lầy, nhưng tôi quá yếu, bất lực!
Tiếng quát tháo lẫn lộn của đàn ông lẫn đàn bà càng lúc càng gần cùng với những ngọn đuốc lập lòe di động đốt sáng cả một góc trời, phần vì khắp người đau như dần với bao nhiêu thương tích, phần vì quá khiếp sợ, đầu óc tôi tê đi, cho đến lúc họ đã quát tháo ầm ầm bên tai tôi mà tôi vẫn đứng im như một xác chết. Họ hò nhau túm lấy tay chân tôi, kéo tôi ra khỏi sình lầy.
Lúc này trời đã sáng tỏ, tôi lờ mờ thấy không biết bao nhiêu người, đàn ông, đàn bà lố nhố vây quanh tôi, súng ống gậy gộc, họ hầm hè như muốn nhai xương, nuốt sống, ăn thịt tôi tôi đau đớn sức tàn, tôi sợ quá, nhắm mắt lại, rồi lịm đi, văng vẳng nghe tiếng quát, tiếng chửi rủa ập ngoáy vào tai tôi: Coi chừng, coi chừng, nó hãy còn sống, đập chết nó đi, đập chết nó đi, nó là biệt kích ác ôn của Mỹ Diệm!

Cuốn phim đến đây tự nhiên tắt ngay, tôi giựt mình bừng tỉnh dậy. Tôi đang ngả người trên chiếc ghế nhung của hành khách, máy bay đang bay êm, tiếng máy đều đều...trong máy bay gió lạnh nhưng người tôi ướt đẫm mồ hôi, ướt thấm cả bộ quần áo nâu tôi đang mặc, tôi cảm thấy lạnh, lạnh ớn xương sống...với giấc chiêm bao vừa qua!
Với tay với cái mền đắp lên người mới nhớ ra các giấy tờ mang theo trong người, lần mò móc ra xem, ngoài tờ giấy thông hành tạm, đóng dấu đỏ của Bộ Công An Hà nội là giấy máy bay của hãng hàng không Pháp Air France, trong đó ghi chặng đường đi:Hà nội, Canton, Hồng kông. Paris .
Tôi nghĩ thầm trong bụng: tại sao ghé qua Quảng đông (Canton) đó là đất đai của Trung cộng, nếu mà lôi thôi trở ngại biết làm sao?Mãi loay hoay với ngàn ý nghĩ lo lắng, tôi không để ý đến đèn báo hiệu buộc dây an toàn bật cháy, cho đến khi người chiêu đãi viên đến nhắc tôi vì máy bay chuẳn bị đáp. Phi trường Quảng đông vắng tanh, lạnh ngắt, không thấy một sinh hoạt nhộn nhịp nào như các phi trường dân sự khác, không thấy một chiếc máy bay nào khác đậu ở sân bay, ngoài chiếc máy bay tôi đang đi, từ từ vào bến đậu, ngay trước nhà ga hành khách. Tôi được mời xuống máy bay theo sau lẻ tẻ hai ba người hành khách khác, đi vào trạm nhà ga.
Vì đã quen với cách thức đi lại của các phi trường quốc tế, tôi tìm ngay đến quầy tiếp khách đại diện của Air France . Sau khi trình giấy tờ, giấy máy bay của tôi cho người nhân viên, một người tầu, bập bẹ nói tiếng Pháp, anh ta xem xong rồi nói:
Hiện tại chúng tôi không có đường bay nối tiếp (connection) giữa Canton và Hồng kông, theo lộ trình đã được chỉ định và trả tiền trước, chúng tôi sẽ lo liệu cho anh đi Hongkong bằng đường xe lửa, và khi đến Hong kong anh sẽ tiếp tục lấy máy bay đi Paris, anh chuẩn bị theo tôi ra xe để tôi đưa anh ra nhà ga xe lửa cho kịp giờ.
Ngồi trên xe theo người nhân viên Air France từ phi trường ra ga xe lửa, quang cảnh hai bên đường xe chạy lạ hoắc, nhưng tôi đâu còn tâm trí nào để nhận xét! Nhà ga xe lửa Quảng đông thật nhộn nhịp ồn ào khác thường, đặc nghẹt hành khách và hành lý. Người nhân viên Tầu dắt tôi len lỏi qua đám người, chen chúc đến quầy lấy vé và đưa tôi lên một toa giữa con tầu để tìm chỗ ngồi, may mắn tìm được một chỗ trống gần cửa sổ, anh ta chỉ cho tôi ngồi xuống và đưa tay bắt tay tôi chúc may mắn (bonne chance)
Khi xe lửa bắt đầu lệnh khệnh lăn bánh, một kiểu xe lửa từ thời chiến tranh 1914-18, cũng là khi tôi thấy đói lả, mệt nhừ! Chợt nhớ túi bánh chưng xách tòn ten theo từ khi rời Hà nội, tôi mở ra lấy một cái, bóc lá, nhỏm nhẻm ăn ngon lành, thả hồn thưởng thức hương vị của bánh chưng Tết, mặc kệ cho quang cảnh ồn ào chung quanh, tiếng cười, tiếng nói “xí xí ngộ cỏn” của các hành khách nông thôn Tầu đù loại, đang chen chúc nhau trong toa tàu chật hẹp.
Trời đã xế chiều, tôi không có ý niệm chính xác về thời gian, đoán chừng là đã 4, 5 giờ chiều thì xe lửa từ từ dừng lại vì đã tới trạm ranh giới giữa Quảng đông và Hồng kông. Sau khi xe lửa ngừng hẳn, giữa cảnh ồn ào nhốn nháo của hành khách, tôi thấy hai người mặc quân phục, một người Anh và một người Tầu, tôi đoán là nhân viên của Sở Di trú (Immigration) lên toa xe để kiềm soát giấy tờ.
Khi họ đến chỗ tôi ngồi và sau khi xem xét giấy thông hành tôi trình ra, nhân viên người Anh lật qua lật lại tờ giấy của tôi, xem xong rồi chậm rãi nói:
Với giấy thông hành này của CS Hà nội cấp cho anh đi đường, vì không phải là sổ thông hành chính thức, chúng tôi chỉ chấp nhận cho anh đi qua(transit) đất Hông kông 24 tiếng đồng hồ mà thôi, sau thời gian đó, anh phải đi ra khỏi Hong kong, nếu không chúng tôi sẽ bắt giữ anh và trục xuất anh về Hà nội, anh có hiểu rõ lời tôi nói không?
Tôi xanh mặt, lẩm bẩm trả lời:Yes, yes Sir!
Tay run run cầm tờ giấy thông hành người nhân viên Anh đưa trả lại,bụng nghĩ thầm:Chết cha thằng nhỏ rồi, rồi đây biết lo liệu làm sao?
Xe lửa ngừng hẳn ở nhà ga Hong kong, hành khách chen chúc nhau đi xuống, tôi đặt chân xuống nền gạch sạch mát của nhà ga, lòng tự nhiên thấy hả hê, vui lây với quang cảnh sinh hoạt của thế giới tự do!Tôi nhìn đồng hồ nhà ga, đã hơn 6 giờ chiều, tôi vội vã len lòi ra khỏi nhà ga, tìm đường mò về phi trường Kaitak vì biết chắc đó là phi trường quốc tế của Hongkong
“Thả cọp về rừng”, may là đường xá ở Hong kong đâu có xa lạ gì với tôi khi tôi còn lái cho Air Vietnam và đã từng ghé qua ăn cơm bữa ở đây. Cất bước như vừa đi vừa chạy, băng ngang qua các phố xá đông nghịt người vui nhộn như cảnh Tết, nhưng tôi đâu có dám dừng chân để thưởng thức gì, vừa mệt vừa lo sao cho kịp đến phi trường Kaitak để bắt cho kịp chuyến máy bay Air France đi Paris.
Vào đến phi trường là lúc phố xá đã lên đèn, người tôi mệt nhoài, tôi hổn hển tìm đến quầy vé hãng Air France, trình giấy máy bay đề đi cho kịp chuyến AF 1002, cất cánh lúc 20 giờ đi từ Hong kong sang Paris theo như trên bảng khởi hành (departure) mà tôi đã nhanh mắt nhìn qua.
Người nhân viên hãng Air France sau khi ghi nhận và xem xét giấy thông hành của tôi, anh ta nói:
Đây nhé, chúng tôi rất tiếc là không thề nhận cho anh đi trên chuyến bay này vì anh mang trong mình giấy tờ cùa CSBV và máy bay của chúng tôi phải làm transit ở Bangkok, tôi e ngại rằng nhà cầm quyền Thái lan sẽ làm khó dễ cho anh, tôi khuyên anh nên nhẫn nại chờ chuyến sau, hoặc bay thẳng, hoặc ghé nơi nào có thuận lợi cho anh hơn thì anh hãy đi.
Cầm giấy tờ người nhân viên đưa trả lại mà tôi “hỡi ơi, sao lại gặp rắc rối quá trời như thế này”. Chân đi không vững, tôi lần mò ra ghế băng ngổi nghỉ đợi, trong lòng “trống đánh thùng thùng”, lo âu cứ nghĩ đến giờ sẽ bị trục xuất! Chợt có ai đằng sau vỗ vai tôi và một giọng phụ nữ vui vẽ nói bằng tiếng Pháp:
Ê có khỏe không? Anh có phải là anh Vân, captain Air Vietnam ? Đi đâu mà ăn mặc kỳ cục không giống ai hết vậy?
Tôi ngỡ ngàng quay lại, một người đẹp trong bộ y phục chiêu đãi viên hàng không tươi cười đưa tay cho tôi bắt:
Anh quên tôi rồi sao?Tôi là Francoise,hôtesse Lufthansa nè!
Tôi ngạc nhiên,sượng sùng nhìn người thiếu phụ quen quen không nói được một lời, chị ta tiếp tục huyên thuyên kể lể.
À! thì té ra là Francoise Dupuis, nữ chiêu đãi viên bay cho hãng hàng không Đức, người mà thời xưa, lúc tôi còn lái cho Air Vietnam, đã từng được tôi mời mọc, ăn uống mỗi khi gặp nhau ở các escale Hongkong hay Tokyo...
Tự nhiẽn tôi thấy thoải mái, mừng lây với cái vui mừng vồn vã, hồn nhiên của người xưa, nay gặp lại nhau, tự nhiên tôi thấy có can đảm để “bốc” với nàng, đem “nghề của chàng” kể lể cuộc đời đã qua với hoàn cảnh hiện giờ của tôi cho nàng nghe. Nghe xong nàng vui vẻ:
Anh đừng lo, tôi sẽ cố gắng thu xếp giúp anh. Anh đưa vé máy bay của anh cho tôi, tôi sẽ lo liệu cho anh trên chuyến máy bay Lufthansa của tôi, cất cánh đi Francfort lúc 10 giờ đêm, có ghé qua Paris, có điều là tôi dặn anh phải nhớ, khi đáp xuống Bangkok để tiếp tế xăng và lấy thêm hành khách, anh phải giả bệnh nằm lại trên phi cơ, tôi sẽ tìm cách thu xếp ổn thỏa cho anh tránh khỏi qua sự kiểm soát của Thái lan, anh nhớ nhé. Thôi anh đi theo tôi làm thủ tục cho kịp.
Tôi vui mừng vô cùng, lững thững đi theo người đẹp mà trong lòng thầm nghĩ sao lại còn may mắn gặp được cảnh “thánh nhân đãi kẻ khù khờ”.
Sau bao nhiêu gian truân trắc trở, lo lắng trên đoạn đường đời của một người “từ cõi chết tìm về tự do” cuối cùng tôi đặt chân xuống phi trường Orly (Pháp) ngày 7 tháng 2 năm 1971.

Cò trắng Phan thanh Vân
Xuân 2002

TÌNH HÌNH AFGHANISTAN
Và CHƯƠNG TRÌNH ẤP CHIẾN LƯỢC VNCH.

Đỗ ngọc Nhận

Tình hình cuộc chiến Afghanistan mỗi ngày thêm sôi động. Thương vong của quân lực Hoa kỳ trong tháng 10 - 2009 đã trở thành số thương vong cao nhất trong một tháng kể từ ngày cuộc chiến bộc phát cách đây 8 năm. Về chính trị, quốc gia Afghanistan đang ráo riết chuẩn bị cho cuộc bầu cử tổng thống vòng 2 vào 7-11-2009 sắp tới trong khi phiến quân Taliban quyết phá bầu cử cho bằng được. Đề nghị tăng quân số của tướng tư lệnh chiến trường Stanley A. Chrystal vẫn còn đang trong vòng tranh cãi. Thượng nghị sĩ John Kerry, chủ tịch Ủy Ban Đối Ngoại Thương Viện Hoa kỳ cho rằng: “đề nghị tăng 40,000 quân cho Afghanistan đi quá xa và quá nhanh” (VOA, 10-27-2009). Dư luận ủng hộ cuộc chiến của dân chúng Hoa kỳ giảm sút. Tình hình chung cho thấy, dường như Hoa kỳ vẫn chưa tìm được một chiến lược hữu hiệu cho cuộc chiến chống khủng bố. Những diễn biến tại Afghanistan hiện nay làm tôi nhớ lại thời kỳ khủng hoảng về đường lối chỉ đạo chiến lược của Hoa kỳ và VNCH trong chiến tranh tại VN.

Sau biến cố CS tấn công căn cứ Trảng Sụp tại Tây Ninh vào ngày 20-01-1960, gây thiệt hại nặng nề cho bộ chỉ huy Trung Đoàn 32 thuộc sư đoàn 21 BB, tình hình chiến sự trở nên sôi động hẳn, bộc lộ sự bất đồng quan điểm giữa Hoa kỳ và chính phủ VNCH về quan điểm chiến lược của cuộc chiến. Ít tháng sau biến cố Trảng Sụp, tôi được bổ nhiệm giữ chức vụ Giám Đốc Nha Quân Cụ. Quân cụ là một ngành chuyên môn phụ trách quản trị quân xa, cơ giới, vũ khí và đạn dược trực thuộc Bộ Quốc Phòng và Bộ Tổng Tham Mưu. Vì là một sĩ quan bộ binh không được đào tạo về chuyên môn quân cụ, cho nên tôi hết sức bối rối với lệnh bổ nhiệm này. Bởi vậy khi được lệnh trình diện Tổng Thống Ngô đình Diệm trước khi đáo nhậm nhiệm sở mới, tôi thỉnh cầu Tổng Thống chọn một sĩ quan chuyên môn thay vì sĩ quan gốc bộ binh như tôi để đứng đầu ngành chuyên môn quan trọng hàng đầu của quân lực. Tổng Thống Diệm nghiêm sắc mặt nói với tôi: “Thế ai bày tôi làm tổng thống”. Sau đó tôi nhận được chỉ thị của tổng thống thực hiện công tác đặc biệt với chức vụ mới, đó là cố gắng tìm hoặc biên chế vũ khí và đạn dược nhằm trang bị cho lực lượng Dân Vệ hiện không được Mỹ đặt trong chương trình viện trợ. Dân vệ là tổ chức võ trang để bảo vệ an ninh nông thôn đang bị du kích cộng sản chĩa mũi dùi ra sức đánh phá.

Công tác đặc biệt mà Tổng Thống trao cho tôi lúc ấy phần nào phản ảnh sự mâu thuẫn giữa chính phủ Mỹ và VNCH về đường lối chỉ đạo chiến lược chống lại cuộc xâm lăng Miền Nam Việt Nam (MNVN) của cộng sản Bắc Việt (CSBV).

Nhắc lại bối cảnh chính trị phức tạp.

Hiệp định ngưng bắn Genève 21-07-1954 chia đôi Việt Nam, phía Bắc vĩ tuyến 17 do cộng sản (CS) kiểm soát. Chính phủ quốc gia kiểm soát phía Nam do chí sĩ Ngô đình Diệm mới từ ngoại quốc trở về nước lãnh đạo. Tình hình chính trị tại MNVN lúc ấy vô cùng đen tối: trên một triệu người rời bỏ quê cha đất tổ miền Bắc lánh nạn CS di cư vào miền Nam, các đảng phái quốc gia ở trong tình trạng phân hoá, tướng Nguyễn văn Hinh Tổng Tham Mưu Trưởng quân đội và một số sĩ quan thân Pháp công khai chống chính phủ, lực lượng võ trang giáo phái Cao Đài, Hoà Hảo và “đảng cướp” Bình Xuyên quyết liệt chống lại quyết định thống nhất quân đội của chính phủ. Tình hình chính trị chỉ ổn định sau khi Tổng Thống Diệm loại trừ dược tướng Hinh, dùng võ lực dẹp bỏ các lực lượng phản nghịch, dành lại nền độc lập trong tay thực dân Pháp, trưng cầu dân ý truất phế quốc trưởng Bảo Đại và thành lập nền Cộng Hoà vào ngày 26-10-1955. Nhiều chính khách cho rằng sự thành công của Tổng Thống Diệm trong việc ổn định tình hình rối ren tại Saigon sau Hiệp định Genève 1954 là một phép lạ chính trị.

Với nền tảng chính trị củng cố, chính nghĩa tỏ rạng, Hoa kỳ được yêu cầu viện trợ giúp chính phủ Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) cải tổ QĐVNCH, xây dựng phát triển một MNVN tự do và dân chủ . Theo đề nghị của Hoa kỳ, Tổng Thống Diệm gởi các sĩ quan cao cấp kể cả hàng tướng lãnh sang Hoa kỳ thụ huấn. Trong chương trình này, năm 1957, tôi được gởi đi thụ huấn khóa học Chỉ Huy và Tham Mưu tại trường Fort Leavenworth, Kansas. Mặt khác, để giải quyết tình trạng thiếu thốn về nhân sự của một quốc gia vừa thoát khỏi ách nô lệ, tổng thống Diệm đặc biệt chú ý đến việc đào tạo các cán bộ tương lai. Nổi bật nhất là thiết lập chương trình huấn luyện 4 năm đào tạo các sĩ quan hiện dịch tại Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam (TVBQGVN), tổ chức trường Quốc Gia Hành Chánh để đào tạo các cán bộ hành chánh dân sự với trình độ đại học. Để đối phó với các cán bộ cộng sản nằm vùng do CS để lại sau Hiệp Định Genève, chính phủ tổ chức chiến dịch Tố Cộng. Qua chiến dịch này, nhiều cán bộ hạ tầng CS bị bắt giữ hoặc quy thuận với chính quyền. Tổng Thống Diệm cũng thường tiếp kiến các tướng lãnh, những sĩ quan cao cấp và những giới chức dân sự giữ những chức vụ then chốt, vừa để giáo huấn khích lệ, vừa để trực tiếp lượng định hiệu quả thi hành công tác. Mặc dầu có dư luận phê bình về cách làm việc đi ra ngoài hệ thống chỉ huy thông thường của Tổng Thống Diệm, nhưng chính dưới chính thể đệ nhất cộng hoà, MNVN đã phát triển toàn diện các mặt chính trị, kinh tế, quân sự, văn hoá xã hội… phục vụ và nâng cao mức sống của người dân. Từ cảnh hỗn loạn sau Hiệp định Genève, chính phủ Ngô đình Diệm đã vượt qua được mọi khó khăn để xây dựng MNVN thành một quốc gia vững mạnh, phát triển kinh tế ngang bằng các quốc gia lân bang như: Thái Lan, Phi Luật Tân, Tân Gia Ba, Đại hàn, Đài Loan… Miền Bắc không còn hy vọng vào sự sụp đổ của MNVN sau Hiệp định Genève như Hồ chí Minh dự kiến để thôn tính MNVN bằng thủ đoạn chính trị.

Mâu thuẫn giữa Hoa Kỳ và chính phủ VNCH về chỉ đạo chiến lược chiến tranh

Vào tháng 11-1957, trong cuộc hành quân ở Ô Môn, Cần Thơ, VNCH bắt được một số cán binh Việt cộng (VC), tịch thu nhiều vũ khí mà về phẩm chất tối tân hơn hẳn những vũ khí cổ điển thế chiến thứ hai của QĐVNCH. Đây là bằng chứng cụ thể CSBV đã trang bị và lén lút đưa cán bộ tập kết trở lại MNVN. Trước đó một tháng, tháng 10-1957, CSBV đã quyết định cho thành lập 37 đại đội võ trang tại vùng đồng bằng sông Cửu Long và khơi động chiến dịch bắt cóc, ám sát, thủ tiêu các viên chức xã ấp VNCH. Riêng năm 1957 có khoảng 400 người bị sát hại. Năm 1958, sau cuộc tham quan bí mật tại MNVN, Lê Duẫn, một ủy viên trung ương đảng CS báo cáo với Trung Ương đảng bộ rằng chính phủ Ngô đình Diệm chẳng những không sụp đổ mà càng ngày càng vững mạnh. Do đó, năm 1959, CSBV quyết định chính thức phát động chiến tranh nhằm thôn tính MNVN dưới hình thức Chiến Tranh Nhân Dân với chiêu bài chống Mỹ Diệm, thành lập đoàn 559 để vận chuyển ngưởi và quân dụng vào MNVN qua đường mòn Hồ chí Minh. Về mặt chính trị, ngày 20-12-1960 Hà nội cho ra đời Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam (MTDTGPMN) để ngụy trang như là phong trào tự phát của nhân dân MNVN chống chế dộ Ngô đình Diệm.

Trong chiến tranh VN, có hai hình thức chiến tranh tiêu biểu: Hình thức Chiến Tranh Quy Ước (CTQU) và hình thức Chiến Tranh Nhân Dân (CTND):
- CTQU mang bản chất quân sự. Cứu cánh CTQU nhằm tiêu diệt lực lượng võ trang và chiếm đóng lãnh thổ của địch, đòn bẫy để thành đạt mục đích chính trị. Lượng giá kết quả các cuộc hành quân của Hoa kỳ và VNCH bằng số lượng địch bị tiêu diệt và võ khí địch bị tịch thâu, xuất phát từ tư tưởng chiến tranh quy ước của Carl Von Clausewitz với định nghĩa: Chiến tranh là sự kế tục của chính trị.
- Khác với CTQU, cứu cánh CTND của CS mang bản chất chính trị nhằm tranh thủ (hay kiểm soát) nhân dân từ cấp bộ hạ tầng thấp nhất. Trọng tâm chủ lực địch nằm trong tổ chức chính trị hạ tầng cơ sở quần chúng chứ không phải lực lượng võ trang. Cộng sản chẳng những không phủ nhận định nghĩa chính trị là mục đích của chiến tranh mà còn đi xa hơn nữa bằng tư tưởng của Mao trạch Đông với định nghĩa: Chính trị là chiến tranh không đổ máu và chiến tranh là chính trị có đổ máu.

Phản ứng của Hoa kỳ đối với tình trạng nông thôn ung thối lúc ấy là thành lập tổ chức mang danh National Intelligence Estimate. Nhưng thay vì theo rõi đánh giá chiến lược chiến thuật của CS, tổ chức này lại đặt trọng tâm công tác vào việc đánh giá chính quyền VNCH. Họ đưa ra nhận định rằng chính quyền Diệm đã không thỏa mãn những đòi hỏi của giới trí thức về tự do, dân chủ và đối lập rồi đưa ra kết luận: chính sách của chính phủ ông Diệm ngăn cản phát triển sự ủng hộ chế độ của đa số quần chúng (Lost Victory, Williams Colby, trang 56). Thực ra, hoạt động CS khủng bố, bắt cóc, thủ tiêu các viên chức xã ấp VNCH nằm trong khuôn khổ đường lối chiến lược CTND của CS, chứ không phải là hậu quả của phong trào nhân dân bất mãn đối với chính quyền.

Bất đồng quan điểm giữa chính phủ VNCH và Hoa kỳ về sự nhận thức chủ trương chiến lược CTND của CS thể hiện rõ qua chương trình viện trợ của Hoa kỳ lúc bấy giờ. Trong khi lực lượng Dân Vệ trở thành mục tiêu chiến lược bị CS ra sức đánh phá, thì Hoa kỳ lại đặt ưu tiên viện trợ cải tổ QĐVNCH theo mô thức tổ chức quy ước mà quân lực Hoa kỳ đã thành công trong chiến tranh Cao ly. Chính phủ VNCH đành phải tự xoay xở với những phương tiện nghèo nàn cổ hủ để trang bị cho tổ chức Dân Vệ. Sự bổ nhiệm cá nhân tôi làm giám đốc Nha Quân Cụ với công tác ủy nhiệm tìm hoặc biên chế vũ khí đạn dược cho Dân Vệ xẩy ra vào thời điểm này. Mãi cho đến đầu năm 1961, tức bốn năm sau kể từ khi cuộc chiến khởi sự (1957), Hoa kỳ mới đồng ý viện trợ các lực lượng diện địa với kế hoạch 68,000 Bảo An và 40,000 Dân Vệ.

Chương Trình Ấp Chiến Lược, chiến lược chống lại CTND của CS

CTND của CS lấy nhân dân và lúa gạo tại MNVN làm nguồn cung cấp về nhân lực và lương thực để phát động, tổ chức, nuôi dưỡng và phát triển chiến tranh. Cán binh CS không những có nhiều kinh nghiệm về hoạt động khuynh đảo, mà còn thừa hưởng kinh nghiệm đấu tranh chính trị và võ trang của toàn khối CS quốc tế. Họ xử dụng bất cứ thủ đọạn bạo lực nào miễn là phục vụ cho mục đích theo phương châm: Cứu cánh biện minh cho phương tiện. Trong khi đó, phía quốc gia mặc dầu có ưu thế chiến thuật về di động và hoả lực, gây cho địch nhiều tổn thất về nhân mạng và vũ khí trong các cuộc hành quân lớn nhỏ, nhưng tựu trung vẫn không dành được thế chủ động tại chiến trường. Tại nông thôn, CS tiếp tục nới rộng vùng kiểm soát, lực lượng võ trang địch mỗi ngày thêm lớn mạnh. Rõ ràng CS giữ được ưu thế chủ động về chiến lược. Trong chiến tranh, phe nào có ưu thế chiến lược, phe đó sẽ thành đạt thắng lợi cuối cùng. Đó là quy luật. Theo nhận xét của tướng Lionel C. McGarr, trưởng phái bộ quân sự Mỹ tại Saigon thì vào đầu năm1961, CS đã kiểm soát được 40% nông thôn, mặc dầu trong khi ấy phía CS cũng chẳng mấy khả quan, vì theo Lê Duẫn lực lượng quân sự của Diệm vẫn còn nguyên vẹn.

Để dành lại quyền chủ động trong chiến tranh, cuối năm 1961, chính phủ VNCH ban hành quốc sách Ấp Chiến Lược (ACL), một chương trình có quy mô lớn nhằm đối phó với chiến lược CTND của CS. Chương trình do ông Ngô đình Nhu, cố vấn chính phủ khởi xướng và được ủy nhiệm lãnh đạo thực hiện.

Giải pháp ACL là kết quả công trình nghiên cứu những kinh nghiệm của cuộc CTVN lần thứ nhất (1946-1954), những ý kiến của các chuyên gia Hoa kỳ và nhất là của Phái Bộ Anh Quốc tại Saigon do Sir Robert Thompson hướng dẫn. Ông Thompson đã từng thành công trong việc tiễu trừ phiến loạn CS tại Malysia. CT/ACL chủ trương vận dụng mọi khả năng quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội để vãn hồi an ninh tại nông thôn, ngõ hầu nâng cao mức sống của quảng đại quần chúng. CT/ACL lấy đon vị ấp làm địa bàn hoạt động.

“ACL là một ấp mà nhà cửa của dân chúng ở vào cùng một khu đất, có hàng rào bảo vệ, có chính quyền được bầu cử, dưới sự kiểm soát của chính phủ VNCH. Một ấp được coi là ACL khi hội đủ 6 tiêu chuẩn:
1. Có hàng rào bảo vệ
2. Có Ban Trị Sự do dân bầu ra
3. Có lực lượng Thanh Niên Chiến Đấu được huấn luyện và võ trang an ninh
4. Có kề hoạch phát triển kinh tế
5. Dân chúng được đoàn ngũ hoá
6. Có hương ước
Ngoài ra tuỳ theo khả năng yểm trợ của quận, tỉnh và trung ương, mỗi ấp còn có trường học, trạm y tế, phòng thông tin.

Về quân sự, mỗi ấp tiến tới chỗ có thể tự bảo vệ chống lại hoạt động của du kích CS cấp nhỏ, xây dựng hệ thống tình báo trong dân chúng, triệt hạ mạng lưới tình báo và hạ tầng cơ sở của VC, ngăn chặn VC thu thuế va thu góp thực phẩm cũng như phẩm vật khác dùng cho du kích.

Về chính trị, chính sách ACL nhằm mục tiêu xây dựng dân chủ ở xã ấp, chống nạn cường hào ác bá, nâng cao ý thức chính trị, củng cố tinh thần và ý chí chống cộng để phát triển kinh tế, xã hội, tự do, hoà bình. Các ban Trị Sự ACL do dân chúng bầu cử trực tiếp.

Về kinh tế, mỗi ấp phải có môt số dự án phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá. Mục tiêu tối thiểu là tự túc về lương thực căn bản (lúa, bắp, sắn) sau 2 năm. Ngoài ra còn có những dự án trồng cây công nghiệp nhỏ (cao su, kénaf, đay, bông, mía, cà phê…), các dự án ngư nghiệp, nhà máy chế biến thực phẩm do trung ương tài trợ. Một ấp mà vì điều kiện kém thuận lợi không có dự án kinh tế nào sẽ chỉ được coi là Ấp Chiến Đấu.

Về văn hoá, ACL còn có mục tiêu chống nạn mù chữ, xây dựng các trường sơ học, phát huy truyền thống dân tộc qua việc thực hiện hương ước giống như trong xã ấp thời xưa

Chính sách ACL đề ra mục tiêu hoàn thành việc xây dựng 2/3 trong hơn 8000 ấp của VNCH thành ACL vào năm 1964, và tiến tới xây dựng xong ¾ vào cuối năm 1964. Lúc đó, mục tiêu quân sự được quy định là trao toàn bộ trách nhiệm an ninh phòng vệ lãnh thổ cho Địa Phương Quân. Các bộ tư lệnh Vùng Chiến Thuật, Khu Chiến Thuật và Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu sẽ do Địa Phương Quân đảm trách. Các đại đơn vị quân đoàn, sư đoàn sẽ lưu động 100% trong nhiệm vụ tìm và diệt địch tạì các căn cứ địa của chúng”
(Tài liệu do Nguyễn công Luận, UBPHLB/ACL cung cấp).

Để thực hiện CT/ACL, ông Nhu đưa ra một loạt những chương trình phụ thuộc, nhưng không kém phần quan trọng như:
- Thành lập Ủy Ban Phối Hợp Liên Bộ tại Trung Ương và các Ủy Ban Phối Hợp tại các địa phương để điều hành.
- Tổ chức phong trào học tập trên toàn quốc để hướng dẫn tư tưởng chiến tranh qua quốc sách ACL.
- Tổ chức phong trào Thanh Niên Cộng Hoà có võ trang để vận động chính trị cũng như bảo vệ thôn ấp.
- Áp dụng chính sách chiêu hồi đối với các cán binh CS muốn trở về hợp tác với chính quyền quốc gia.

CT/ACL mới thực hiện được khoảng 2 năm và dĩ nhiên còn nhiều khiếm khuyết cần cải tiến thì bị hủy bỏ sau chính biến 1-11-1963. Tuy vậy, theo ông Williams Colby, cựu Giám Đốc Trung Ương Tình Báo HK: “Đây là lần đầu tiên, CT/ACL đã dành lại thế chủ động chiến lược trong cuộc chiến đương đầu với CS” (Lost Victory, Williams Colby, p.102). Wilfred G. Burchett, một ký giả Úc đại Lợi thân cộng, từng sống trong chiến khu CS và đã có dịp tiếp xúc với nhiều lãnh tụ VC viết như sau về ACL: “Về lãnh thổ cũng như về dân số, Diệm đã lấy lại được một phần đáng kể năm 1962.” Burchett ghi nhận :”Quân đội chính phủ đã dành lại được quyền chủ động về chiến lược và chiến thuật…. Năm 1962 là năm của Diệm.” (Triumph Forsaken, Mark Moyar, p.185)

CT/ACL và vấn đề chủ động chiến lược

Trong một buổi hội thảo về phòng thủ ấp tại Trung Tâm Hội Thảo ACL Suối Lồ Ô dành cho các viên chức cao cấp dân sự và quân sự, chúng tôi đặt vấn đề phải tổ chức phòng thủ chống lại các cuộc tấn kích ACL của VC như thế nào để vừa giữ được ấp, vừa bảo vệ được sinh mạng và tài sản của nhân dân, đáp ứng mục tiêu chính trị của CT/ACL là tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân trong ấp. Các hội thảo viên đề ra một số nguyên tắc:
- Về quân sự, chính sách ACL không đòi hỏi các ACL có khả năng chống trả các cuộc tấn công của lực lượng quân sự địch cấp địa phương. Trên lý thuyết, một tiểu đội hoặc một trung đội thanh niên chiến đấu để giữ an ninh ấp chỉ có thể làm nhiệm vụ chống du kích VC quấy rối, thâu thập tin tức, chiến đấu trì hoãn chờ lực lượng xung kích đến tiếp cứu.
- Bảo vệ an ninh ACL là trách nhiệm của các cấp bộ chỉ huy lãnh thổ địa phương.
- Cảc đơn vị giữ an ninh ấp và những đơn vị xung kích đến tiếp cứu phải luôn luôn nắm vững tư tưởng chiến lược là bảo vệ sinh mạng và tài sản của nhân dân.
- Đơn vị tiếp cứu chỉ có thể phát huy sở trường về ưu thế di động và hoả lực của mình bằng cách chặn đánh bẻ gẫy quy luật tác chiến của địch như tấn kích căn cứ xuất phát, phục kích đường tiến sát và rút lui của chúng bên ngoài hàng rào ấp, tránh tối đa giao tranh xử dụng pháo binh và súng cối trong nội vi hàng rào ấp.
- Hàng rào ấp không thể được coi là hệ thống phòng thủ chu vi của ấp. Rào kín ấp chỉ giúp cho việc tập trung dân cư để dễ kiểm soát và cản trở địch len lỏi tiếp xúc với các nông dân thâu góp thực phẩm và tiền bạc. Hàng rào ấp còn tạo tác dụng tâm lý an toàn trong ấp.

Như vậy, mấu chốt để dành quyền chủ động chiến lược của CT/ACL tuỳ thuộc vào hai yếu tố:
- (1) Toàn bộ các hoạt động quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội trong CT/ACL phải phục vụ cho mục tiêu chính trị là tranh thủ và bảo vệ nhân dân
- (2) Khả năng chiến thuật bẻ gẫy quy luật tác chiến địch của các đơn vị xung kích hành quân bảo vệ an ninh ấp, tuyệt đối tránh làm phương hại đến sinh mạng và tài sản của nhân dân trong ấp.

Chính biến 1-11-1963 và những hậu quả

Bất hạnh thay, CT/ACL đang tiến hành có kết quả hết sức khả quan thì xảy ra chính biến. Cuộc đảo chánh ngày 1-11-1963 do tướng Dương văn Minh cầm đầu được Hoa kỳ cổ võ, lật đổ chính phủ hợp pháp hợp hiến VNCH, sát hại TT Ngô đình Diệm và người em là ông cố vấn Ngô đình Nhu đã làm sụp đổ nền cộng hoà và chương trình ACL. Sau chính biến, các tướng lãnh lo gây phe cánh để tạo uy thế chính trị làm hàng ngũ quân đội chia rẽ, tệ trạng tham nhũng lan tràn, lòng dân ly tán. Sự chỉ đạo chiến tranh từ nay do Hoa kỳ quyết định, tạo cớ để CSBV giương cao được ngọn cờ chính nghĩa dưới “chiêu bài” Chống Mỹ Cứu Nước, ồ ạt đưa quân tăng viện MTDTGPMN trong mưu đồ thôn tính MNVN. Tình trạng bất ổn này kéo dài mãi cho đến khi Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu ổn định được tình hình chính trị vào năm 1967. Mặc dầu sau này CT/ACL được tiếp nối bởi các chương trình Ấp Tân Sinh, Ấp Đời Mới… nhưng vì mất đi yếu tố chính nghĩa, cho nên về phẩm chất đã không thể đạt được mục đích chính trị ở mức độ cao như CT/ACL nguyên thủy.
Ký giả thân cộng Wilfred G. Burchett phát biểu khi nghe tin TT Diệm bị lật đổ: “Thật là không thể tin được: chúng nó đã giết người duy nhất có tư tưởng và tổ chức có thể chặn chúng tôi”.
Về phía các lãnh tụ MTDTGPMN thì họ không ngờ là họ lại may mắn như thế. Nguyễn hữu Thọ nói với báo Nhân Dân: “Sự lật đổ Diệm là món quà mà trời ban cho chúng tôi”
Hồ chí Minh thì nói với một nhóm cán bộ: “…Ông Diệm là kẻ thù ghê gớm nhất của Bác. Nay Ông đã bị loại rồi, thì chiến thắng chắc chắn về ta rồi.” (Trích bài: Phe CS nghĩ sao về TT Ngô đình Diệm - Tôn thất Thiện - Lễ tưởng niệm cố TT NĐD 2006)
Nói tóm lại, sự sụp đổ chính phủ Ngô đình Diệm đã dẫn đến nhiều hậu quả vô cùng tai hại cho Hoa kỳ và MNVN:
- Sai lầm nghiêm trọng khi quyết định xoá bỏ CT/ACL sau chính biến 1-11-1963.
- VNCH mất đi yếu tố chính nghĩa, quân lực Hoa kỳ phải thay thế QLVNCH bình định chống lại quân CSBV. Vai trò QLVNCH xuống cấp trở thành đoàn quân phụ thuộc cho quân lực Hoa kỳ.
- Khủng hoảng lãnh đạo chính trị tại MNVN đã vô phương cứu vãn.
- Hoa kỳ phải trả giá quá mắc về sinh mạng, tiền bạc và uy tín quốc tế do sự thất bại tại MNVN.
- MNVN bị CSBV cưỡng chiếm.

Những điểm tương đồng và khác biệt giữa CTVN và CT Afghanistan

Trở lại trường hợp chiến tranh Afghanistan, có nhiều điểm tương đồng và khác biệt so với chiến tranh VN:

Nhửng điểm tương đồng:
- Xét về mặt bản chất thì CSVN và phiến quân Taliban đều dựa trên nền tảng nhân dân để tiến hành cuộc chiến tranh, cho nên cả hai cuộc chiến đều mang bản chất chính trị dưới hình thức CTND được áp dụng tại VN. CSVN lấy chủ nghĩa CS và sự khát khao nền độc lập cho xứ sở để vận dụng sự đồng tình tham gia của quần chúng. Phiến quân Taliban lợi dụng bản chất cực đoan sẵn có của một hệ phái Hồi giáo để vận động tín đồ.
- Cả CSVN lẫn phiến quân Taliban đều nêu cao ngọn cờ chính nghĩa dựa trên chiêu bài tranh đấu chống ngoại bang dành lại chủ quyền quốc gia để vận dụng lòng yêu nước và khí thế đấu tranh.
- Cả CSVN lẫn phiến quân Taliban đều áp dụng thủ đoạn bạo lực khủng bố không giới hạn theo phương châm: cứu cánh biện minh cho phương tiện.
- Cả CSVN lẫn phiến quân Taliban đều dùng biên giới với dịa thế hiểm trở làm căn cứ xuất phát cho các hoạt động khủng bố.
- Cả hai cuộc chiến đều mang tính chất trường kỳ và toàn diện. Yếu tố thời gian thuận lợi cho phía CSVN và phiến quân Taliban, trong lúc đó Hoa kỳ và đồng minh rất khó khắc phục nhược điểm của một quốc gia tự do dân chủ dễ nản lòng đối với cuộc chiến kéo dài với nhiều thương vong.
- Cũng như trong CTVN, Hoa kỳ VNCH đã mất thời gian dài trước khi đề ra chiến lược hữu hiệu cho cuộc chiến. Tại VN, Hoa kỳ và VNCH đã mất thời gian 4 năm, còn tại Afghanistan, Hoa kỳ và NATO đã mất thời gian 8 năm. Thời gian là một yếu tố cực kỳ quan trọng trong chiến tranh và chiến đấu.
- Chỉ có chính quyền hợp pháp được nhân dân bản xứ ủng hộ mới có thể đối phó hữu hiệu với chiến tranh khuynh đảo.

Những điểm khác biệt:
- Cuộc chiến tại Afghanistan phục vụ cho quyền lợi và nền an ninh của Hoa kỳ.
- CSVN có hậu phương rất vững chắc và to lớn là Cộng Sản Bắc Việt và toàn khối cộng sản quốc tế, đặc biệt là Nga sô và Trung cộng hỗ trợ về các mặt chính trị, tâm lý, kinh tế, võ khí, quân dụng, nhân sự… và kinh nghiệm đấu tranh khuynh đảo. Phiến quân Taliban chỉ nhận được sự hỗ trợ giới hạn của thế giới Hồi Giáo.
- Phiến quân Taliban không có (hoặc chưa có) khả năng tiến hành hình thức chiến tranh CTQU kết hợp với chiến tranh du kích ở quy mô lớn như CSVN.
- Chính phủ Afghanistan không có sẵn tổ chức quân đội và cơ cấu hành chánh quy mô như chính phủ VNCH.

Sự bổ nhiệm Đại tướng Stanley A. McChrystal làm tư lệnh chiến trường Afghanistan với khuynh hướng chiến lược bảo vệ sinh mạng và tài sản nhân dân Afghanistan của quân lực Hoa kỳ và NATO dường như phản ảnh chiến lược CT/ACL của VNCH trước đây.

Để dành lại quyền chủ động chiến lược, kinh nghiệm về CT/ACL trong CTVN cho thấy, vấn đề quan trọng hàng đầu khi có sự thay đổi chiến lược trong chiến tranh là toàn thể các giới chức lãnh đạo dân sự, quân sự, các cơ cầu và các tổ chức quân dân chính liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến chiến trường cần đạt được sự thống nhất về tư tưởng chỉ đạo chiến lược. Phương pháp hữu hiệu nhất là phát động một phong trào học tập ở mọi cấp bộ về tư tưởng chiến lược mới. Bản thân tôi đã tham dự một khóa hội thảo về CT/ACL do Ủy Ban Phối Hợp Liên Bộ Trung Ương của CT/ACL tổ chức vào năm 1962, cho nên tôi nhận thức được nhu cầu và lợi ích của phong trào học tập thống nhất tư tưởng chỉ đạo.

Hiện nay Hoa kỳ và NATO tại Afghanistan đang nắm ưu thế về quân sự tại chiến trường, thế nhưng trong chiến tranh khuynh đảo, chính trị mới là nền tảng, bởi vậy sự thành công hay thất bại của cuộc chiến lại tuỳ thuộc vào yếu tố hình thành một chính quyền hợp pháp và vững mạnh tại địa phương. Chính quyền ấy không những phải đáp ứng quyền lợi và khát vọng của nhân dân Afghanistan mà còn phải phù hợp với quyền lợi và mục tiêu của Hoa ky và đồng minh. Đó là một vấn đề hết sức khó khăn, nhưng nếu không khai thông được vấn đề chính trị, thì rất có thể Hoa kỳ sẽ đi vào vết xe lầy như trong chiến tranh VN.

Viết nhân ngày giỗ cố tổng thống Ngô dình Diệm năm 2009

TIN TỨC
Về NGƯỜI RỪNG CAO MIÊN

Cambodia's 'jungle woman' in hospital
AAP October 30, 2009, 8:22 pm

Cambodia's "jungle woman", whose story gripped the country after she apparently spent 18 years living in a forest, was hospitalised after refusing food, her father and a doctor said on Friday.
But the tale of Rochom P'ngieng, which has involved disputes over her real identity and how she spent her missing years, took a further twist when her father then removed her from the clinic against doctors' advice.
Rochom P'ngieng went missing as a little girl in 1989 while herding water buffalo in Ratanakkiri province around 600km northeast of the capital Phnom Penh.
In early 2007 the woman was brought from the jungle, naked and dirty, after being caught trying to steal food from a farmer. She was hunched over like a monkey, scavenging the ground for pieces of dried rice in the forest.
She could not utter a word of any intelligible language, instead making what Sal Lou, the man who says he is her father, calls "animal noises".
Cambodians described her as "jungle woman" and "half-animal girl".
Sal Lou told AFP by telephone on Friday that Rochom P'ngieng was admitted to the provincial hospital on Monday.
"She has refused to eat rice for about one month. She is skinny now.... She still cannot speak. She acts totally like a monkey. Last night, she took off her clothes and went to hide in the bathroom," Sal Lou said.
"Her condition looks worse than the time we brought her from the jungle. She always wants to take off her clothes and crawl back to the jungle," he added.
But he said in a later call that he had brought her home because it was too difficult to keep her from fleeing the hospital.
"We have to hold her hand all the time (at the hospital). Otherwise she would take her clothes off and run away," he said, adding that he would now appeal to charities to take over her care.
Doctor Hing Phan Sokunthea, director of Ratanakkiri provincial hospital, confirmed that Sal Lou had defied medical advice and checked her out of the hospital.
"We wanted to monitor her situation more, but we don't know what to do because the father already took his daughter out of hospital," he said.
The jungles of Ratanakkiri - some of the most isolated and wild in Cambodia - are known to have held hidden groups of hill tribes in the recent past.
In November 2004, 34 people from four hill tribe families emerged from the dense forest where they had fled in 1979 after the fall of the genocidal Khmer Rouge regime, which they supported.

Thursday, October 29, 2009

Nằm Vùng Hải Ngoại

TRẦN BÁ PHÚC -Melbourne- Úc Châu
CHÍNH THỨC CÓ TÊN TRONG MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT CỘNG.

From: N Nguyen Subject: Danh sachTo: Received: Wednesday, 28 October, 2009, 2:13 PM

Kính chuyển


- Có một số người vẫn chưa biết về một số Việt gian có tên trong danh sách của "UỶ BAN TRUNG ƯƠNG MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM KHOÁ VII" (VC) nay xin chuyển lại một lần nữa.

295. Bà Trương Kim Anh, Giám đốc Đối ngoại Cty Thương mại hải sản bang Texas, Cố vấn đối ngoại cộng đồng người Châu Á của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ

296. Ông Nguyễn Trọng Bình, Tiến sĩ- Trung tâm Nghiên cứu phát triển toàn cầu PFIZER, California, Hoa Kỳ
298. Ông Nguyễn Quý Đạo, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp
300. Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Chủ tịch Hội hỗ trợ Phụ nữ và TN Việt Nam tại Đức
302. Ông Hoàng Lộc, Phó Chủ tịch Hội người Việt Nam tại Anh
303. Ông Nguyễn Thành Mỹ, Chủ tịch Công ty American Dye Sou rce- Canađa
304. Ông Hà Thuỷ Nguyên, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Hà Thuỷ Nguyên, Kiều bào tại Newzealand.


305. Ông Trần Bá Phúc, Luật sư- Chủ tịch Hội Việt Kiều thành phố Melbourne- Australia


306. Ông Cao Văn San, Chủ tịch Hội người Việt Nam tỉnh Sakon Nakhon- Thái Lan
307. Ông Lê Văn Tâm, Giám đốc Công ty Vinaseiko, Hội viên Tổng hội người Việt Nam tại Nhật
308. Ông Nguyễn Văn Thái, Chủ tịch Hội Người Việt Nam tại Ba Lan “Đoàn kết và Hữu nghị”
309. Ông Hoàng Đình Thắng, Chủ tịch Hội người Việt Nam tại Séc
310. Ông Ngô Xuân Thanh, Kiều bào tại Đan Mạch.
311. Bà Phan Bích Thiện, Chủ tịch Hội Phụ nữ Việt Nam tại Hungary

Xin vào link bên dưới để xem cho rỏ -
http://www.mattran. org.vn/Home/ daihoi7/daihoiMT TQVN-1.htm# 3

TIẾNG NÓI MỘT NGƯỜI SINH TRƯỞNG Ở MỘ ĐỨC.
Đỗ Mai Lộc.

***Mt68: Kính xin bà con xử dụng kiến thức của NGƯỜI VIỆT TỰ DO để đọc bài viết trong lòng địch nầy./- mt68

Tưởng niệm 50 năm ngày ông Phạm Văn Đồng ký công hàm công nhận Hoàng Sa, Trường Sa thuộc Trung Quốc..
Tôi xin tự giới thiệu: Tôi là một công dân sinh ra và lớn lên trên quê hương Mộ Đức của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng, được đào tạo liên tục từ tiểu học lên đại học một cách chính quy dưới mái trường xã hội chủ nghĩa. Về mặt gia đình tôi gọi ông Đồng bằng ông. Do nhà gần và có quan hệ nhất định nên trong gia đình tôi có người cũng theo ông Đồng rồi bị Pháp bắt và sát hại từ những năm 1930.Tôi không có ý khoe khoang nhưng tôi muốn nói rằng không có lý do gì mà bản thân tôi lại không tự hào và kính trọng ông Phạm Văn Đồng.Đúng là thế hệ chúng tôi đã từng rất tự hào là quê hương đã sinh ra một người con ưu tú.


Một sự tự hào đã được giáo dục để trở thành "bản năng", như là một "phản xạ không điều kiện", mà trong tất cả các bài tập làm văn chúng tôi đều phải có những câu đại loại: "tự hào là một học sinh dưới mái trường XHCN, tự hào được sống trong thời đại Hồ Chí Minh, tự hào quê hương đã sinh ra Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại", vân vân và vân vân.Nhận thức về sự kính trọng và tự hào cũng được đúc ra từ những khuôn mẫu có sẵn nhưng rồi cũng đến lúc chúng tôi cần tìm hiểu về những gì mình đã từng tự hào kính trọng. Chẳng hạn, cái gọi là mái trường XHCN mà chúng tôi ca ngợi cho đến bây giờ như thế nào vẫn chưa định hình được. Ngày xưa học dưới mái trường XHCN còn bây giờ đang "định hướng" XHCN nhưng lại được đánh giá là xã hội phát triển, có nghĩa là càng đi xa CNXH thì xã hội càng phát triển!Còn về ông Hồ Chí Minh thì nhiều người đã nói rồi, tôi chỉ có thể ghi thêm lời dân gian quê chúng tôi ta thán:Sống dưới triều đại Cha HồLàm con thì được, làm người thì không.Hôm nay, là người dân Mộ Đức, tôi nói về ông Đồng - hơn 30 năm làm Thủ tướng, ông đã làm được gì cho đất nước, quê hương.Gọi ông là một nhà ngoại giao, một nhà chính trị tài ba đã giành chiến thắng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là không đúng, bởi vì cuộc chiến tranh này có thể tránh được. Vả lại "thắng" nhưng không có "lợi", những người Mỹ, chính sách Mỹ mà ông chống, bây giờ được mời quay lại Việt Nam. Cũng không có "nhà ngoại giao tài ba" nào lại ký công hàm công nhận lãnh thổ của mình cho quốc gia khác.

Nếu gọi ông là một nhà kinh tế cũng không đúng; vì lúc có một nửa đất nước ở miền Bắc ông không đưa ra được quốc sách nào có tính vĩ mô để tăng trưởng kinh tế, ngoài chính sách "tiết kiệm" để tích lũy, kiểu như "hạt gạo cắn làm hai, làm ba". Còn sau tháng 4/1975 với chính sách hợp tác xã nông nghiệp và di dân đi kinh tế mới, ông đã bần cùng hóa cả miền Nam, vốn trước đó là một nước mạnh trong khu vực Đông Nam Á.Nói ông là một nhà lý luận, một nhà văn hóa cũng không ổn. Ông có câu nói với thanh niên, học sinh: "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội cần phải có những con người mới xã hội chủ nghĩa" nhưng ông lại vòng vo về cái chủ nghĩa xã hội và con người xã hội chủ nghĩa của ông. Con người mới khác con người cũ cái gì? Kiểu như "con gà, cái trứng" hay chính sách "có hộ khẩu mới có việc làm, có việc làm mới cho nhập khẩu" dưới thời của ông. Còn về văn hóa thì hình như ông hơi thiếu vốn tiếng Việt nên thường dùng đệm tiếng Pháp trong văn nói.Người dân Mộ Đức "kính trọng" ông lắm! Tôi xin kể một số giai thoại về ông Đồng ở quê hương Mộ Đức:Thời kỳ còn hợp tác xã nông nghiệp, mỗi lần ông về quê là dân Mộ Đức tới khổ. Trước khi ông về là tập trung ngụy quân, ngụy quyền tham gia chế độ cũ lên núi để tiếp tục học tập cải tạo cho đến khi nào ông đi mới thả về.Trên tuyến đường ông qua, hai bên đường được bón rất nhiều phân urê, lúa xanh đậm thấy rất đẹp mắt. Ông khen địa phương làm ăn giỏi, chẳng mấy chốc nữa sẽ tiến lên Chủ nghĩa cộng sản. Nhưng đến khi ông đi thì chỗ phân nhiều bị cháy, chỗ thiếu phân còm cõi không trổ bông nổi. Mỗi lần ông về quê, một ngày công của xã viên được 4 lạng lúa (0,4 kg)!Có một năm các xã ven biển ở Mộ Đức như Đức Lợi, Đức Minh, Đức Phong có con cá ông (dân biển gọi cá voi là cá ông, cá bà) cứ bơi lởn vởn ngoài biển ngang làm ghe tàu nhỏ của ngư dân không dám ra biển đánh cá; còn ở xã miền núi Đức Phú thì đêm đêm nhiều bầy heo rừng ra phá hoại hoa màu của dân, chính quyền địa phương bất lực. Gặp lúc ông Đồng về quê, nghe báo cáo tình hình địa phương xong, sáng hôm sau ông xuống biển chờ cho cá ông nổi lên ông nói "Yêu cầu các đồng chí kết nạp cá thành xã viên hợp tác xã". Cá ông nghe thế lặn tuốt ra biển.

Chiều đến, ông lên núi xem hoạ heo rừng phá hoại hoa màu. Ông cũng nói với cán bộ địa phương cho chúng vào hợp tác xã là chúng sẽ thuần hết, nhưng cán bộ địa phương nói: "thưa bác, chúng nó đã vào hợp tác xã lâu rồi, chúng cũng làm ăn tập thể đàng hoàng, lúc nào xuống phá bà con cũng đi hàng đàn từ vài ba chục con trở lên". Ông Đồng nói: "Vậy thì cho đi kinh tế mới!". Kể từ tối hôm ấy cả xã Đức Phú không còn con heo rừng nào dám ra phá nữa.Có người hỏi ông Đồng, sao ông không nhận để người ta gọi bằng Bác, ông nói: "Ông Hồ xưng là Cha, nếu tôi xưng là Bác, tức là anh của ông Hồ à!"Có lần ông tới thăm nhà chị là bà Thừa Xuân, có mảnh vườn trồng rau để ăn và để bán. Hồi đó tiền có giá, ông nghe người ta mua bán nhau nắm rau, quả cà, cứ nói "một đồng, hai đồng", ông giận lắm vì bị mấy bà hàng xén ở chợ gọi tên huý ra. Sau đó ông về Hà Nội và quyết định "nâng" tiền Việt Nam , để từ đó người ta không kêu "một đồng hai đồng" nữa mà chuyển qua "một ngàn, hai ngàn" cho đến bây giờ.Sự kính trọng của người dân Mộ Đức đối với ông Đồng là như thế đó. Còn sự tự hào thì sao? Sau khi biết được ngày 14/9/1958 ông Phạm Văn Đồng ký công hàm công nhận quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Trung Quốc thì người dân Mộ Đức cảm thấy nhục nhã thay cho ông. Cuộc đời con người hay chế độ chính trị có thể có nhiều sai lầm, nhưng bán đất bán nước cho ngoại bang thì là sai lầm không thể tha thứ được. "Noi gương" ông là Trần Đức Lương - với tư cách là Chủ tịch nước đã ký hiệp định đường biên trên bộ và trên biển tiếp tục nhượng đất và biển cho Trung Quốc.Rồi đây, lịch sử dân tộc Việt Nam sẽ ghi: - Ông Phạm Văn Đồng quê ở Mộ Đức, Quảng Ngãi, với tư cách là Thủ tướng Chính phủ, ngày 14/9/1958 đã ký công hàm công nhận quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Trung Quốc.- Ông Trần Đức Lương quê ở Đức Phổ, Quảng Ngãi, với tư cách là Chủ tịch nước, ngày 30/12/1999 đã ký Hiệp ước biên giới trên đất liền nhượng cho Trung Quốc hàng ngàn cây số vuông, tiếp đến ngày 25/12/2000 đã ký Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ tiếp tục nhượng hàng chục ngàn cây số vuông mặt biển cho Trung Quốc.Vậy là Quảng Ngãi có hai tội đồ cùng tham gia bán nước dưới triều đại Hồ Chí Minh.

Nhân dân Mộ Đức, Quảng Ngãi có thể có sự kính trọng, tự hào được không? Không, hoàn toàn không! Ngay cả chính con cháu trong tộc họ Phạm không ai dám ngẩng cao đầu để tự hào là con cháu ông Phạm Văn Đồng. Họ cũng biết rằng, Nguyễn Thân (quê ở Thạch Trụ, Mộ Đức, Quảng Ngãi) là đại thần triều Nguyễn câu kết với thực dân Pháp chống phá phong trào Cần Vương, tiêu diệt nghĩa quân Phan Đình Phùng, sau năm 1945 đã bị Việt Minh cho đào phá toàn bộ mồ mả, nhà cửa (Có lẽ vì vậy mà Cộng Sản không dám đưa ông Phạm văn Đồng về chôn ở quê nhà, còn ông Trần Đức Lương khi hết làm chủ tịch nước cũng không dám về Quảng Ngãi).Kể ra thì ông Đồng cũng biết sám hối, khi cuộc đời đã xế chiều sống trong bóng tối của sự mù lòa và của xã hội ông tham gia tạo nên; vị thủ tướng ba phải, hiền lành đến nhu nhược, đã có câu nói trứ danh "Không ai làm thủ tướng lâu như tôi và cũng không ai làm khổ dân nhiều hơn tôi!" – có lẽ đó là câu nói duy nhất đúng trong cuộc đời của ông.Không những ông làm khổ dân lúc còn sống, mà ông còn làm khổ dân khi đã chết. Biết bao giờ nhân dân Việt Nam mới lấy lại được Trường Sa, Hoàng Sa? Còn người dân Quảng Ngãi tiếp tục è cổ ra nộp thuế để xây lăng mộ cho dòng họ Phạm của ông, xây bảo tàng, nhà tưởng niệm Phạm Văn Đồng. Ngày 1/9/2008 Quảng Ngãi đã khánh thành "Khu lưu niệm Phạm Văn Đồng"; theo thông báo chính thức từ chính quyền, tổng kinh phí hơn 46 tỉ đồng, trong đó phần xây lắp hơn 20 tỉ, trên diện tích hơn 2 ha (Giá đất là 1,3 triệu/m2, trị giá đất khoảng 26 tỉ). Bốn mươi sáu tỉ kia có thể làm được những gì cho nhân dân Mộ Đức, Quảng Ngãi? Xin thưa:- Xây dựng 3.067 ngôi nhà cho người nghèo;- Tạo điều kiện cho 115.000 trẻ em nghèo có điều kiện mua sách vở đến trường trong năm học mới;- Là tiền thuế của 144.230 người dân Mộ Đức trong 2 năm (Dự toán thu ngân sách năm 2008 của huyện là 23,1 tỉ đồng)Đó là chưa tính đến các chi phí khánh thành, duy tu, chi lương cho nhiều người trông coi, bảo vệ.Một người con của quê hương núi Ấn sông Trà, nhưng đến khi chết rồi vẫn còn làm khổ nhân dân Quảng Ngãi, có phải vì ông là đảng viên Cộng sản, học trò của Hồ Chí Minh không? Trong khi cụ Huỳnh Thúc Kháng, quyền chủ tịch nước đầu tiên của Việt Nam dân chủ cộng hòa, yên nghỉ trên núi Ấn lộng gió, ngôi mộ đơn giản được xây dựng từ thời ông Ngô Đình Diệm, ngày ngày khách trong ngoài nước, đủ mọi thành phần đến viếng thăm đều thể hiện lòng tôn kính."Vạn Niên là Vạn Niên nàoThành xây xương lính, hào đào máu dân"Câu ca dao xưa đi vào tiềm thức của thế hệ chúng tôi, "thế hệ sinh ra và lớn lên dưới mái trường xã hội chủ nghĩa"; câu ca dao khơi mào cho cuộc khởi nghĩa nông dân mang tên "khởi nghĩa Chày Vôi" (năm Bính Dần 1866) xuất phát từ việc xây dựng Vạn niên cơ, quân sĩ và dân phu phải làm lụng khổ sở, nhiều người oán giận, vua Tự Đức một thời đã đi vào lịch sử dân tộc là vị vua hôn quân vô đạo.

Tôi đã đến lăng mộ vua Tự Đức, cũng đã đến khu tưởng niệm Phạm Văn Đồng. Trên tất cả mọi phương diện (đất đai, diện tích, quy mô, kinh phí, thời gian, …) lăng Tự Đức còn lâu mới bằng khu tưởng niệm Phạm Văn Đồng - một vị thủ tướng dưới chế độ XHCN còn hơn cả vị hoàng đế của triều đại phong kiến, ngay cả khi đã chết.Lịch sử rất sòng phẳng. Thời gian trôi qua, dân tộc sẽ có cái nhìn khách quan hơn, đánh giá công, tội một cách rõ ràng; sự kính trọng đối với từng nhân vật lịch sử không cần phải áp đặt, cưỡng chế.

Là một người dân Mộ Đức, tôi cảm thấy có tội khi nói thêm (Quê tôi) "là quê hương của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng"./-
Đỗ Mai Lộc..
Mộ Đức, Quảng Ngãi, Việt Nam .

Wednesday, October 28, 2009

VÀI Ý KIẾN DÈ DẶT
Về vụ PHƯƠNG HỒ/ San José


- Một số đồng bào nêu ý kiến là cộng đồng người Việt không nên hàm hồ, dễ bị kích động để bênh vực cho một người không tôn trọng luật pháp, ăn nói hung hăng, dọa giết người khác nếu ở Việt Nam, và hung dữ như vậy. Và nên để cảnh sát “dạy” anh ta một bài học.

- Một số ý kiến thì cho rằng chuyện gì ra chuyện đó. Anh Hồ Phương sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật hành vi hung hăng và dùng ngôn ngữ đe dọa của anh ta, mà chính vì vậy mới có cú gọi 911 và cảnh sát mới ập đến. Và cảnh sát phải chịu trách nhiệm về hành vi “brutality” (hung tợn, dã man) của mình, nếu tòa xét cảnh sát phạm lỗi như thế. Câu chuyện nên chờ toà xét xử và chúng ta nên chờ đợi./-

Tin từ Cali.

Đỉnh cao "TRÍ TỆ" của NGUYỄN MINH TRIẾT.
VietCatholic News
Thứ Bảy , Ngày 24/10/2009



Đỉnh cao trí tuệ là một danh-tính từ do người cộng sản tự chế ra. Họ dùng để chỉ chính họ. Vì trí tuệ là một tính từ-danh ngữ đã có từ trước người cộng sản, người ta vẫn dùng để chỉ khả năng nhận thức lý tính của con người đã đạt đến một trình độ nào đó (Phải là cao trên trung bình). Nếu người cộng sản chỉ dừng lại là có trí tuệ thôi, thì sợ rằng họ không hơn người (?) Cho nên họ gắn thêm tổ hợp từ đỉnh cao vào. Có trí tuệ đã là điều tốt. Trí tuệ này lại đứng hàng đầu, số 1, trên đỉnh. Nghĩa là trí tuệ của người cộng sản là tốt nhất. Một trong cái tốt nhất, cái đỉnh cao trí tuệ vừa được hé lộ bằng ngôn từ cho bàn dân thiên hạ trên trường quốc tế được chiêm nghiệm: “Có người ví von, Việt Nam - Cu Ba như là Trời Đất sinh ra, một anh ở phía đông, một anh ở phía tây chúng ta thay nhau canh giữ hoà bình cho thế giới. Cu Ba thức thì Việt Nam ngủ, Việt Nam gác thì Cu Ba nghỉ” – Trích y nguyên lời Nguyễn Minh Triết UVBCTĐCSVN, chủ tịch nước CHXHCNVN phát ngôn ngày 03/10/2009 tai Cu Ba. Xét trên nhãn quan duy vật biên chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin, thì lời nói này của Nguyễn Minh Triết là rất “phản động” bởi thuyết duy vật biện chứng đã chỉ ra rằng mọi sự vật hiện tượng trong vũ trụ này là tự có, không có ai sinh ra cả. Hơn nữa Trời và Đất là của chung, nếu cũng sinh ra hai ông cộng sản này, thì hoá ra những người cộng sản đỉnh cao trí tuệ lại chung dòng máu với đám người “tư bản bóc lột” “đế quốc sài lang” “Trí phú địa hào” “Tiểu tư sản hèn nhát” hay sao ??? Xét trên lập trường gia cấp, thì đây là biểu hiện của sự xa rời lập trường của giai cấp công nhân, vốn coi mọi giai tầng khác là “đồ bỏ đi” chỉ có giai cấp công nhân là lực lượng tiến bộ duy nhất có thể lãnh đạo được xã hội. Giai cấp công nhân là lực lượng “vô địch” – Không ! nhất quyết không có chuyện người cộng sản có cha mẹ là Trời Đất, không có chuyện người cộng sản chung dòng máu với bất cứ giai tầng người nào khác. Xét ở góc độ hiện tình cách mạng xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn phức tạp hiện nay, thì đây là biểu hiện của “tự diễn biến”. Chủ nghĩa cộng sản vô thần khoa học nhất quyết không thừa nhận có Thần có Thánh, có Trời có Đất vậy mà Nguyễn Minh Triết dám cả gan cổ võ cho chủ thuyết hữu Thần, lại còn ví von này nọ để né tránh trách nhiệm – Nham hiểm quá. Có thể Nguyên Minh Triết là “gián điệp của Vatican” ? Đang bí mật làm nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa bị “trệch ray” - Khởi đầu bằng việc cấy vào đầu óc người cộng sản “đỉnh cao trí tuệ” tư tưởng có Thượng Đế. Nguy hiểm quá ! khi xưa Gocbachop cũng bị tổng thống Regan cấy vào đầu tư tưởng có Thượng Đế … Rồi bắt đầu ông ta kéo sập cả hệ thống cộng sản ở Âu Châu … Đích thị Nguyễn Minh Triết đang làm cái tự diễn biến rồi … Xét ở góc độ tinh thần “phê và tự phê” của cán bộ đảng viên cộng sản, thì đây là biểu hiện của sự thái hoá biến chất. Vừa không dám phê, vừa không tự phê. “Có người nói” - Người đó là ai, sao không tìm hiểu sao không vạch mặt chỉ tên nó ra. Mai mốt có thằng nó lật đổ chế độ cũng không biết tên biết mặt nó thì làm sao mà chống ??? Rồi cũng không biết mình thiếu xót mà tự phê, lại còn lấy cái thằng “không ai cả” ra mà viện dẫn ra đều tâm đắc lắm. Không có mảy may tinh thần phê và tự phê của đạo đức cộng sản chủ nghĩa - Hỏng !Xét ở góc độ liêm sỉ, thì những lời nói này của Nguyễn Minh Triết rõ ràng là do ông ta phát ngôn ra. Lần đầu tiên người ta được nghe thấy, vậy mà ông ta lại đổ vấy cho một người không rõ tên tuổi địa chỉ đã nói ở đâu đó, vào một thời điểm nào đó ông ta cũng không biết… Quân tử thì phải nhất ngôn, phải trung ngôn. Đằng này ông Triết lại loạn ngôn, đã thế lại vừa nói vừa cười, mồm nói tay chỉ vung vít … không có lịch sự, không biết xấu hổ là gì – Các cụ dân tộc Việt ta xưa gọi là vô liêm sỉ. Xét ở góc độ ngữ nghĩa ngôn từ thì hoà bình thế giới chưa bao giờ phụ thuộc vào phía đông hay phía tây. Đông hay tây là còn tuỳ thuộc vào vị trí gốc để định vị nữa. Hoà bình thế giới là một tình trạng chung của nhân loại, không phụ thuộc vào một vài cá nhân, một vài quốc gia… Lại càng không phụ thuộc vào ai ai đó canh giữ. Hãy mở mắt ra mà coi an ninh Mỹ còn thiếu vũ khí, phương tiện gì để canh giữ quốc gia đâu, vậy mà có vụ 11-9. Dù nó nổ ra trong một giây – Nhưng như thế có gọi là hoà bình được không ??? Mặt khác người cộng sản từng xuống tay giết hơn 100 triệu dân thường vô tội, tay không vũ khí. Trong đó cộng sản Việt Nam đóng góp không dưới 10 triệu, thậm chí csvn giết nhầm cả người đồng chí mình giết xong phải sửa sai bằng cách phong liệt sĩ (chiến sĩ cách mạng Dương Văn Đời). Nay ông Triết tự phong “chúng ta thay nhau canh giữ hoà bình cho thế giới” – Nghe buồn nôn quá ! Xét ở góc độ thực tiễn lịch sử. Hôm nay lịch sử đã minh bạch, đã vạch mặt chỉ tên kẻ ngụy chân lý. Chủ thuyết cộng sản đã phá sản nhẵn tiền. Cả hệ thống cộng sản đã sụp đổ. Người cộng sản, chế độ cộng sản chưa bao giờ dám để người dân tự do tư tưởng, tự do lập hội lập đảng, tự do bầu cử một cách minh bạch dưới sự giám sát quốc tế … Vì làm như thế là tự sát. Cu Ba với tên độc tài Phi-Đen đầu thập niên 1990 còn ngang ngược tuyên bố này nọ, thậm chí còn kết án cả csvn là phản bội lý tưởng cộng sản chủ nghĩa … nay cũng phải “lánh mặt” để tên đàn em “đổi mới” xây dựng chủ nghĩa tư bản theo định hướng xã hội chủ nghĩa … Dân thì đói khổ, khách sạn quốc tế phải đóng cửa vì thiếu giấy Toalet – Khách quốc tế không quen dùng các loại khác thay cho giấy Toalet. Vậy mà được ông Triết gọi là chiến sĩ bảo vệ hoà bình thế giới ??? Rõ ràng Nguyễn Minh Triết đã bắn súng lục vào lịch sử, đã ngửa mặt nhổ mước miếng. Vài lời nhắn gửi. Gọi là cáo trạng ông chủ tịch chắc chưa sát lắm, vì chẳng có cáo buộc nào cho bằng chính những hành động lời nói của ông chủ tịch tự cáo buộc mình. Cho nên mới gọi là chuyện ly kỳ của “đỉnh cao trí tuệ”.

Luật sư Lê Sáng
vietcatholic. net

NHẮN AI....
***
Nhắn ai còn xót nỗi quê hương
Bài cộng, kiên gan giữ lập trường
Quyết chí đưa dân qua thống khổ
Đồng tâm cứu nước khỏi thê lương
***
Phá tan nghị quyết phường gian hiểm
Đập vỡ âm mưu bọn lật lường
Việt Nam chung tay quang phục lại
Cho nòi Hồng Lạc rỡ ràng gương
***
Ngô Minh Hằng

Từ Trần Văn Bé Tư
Đến Chuyện Đài Việt Nam Hải Ngoại

Sơn Tùng

Năm 1984, Ông Trần Khánh Vân, một cựu viên chức cao cấp thời Việt Nam Cộng Hòa, đã bị bắn xuýt chết ở California khi ông trả lời một cuộc phỏng vấn của nhật báo Los Angeles Times rằng việc Hoa Kỳ bang giao với CSVN sẽ làm cho chế độ này bớt đàn áp.

Nay, 25 năm sau, vật đã đổi, sao đã dời. Washington đã thiết lập bang giao với Hà-nội, đã viện trợ cho CSVN, đã giúp CSVN vào Tổ chức Mậu dịch Thế giới (WTO), và Mỹ đã trở thành nước đầu tư lớn tại Việt Nam.

Trong khi đó, người Việt hải ngoại lũ lượt đi Việt Nam, đi chơi hay đi làm ăn, thăm gia đình bà con, và mỗi năm gửi về VN vài tỉ Mỹ kim. Người từ Việt Nam cũng kéo nhau sang Mỹ, đi du lịch hay làm ăn, mua nhà mua đất, hoc hành và cưới vợ lấy chồng ở Mỹ.

Nhưng chế độ CSVN vẫn không “bớt đàn áp” mà gần đây còn gia tăng đàn áp. Ông Trần Khánh Vân đã may mắn không chết vì “viên đạn trừ gian” của anh Trần Văn Bé Tư để nay có cơ hội nhận ra sự sai lầm của mình. Và, “người hùng” Bé Tư nay chắc cũng đã cảm thấy ăn năn và “thương” con người mà anh đã nhắm bắn 25 năm trước.

Thật vậy, so với những lời nói, bài viết hay việc làm của nhiều người Việt “tị nạn” ngày nay thì “tội” của ông Trần Khánh Vân hồi ấy chỉ là “tội ngây thơ” vì ngày nay, ở hải ngoại, người ta nói, người ta viết, người ta làm tưởng như không còn “lằn ranh quốc cộng”.

Hiện tượng ấy rất dễ nhận thấy trên mặt báo trong các cộng đồng người Việt, trên làn sóng các đài phát thanh, trên các băng tần truyền hình (chưa kể băng tần VTV4 của CS Hà-nội phát hình 24 giờ mỗi ngày tại Vùng Hoa Thịnh Đốn). Người ta không còn phân biệt được ai là bạn, ai là thù.

Tình trạng này không phải ngẫu nhiên mà có. Nó là hậu quả của một nỗ lực của CSVN trên mặt trận truyền thông ở hải ngoại từ nhiều năm nay, nhất là từ khi có cái gọi là “Nghị quyết 36”, nhằm xâm nhập các cộng đồng người Việt ở hải ngoại.

Kế hoạch xâm nhập của CS Hà-nội vào cộng đồng người Việt hải ngoại, hay giới truyền thông nói riêng, nhắm vào nhiều mặt mà không cần phải là một chiến lược gia cũng có thể nhìn thấy như sau:

1. Lợi dụng quyền tự do báo chí ở hải ngoại, CSVN móc nối với một số người, phần đông còn tương đối trẻ, ra những tờ báo với hình thức tươi mát, giải trí dễ dãi, mà những bài về phim ảnh, ca nhạc, văn nghệ, thể thao, thời trang... khó phân biệt được là báo ở Việt Nam hay báo hải ngoại, từ cách hành văn, lối dùng chữ, đến nội dung. Những tờ báo này rất nhẹ về chính trị, chỉ thỉnh thoảng đăng một bài thời sự về Việt Nam hay sinh hoạt cộng đồng mà không bao giờ đề cập những vấn đề nóng bỏng về phong trào đòi nhân quyền, dân chủ ở trong nước hay đấu tranh chống cộng ở hải ngoại. Các tờ báo này giống nhau một điểm là những người chủ trương không phải là những người làm báo chuyên nghiệp, họ không quan tâm đến chuyện lời lỗ, và lấy quảng cáo rất rẻ so với giá của những tờ báo khác trong cộng đồng với mục đích “giết” những tờ báo này.

2. CSVN bỏ tiền (họ có nhiều tiền do chính người Việt hải ngoại “viện trợ”) “mua” những báo, những đài gặp khó khăn về tài chánh. Họ có thể mua trực tiếp hay qua một đệ tam nhân có bề ngoài không liên quan gì đến chính trị. Nhưng “mua” bằng cách nào thì cũng diễn ra trong vòng bí mật. Chỉ khi nào bỗng dưng người ta nhận thấy những báo, đài này thay đổi giọng điệu, lập trường chính trị không còn “kiên định” như xưa, người ta mới nghi ngờ, mới tố giác, mới biểu tình chống đối. Cũng có những cá nhân đã bị “mua” thường viết những bài “đâm vào sau lưng” những người chống cộng ở hải ngoại hay phỉ báng những người tranh đấu cho tự do dân chủ ở trong nước. Những cá nhân này cũng nhân danh “chống cộng” để triệt hạ những người chống cộng thực sự. Với sự phổ biến của Internet hiện nay, CSVN đã sử dụng tối đa những diễn đàn, những web sites để xâm nhập sinh hoạt truyền thông trong các cộng đồng người Việt hải ngoại.

3. Thông qua các tòa đại sứ (sứ quán) và các tòa lãnh sự (lãnh sự quán), CSVN dùng một số nhân viên tại đây đã được huấn luyện đặc biệt để làm công tác “kiều vận”. Dựa vào quy chế dành cho nhân viên ngoại giao đoàn, những người này tìm cách làm quen, giao du với mọi thành phần trong các cộng đồng người Việt hải ngoại, đặc biệt là những người lớn lên sau chiến tranh tại nước ngoài, ít hiểu biết về cộng sản và có nếp suy nghĩ cởi mở, không “cực đoan” trong vấn đề quốc cộng. Các cán bộ VC này được huấn luyện để giấu kỹ bộ mặt gian ác, tới đâu cũng tỏ ra rất dễ thương, tử tế với mọi người, chỉ nói về chuyện làm ăn sinh sống, thậm chí còn làm ra vẻ “ngây thơ” về chính trị, không biết gì về tội ác của cộng sản và tỏ ra “ngạc nhiên” lắng nghe những câu chuyện “mới lạ” như chuyện đấu tố địa chủ ở miền Bắc, vụ thảm sát Tết Mâu Thân ở Huế, như “Đại lộ Kinh hoàng” ở Quảng Trị năm 1972, như sự tàn ác ở các trại “cải tạo” sau năm 1975, vv. Chính trò đóng kịch này đã làm cho một số người trong giới truyền thông mang ảo tưởng “chiêu hồi” VC, hay đang làm nhiệm vụ nhà báo chân chính, hay tưởng CSVN đã “đổi mới”. Các cuộc giao du ấy thường đi đến một trong những kết cuộc như sau: những người muốn “nối một nhịp cầu” hay “chiêu hồi” VC đã bị cán bộ cộng sản lôi kéo, mua chuộc lúc nào không hay, hoặc bị cho vào bẫy sau một thời gian giao du thân mật, rồi bị đối phương dùng những tài liệu, hình ảnh nắm được để buộc phải làm tay sa i cho chúng.

Hình thức xâm nhập thứ ba này đang được âm thầm diễn ra tại Vùng Hoa Thịnh Đốn với sự tiếp tay của chính người Mỹ. Đây là một vấn đề khá tế nhị và khó trình bày nhưng không thể không nói vì những gì diễn ra trong vụ Đài Việt Nam Hải Ngoại chỉ là “cái đỉnh của khối băng sơn”. Có những người khác cũng đã và đang giao du với các nhân viên tòa đại sứ CSVN tại đây, vì lý do này hay lý do khác, mà không ai nói đến.

Trong chính sách thân thiện với CSVN của chính quyền Hoa Kỳ hiện nay, vài viên chức tại Bộ Ngoại Giao Mỹ và ít nhất một nghị sĩ tại Quốc Hội Liên Bang đã không ngần ngại khuyến khích những tổ chức, hội đoàn, đảng phái trong cộng đồng người Việt (hay Mỹ gốc Việt) gặp gỡ, đối thoại với các nhân viên tại tòa đại sứ CSVN, và đánh tiếng rằng đại sứ CSVN sẵn sàng đón tiếp họ. Để làm gì? Theo lời ông nghị sĩ Hoa Kỳ, mục đích là để “giảm bớt sự gay gắt (bitterness)” trong quan hệ giữa đôi bên, và ông ta hứa sẵn sàng đứng ra làm nhịp cầu.

Không biết đã có bao nhiêu người làm theo lời khuyên và ý muốn của các viên chức Mỹ, nhưng đã có một số người từ chối với lý do những cuộc gặp gỡ như vậy trong tình trạng hiện nay chỉ là cơ hội cho CSVN tuyên truyền và dùng để bắt bí (blackmail) về sau, hay ít nhất cũng gây chia rẽ nghi kỵ lẫn nhau trong cộng đồng người Việt. Có người đã cho các viên chức Mỹ biết rằng người Việt Quốc gia đã có nhiều kinh nghiệm về những cuộc đối thoại với CSVN từ năm 1945 cho đến khi bị mất tất cả vào năm 1975. Ngày nay, CSVN hãy “nói chuyện” với những người đang đòi dân chủ, nhân quyền ở trong nước, trước khi “nói chuyện” với những người tị nạn ở hải ngoại.

Tuy nhiên, sự “mở đường khai lối” của người Mỹ cũng đã tác động trên một số người trong cộng đồng Việt Nam, hay đúng hơn, người Mỹ gốc Việt, mà phần nhiều là những người lớn lên sau chiến tranh, được giáo dục tại Mỹ, thiếu hiểu biết về cộng sản và non yếu về chính trị nhưng có đầu óc phóng khoáng, sẵn sàng “đối thoại” với bất cứ ai. Một sự thật đáng buồn cần phải nói ra là những người này chỉ là những con cừu non trước bầy sói dữ cộng sản.

Một sự thật khác cũng cần phải được nói ra là ngăn chặn phương cách xâm nhập này không đơn giản chỉ là tố giác những người có giao du với cán bộ cộng sản mà có khi lại đẩy cừu non vào nanh chó sói và gây thêm những xung đột, chia rẽ trong cộng đồng mà hưởng lợi là ai thì chắc không nói mọi người cũng đã biết.

Vậy thì phải làm gì trước tình thế này?

Trước hết, cần nhận rõ sách lược của CSVN hiện nay gồm hai mặt: một mặt đàn áp phong trào dân chủ tự do ở trong nước, và mặt khác vô hiệu hóa sự đối kháng ở hải ngoại. Cho đến nay, sách lược này đã không thành công. Ở trong nước, đợt đàn áp điên cuồng gần đây đã chỉ bộc lộ sự sợ hãi và suy yếu của một chế độ độc tài cuối mùa và sự lớn mạnh của phong trào dân chủ đang lên. Ở ngoài nước, dù cố xâm nhập và lũng đoạn, CSVN vẫn không đặt được một đầu cầu nào trong các cộng đồng người Việt hải ngoại, ngoài những hoạt động trong bóng tối của vài kẻ trở cờ cỡ nhỏ.

Cái người Việt hải ngoại cần hiện nay là sự đoàn kết và thu ngắn khoảng ngăn cách tâm thức giữa thế hệ đi trước và các thế hệ đi sau. Làm sao thế hệ đi trước có thể trao ngọn đuốc chính nghĩa và những kinh nghiệm xương máu của hơn nửa thế kỷ đấu tranh cho thế hệ đi sau - những người nay đã là công dân một nước khác nhưng không hoàn toàn quay lưng lại với quê hương cũ, và dùng tư thế công dân trên quê hương mới để yểm trợ cho phong trào dân chủ tại Việt Nam, thay vì bị dẫn dắt bởi chính quyền sở tại và trở thành công cụ của CSVN để chống lại khát vọng tư do dân chủ của đồng bào ở quê hương cũ.

Trở lại chuyện đài Việt Nam Hải Ngoại (VNHN), không thể phủ nhận thiện chí, công sức của những người sáng lập và đã mở rộng tiếng nói của đài trong 12 năm qua. Đó là những người lớn lên sau năm 1975 và được đào tạo tại Mỹ, có nghề nghiệp chuyên môn và có thể tạo một đời sống bình yên, êm ấm, nhưng đã dấn thân làm công việc phục vụ cộng đồng, theo con đường của những người đi trước, tranh đấu cho tự do dân chủ tại Việt Nam. Họ đã chấp nhận nhiều thiệt thòi, gặp nhiều khó khăn trên con đường đã chọn, và ngược lại cũng đã nhận được những phần thưởng tinh thần từ thính giả mọi nơi.

Nay, họ đang đứng trước một cơn sóng gió, trước những chỉ trích và buộc tội giao du với vài cán bộ CSVN. Đây là việc có thật, vì chính họ cũng đã nhìn nhận nhưng không coi đây là một cái “tội”.

Một sự thật hiển nhiên khác là cho đến nay, làn sóng của đài VNHN chưa truyền đi một bài nào tuyên truyền cho đối phương, hay có hại cho việc đấu tranh ở trong nước cũng như phá hoại cộng đồng ở hải ngoại. Phải chăng đó là lý do mà các tổ chức cũng như những người có uy tín trong cộng đồng người Việt tại Vùng Hoa Thịnh Đốn đều giữ im lặng trong thời gian qua?

Nhưng, có lẽ đã đến lúc cần có những tiếng nói của lương tri để giúp sự thật được sáng tỏ, ngăn chặn nguy cơ chia rẽ, đưa đến những hậu quả đáng tiếc không thể sửa chữa là thui chột thiện chí cũng như phá tan niềm tin của những người muốn dấn thân phục vụ cộng đồng. Những lời buộc tội suông rất dễ, hô khẩu hiệu rất dễ, “ném đá” vào người đang bị lên án cũng dễ. Tìm ra sự thật, lẽ phải, và chân lý để xây dựng mới khó. Phải chăng đó là trách nhiệm của các tổ chức, hội đoàn trong cộng đồng?

Về phía đài VNHN, đã có vài cải tổ và nhìn nhận sai lầm. Nhưng có lẽ cũng cần đi xa hơn nữa hầu có thể để những chuyện đáng tiếc sau lưng và tiến tới trên đoạn đường mới với kinh nghiệm mới, tạo lại niềm tin nơi thính giả và những người yểm trợ. Cần chấm dứt và làm sáng tỏ việc giao du với các cán bộ CS trong quá khứ và thoát ra khỏi những bàn tay nhúng vào nội bộ đài (như tin đồn). Và cũng cần chấm dứt việc đánh phá cá nhân nhắm vào những người chỉ trích.

Người Việt hải ngoại đã học được gì từ tiếng súng của Trần Văn Bé Tư 25 năm trước?

Sơn Tùng
(28.10.2009)

BỌN CẦM QUYỀN THẢO KHẤU HÀ NỘI TẠO TIN GIẢ MẠO.

Hà Nội xảo trá: Hội Nghị người Việt ở nước ngoài

V/v: “Hội Nghị người Việt ở nước ngoài” tại Hà Nội vào tháng 11 năm 2009 do nhà cầm quyền CSVN tổ chức.

Kính thưa:

- Quý vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo,
- Quý vị lãnh đạo các hội đoàn đoàn thể,
- Quý giới truyền thông Việt ngữ,
- Cùng toàn thể đồng hương.

Gần đây, một bản tin được tung lên internet, mà trong đó, tất cả tên của các vị Chủ tịch CĐNVTD –UC cấp liên bang, tiểu bang và lãnh thổ đều bị đưa vào danh sách 650 người sẽ về Việt Nam để tham dự “Hội Nghị người Việt ở nước ngoài” vào tháng 11 tới đây tại Hà Nội do nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam (CSVN) tổ chức.

Chúng tôi xin tái xác định lập trường và quan điểm của CĐNVTD-UC đối với nhà cầm quyền CSVN là: Cộng Ðồng Người Việt Tự Do Úc Châu tuyệt đối không chấp nhận đối thoại, hợp tác, quan hệ, hay hòa hợp hòa giải với nhà cầm quyền CSVN dưới bất cứ hình thức nào.

Việc bọn tay sai CS đưa tên của các vị Chủ tịch CĐNVTD tại Úc Châu vào danh sách về VN tham dự cái gọi là “Hội nghị người Việt ở nước ngoài” hiển nhiên là một việc làm bôi bác của CSVN nhằm tạo hoang mang và gây mâu thuẫn trong cộng đồng người Việt tại hải ngoại.

Mọi thắc mắc và chi tiết liên quan đến thông báo này, xin quý vị vui lòng liên lạc với BCH- CÐNVTD-UC qua chi tiết liên lạc đính kèm phía trên.

Trân trọng kính báo và kính chào,

Thừa ủy nhiệm BCH-CÐNVTD-UC
Nguyễn Văn Bon
Tổng Thư Ký
http://www.ausviet. net/
__._,_.___

TẠI SAO
Chủ Tịch BCH Tổng Hội QGHC CHÂU VĂN ĐỂ và PCT PHẠM ĐỨC THẠNH được VIỆT CỘNG cho ra vào VN như ăn cơm bữa ????


VIỆT CỘNG đối với các Hội Đoàn Tỵ Nạn Hải Ngoại.
Bài của Lão Ngu

Nhà cầm quyền Hànội đang có một chính sách để kiểm soát các hội đoàn người Việt tại hải ngoại,chúng ta hãy thử liệt kê những điểm chính mà CSVN áp dụng:

1) Len lỏi nắm giữ các chức vụ quan trọng trong tổ chức,dù phải mất thời gian và tạm dùng những danh nghĩa như chống Cộng,hoặc mang danh nghĩa phi chánh trị,ái hữu hay đội lốt tôn giáo.

2)Khi nắm được các chức vụ trong tổ chức thì bắt đầu làm tê liệt các hoạt động của đoàn thể QG này.

3)Cố gắng giữ chức vụ lãnh đạo tổ chức để độc quyền thao túng....

4)Gây chia rẽ trong nội bộ tổ chức để làm cho tổ chức này không còn uy tín để hoạt động.Qua những điều nêu trên chúng ta không khỏi ngạc nhiên là TH/CSV/QGHC trong những năm qua có những điều xẩy ra y chang như những điểm kể trên:

A)TH/QGHC đã bị TXLì nắm trọn quyền hành,tự do thao túng TH(sửa NQ 2003 để tự do hành động)Trong khi TXLì cũng công bố đại ý là không sợ mất chức vụ mà sợ TH rơi vào tay sai CS ???? nhất là cổ võ TH chỉ mang tính cách ái hữu.TXLì đã ở chức vụ này gần 8 năm rồi.

B)Từ khi TXLì nắm quyền thao túng TH thì TH không có hoạt động gì cả ngay cả bản tin cũng không có,nói một cách khác TH hoàn toàn tê liệt.

C) Cả gần 2 năm nay nhiều đồng môn đã kêu gọi TXLì hãy từ chức nhưng TXLì vẫn lì lợm vẫn cố bám vào chức vụ để thao túng TH....dù đã bị sỉ vả thậm tệ.

D)Trong gần 2 năm nay,TXLì đã gây ra chia rẽ trong TH,TH gây biết bao nhiêu điều tai tiếng:Phát giác ra TXLì đã thi hành NQ 2003 là NQ bất hợp lệ,thế mà cũng có những bài tham luận,nhận định bênh vực TXLì,rồi tổ chức bầu cử BCH/TH gian lận.....

Chính những lý do đó mà TH/QGHC nay không còn là một tổ chức thuần nhất nữa,cũng vì lý do bị băng hoại như vậy mà TH/QGHC không còn được các hội đoàn bạn trọng nể.

Qua những điều trình bầy trên đây người ta có quyền đặt nghi vấn là tại sao tình trạng của TH/CSV/QGHC rơi vào tình trạng y như những kế hoạch mà CSVN đã áp dụng để phá vỡ những tổ chức người Việt Quốc Gia ở hải ngoại,tại sao có những hiện tượng xẩy ra đúng như những điều mà CSVN mong muốn...

Như vậy Chúng ta hãy tìm nguyên nhân,câu giải đáp là chính TXLì là thủ phạm gây ra những điều băng hoại nêu trên,một câu hỏi tiếp được đặt ra :Liệu TXLì có nhận một sứ mạng để thi hành trong việc phá nát TH/CSV/QGHC ???

Câu trả lời xin dành để các đồng môn tìm hiểu và suy nghĩ giùm./-

Lão Ngu

Tuesday, October 27, 2009

Thư của LS. NGUYỄN BÁ ĐẠI
HỎI THĂM SỨC KHỎE CHỦ TỊCH NGUYỄN THẾ PHONG.

***Mt68: Không hiểu ông Luật Sư người VIỆT nầy thuộc CỘNG hay trừ đây ??? - Mà dùng các từ ngữ VC: CÁC CỤM TỪ, ĐĂNG KÝ, CƠ BẢN nghe nó nực mùi TP Hồ Chí Phèo !!! - Dòi trong xương bò ra như vầy thì làm sao NTPhong sống ???- Chắc rồi đây cũng có ngày CÁI HỦ HỘI PHỤ NỮ LIÊN ĐÁI sẽ bị CẠY NẮP thì mùi KHAI sẽ nồng nặc hơn cho mà coi !!! Nhiều người làm công tác CỘNG ĐỒNG cũng với mục đích kinh doanh, kiếm ăn, làm thương mại như bao ngành nghề khác thế thôi !!! Coi chừng chết cả đám khi bị AUDIT đấy nhé !!! ./- mt68.


25 September 2009
Attn:
Nguyễn Như Long
173/127 Gordon Street
FOOTSCRAY, VIC. 3011


Kính gởi quý ông:

Nguyễn Như Long,
Võ Ngọc Anh
và Nguyễn Thanh Hùng.

---
Theo sự chỉ thị (instruction) của quý ông, chúng tôi đã đệ nạp Khiếu Nại (Complaint) lên toà Sơ Thẩm Melbourne (Melbourne Magistrates’ Court) vào ngày 25/6/2009. Sau đó, chúng tôi đã tống đạt (serve) khiếu nại đến Hội Cộng Đồng Người Việt Victoria (Vietnamese Community in Australia – Victoria Chapter Inc., Reg. No. A0012976M) (“Hội CĐ”) vào ngày 26/6/09.

Trong thời gian đó, Ban Chấp Hành Hội CĐ bao gồm: Chủ tịch (President) là ông Nguyễn Thế Phong (“ông Phong”), Phó Chủ Tịch về Tài Chính và Kế Hoạch (Vice-President/ Finane & Planning) kiêm Uỷ Viên Giao Tế (Public Officer) là ông Nguyễn Văn Bon (“ông Bon”), cô Trịnh Mai Lan (Tổng Thư Ký), ông David Nguyễn (Phó Chủ Tịch Ngoại Vụ), cô Nguyễn Đan Thanh (Phó Chủ Tịch Nội Vụ) và cô Đông Lan (Thủ Quỹ). Theo tài liệu mà quý ông đã cung cấp bao gồm nội quy của Hội CĐ, chúng tôi lưu ý rằng: Chủ Tịch của Hội sẽ đại diện cho Hội về tất cả các vấn đề liên quan đến hoạt động của Hội (Cl.7.1.1). Chúng tôi cũng được cho biết rằng ông Bon đã trở thành Chủ Tịch Hội CĐ, sau ngày 30/8/09; vì vậy trong suốt văn bản này, các cụm từ “ông Phong”, “các ông Phong-Bon” xin được hiểu là đại diện của Hội CĐ (cũ và/hoặc mới).

Theo sự chỉ thị của các ông Phong-Bon, Văn Phòng Luật Sư Borchard & Moore đã thụ lý hồ sơ pháp lý nói trên, đại diện cho Hội CĐ. Họ đã gởi Biện Minh (Defence) đến chúng tôi vào ngày 7/8/09. Toà Án đã sắp xếp một cuộc Hội thảo trước khi phân xử (Pre-Hearing Conference) vào ngày 5/10/09; và yêu cầu (bắt buộc) tất cả quý ông cũng như các ông Phong-Bon phải có mặt đầy đủ ở toà án ở địa chỉ 233 William Street, Melbourne, vào 10 giờ sáng cùng ngày. Theo yêu cầu của quý ông, chúng tôi viết thư này bằng tiếng Việt, báo cáo tóm tắt về hồ sơ pháp lý nói trên:

1. Các vấn đề cơ bản
Quý ông khiếu nại rằng các ông Phong-Bon đã có những hành vi gây thiệt hại cho quyền lợi của toàn thể hội viên của Hội. Quý ông thỉnh cầu Toà án bổ nhiệm một Kiểm Toán Viên độc lập để xem xét các báo cáo tài chính của các ông Phong-Bon.

Các ông Phong-Bon đồng ý rằng: quý ông là thành viên của Hội, và Hội CĐ là một Hội có tư cách pháp lý như bất kỳ một hội nào đã đăng ký với chính phủ (Consumer Affairs Victoria/CAV). Tuy nhiên, các ông Phong-Bon biện minh rằng quý ông đã không làm một hay các thủ tục sau đây: yêu cầu hội thảo, yêu cầu hoà giải dưới sự tổ chức của Trung Tâm Hoà Giải (Dispute Settlement Centre Victoria), yêu cầu Ban Chấp Hành Hội tổ chức họp để kỷ luật thành viên, yêu cầu Hội Đồng Tư Vấn Giám Sát tổ chức họp để giải nhiệm Ban Chấp Hành Hội.

2. Gây quỹ, mua đất và xây cất Trung Tâm VNCH
Quý ông khiếu nại rằng: ông Phong đã gây quỹ vào năm 2002 và thu được $240,000; sau đó đã mua 2 trong 4 lô đất ở khu vực 86-92 Knight Ave., Sunshine từ ông Nguyễn Văn Hùng và bà Nguyễn Thị Đức Hạnh là cha và mẹ của cô Nguyễn Ánh Kim là Phó Chủ Tịch Hội lúc bấy giờ. Việc mua bán đã không có sự định giá độc lập, và hợp đồng mua bán đã không được hội viên xem xét bỏ phiếu chấp thuận. Số tiền thu được ($240,000) đã không được đưa vào trương mục của Hội trong các báo cáo tài chính của ông Phong trình cho hội viên và chính phủ. Sau đó, trong một báo cáo được chính phủ cung cấp, ông Phong đã báo cáo là Ban Chấp Hành Hội đã hiến tặng (donate) các khu đất này (4 lô) cho một hội khác.

Về những điều này: ông Phong chấp nhận rằng ông có gây quỹ và thu được số tiền nói trên, có mua đất của ông Hùng và bà Hạnh (nói trên), không có văn bản định giá, và hợp đồng mua bán không công khai với các thành viên của Hội.

Tuy nhiên, ông Phong biện minh rằng: ông có hỏi giá (bằng miệng) với các nhân viên địa ốc (ông Phong không cho biết người nào), và hợp đồng mua-bán dù không công khai, nhưng ai muốn coi thì coi, và có vài thành viên đã coi. Về số tiền ($240,000) thì ông “vô tình quên” (“inadvertently omitted”) không kê khai vào các báo cáo tài chánh. Ông nói rằng ông không có bản sao của báo cáo tài chính năm 2002, nhưng ông không có hiến tặng đất cho hội nào cả.

Chúng tôi được quý ông (Long, Anh, Hùng) cho biết là quý ông đã có lúc được thông báo là Hội CĐ phải làm như vậy để tránh “cộng sản xâm nhập Đền Thờ Quốc Tổ”. Tuy nhiên, xin thông báo với quý ông rằng, chúng tôi không thấy ông Phong đưa điều này vào Biện Minh (Defence).

Quý ông cũng khiếu nại rằng ông Phong đã cho xây dựng các dãy nhà (building) trên khu đất nói trên không có bất kỳ giấy phép nào của chính quyền địa phương (Council), cũng như xây nhà bếp trong khu vực đó, sau đó buộc phải tháo dỡ đi, gây thiệt hại tài chính cho Hội. Về điều này, thì ông Phong thừa nhận là việc xây dựng đã thực hiện không có giấy phép, nhà bếp đã phải tháo dỡ đi theo yêu cầu của Council, nhưng ông cho rằng những việc làm này không gây thiệt hại tài chính cho Hội; và Council không ra lệnh tháo dỡ các dãy nhà.

3. Chuyển tiền sang Hội SICMA
Quý ông khiếu nại là: Các ông Phong-Bon đã chuyển tiền từ Hội CĐ sang Hội Tương Trợ Người Đông Dương Springvale (SICMA). Hội này do bà Bé Hà làm Chủ Tịch, và ông Phong làm Giám Đốc có nhận lương (salaried Director). Hội CĐ và Hội SICMA là hai hội có cơ cấu thành viên, trương mục, ban điều hành, nội quy khác nhau. Trong các báo cáo tài chính của các ông Phong-Bon, số tiền đã chuyển từ Hội CĐ sang Hội SICMA là $218,221.44 (2002: $18,560; 2007:$104,996.36; 2008:$94,665.08); việc chuyển tiền này đã không được công khai để các thành viên bỏ phiếu chấp thuận theo luật định, và gây thiệt hại cho thành viên của Hội CĐ. Chính phủ tiểu bang đã tài trợ cho Hội CĐ $522,000 từ năm 2006 đến 2008.

Ông Phong thừa nhận là ông vừa là Chủ Tịch Hội CĐ, vừa là Giám Đốc có lương của SICMA, Giám Đốc Sáng Lập Công Ty VNCH, và bà Bé Hà là Chủ Tịch Hội SICMA, và Thủ Quỹ công ty VNCH. Ông cũng thừa nhận việc chuyển số tiền nói trên là sự thật. Tuy nhiên ông biện minh là: SICMA và Hội CĐ có một thoả thuận tài chính “funding agreement” để đạt được mục đích là chính phủ tài trợ cho Hội CĐ, và việc chuyển tiền từ Hội CĐ sang hội SICMA, dù không có sự bỏ phiếu chấp thuận của thành viên, cũng không gây thiệt hại cho Hội CĐ, và không trái với mục tiêu mà chính phủ tài trợ. Các ông Phong-Bon cũng nói rằng các ông chỉ nhận được $400,000 từ chính phủ, chứ không phải $522,000; tuy nhiên, biện minh của các ông không có sự giải thích tại sao lại có sự đình chỉ tài trợ từ văn phòng chính phủ dẫn đến sự khác biệt này.

4. Chuyển tiền sang Công Ty VNCH Ltd.
Quý ông khiếu nại là: Hội CĐ đã chuyển sang Công ty Vietnamese Cultural Heritage Centre (Australia) (Ltd.) (“VNCH Ltd.”) (ACN 105 494 693) trong các năm 2004:$37,636, 2005: $10,000; 2006: $2,027.27; 2007:$2,410.43, 2008: $52,570, tổng cộng là $104,643.70, và nếu tính chung với tất cả các khoảng thời gian khác thì tổng số tiền chuyển sang Công Ty VNCH là: $407,940. Công ty VNCH và Hội CĐ là hai cơ chế pháp lý (legal entity) hoàn toàn khác nhau. Vào ngày 27/3/09, Ban Giám Đốc VNCH Ltd. đã yêu cầu một cuộc họp với các cổ đông (share holder/member) để giải thể (liquidate) công ty này và trong vòng 6 tháng phải xoá các hồ sơ sổ sách; và vào ngày 27/4/09 đã đưa Công Ty này vào tình trạng giải thể với sự bổ nhiệm một Thanh Lý Viên (Liquidator) là Peter Robert Vince.

Ông Phong thừa nhận rằng ông đã vừa là Chủ Tịch Hội CĐ vừa là Giám Đốc Sáng Lập (Founding-Member Director) của Công Ty VNCH (theo nội quy của công ty thì chức vụ Giám Đốc này là vĩnh viễn). Ông nói rằng ông không chuyển số tiền mà chính phủ tài trợ sang Công Ty; tiền chuyển từ Hội CĐ sang Công Ty là do Hội CĐ gây quỹ và các thành viên của Hội đóng góp để xây dựng Đền Thờ Quốc Tổ và Trung Tâm Bảo Tồn Di Sản Văn Hoá, và việc này không gây thiệt hại cho hội viên của Hội CĐ. Biện minh của các ông Phong-Bon dù vậy lại không có lời giải thích vì sao BGĐ Công Ty lại phải quyết định giải thể và bổ nhiệm một Thanh Lý viên để hoàn trả lại tất cả tài sản đã trước đây đã kê khai là của Công Ty lại cho Hội CĐ.

5. Sinh Hoạt Xã Hội và các khoản chi linh tinh
Quý ông cũng khiếu nại rằng căn cứ theo các báo cáo tài chính mà các ông Phong-Bon gởi cho chính phủ, có một số chi phí bất thường như:

Year
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
Social Activities (King Hung Vuong, Full Moon...) (Giỗ Tổ Hùng Vương, Trung Thu...)
$1407
$58722
$52093
$32678
$17233
$3378
$7918
Nil
Sundries (Linh Tinh)
Nil
$20767
$12301
$52599
$10767
$4256
$79981
$36293

Chúng tôi không được cung cấp đủ tài liệu để những khác biệt ở trên có thể được giải thích. Chúng tôi tin rằng nếu Tòa án bổ nhiệm một văn phòng Kiểm toán viên độc lập để xem xét lại những vấn đề này, họ sẽ có báo cáo rõ ràng cho tòa án và quý ông.

6. Đại Hội Văn Hóa

Quý ông khiếu nại là khi các ông Phong-Bon tổ chức Đại Hội Văn Hóa Thế Giới (Vietnamese World Conference) đã thông báo là hoạt động này tốn khoảng $80,000 trong khi thu vào khoảng $50,000; và Hội CĐ phải tự túc vì chính phủ không tài trợ. Tuy nhiên, trong một báo cáo cho chính phủ, các ông Phong-Bon cho biết là hoạt động này đã thu vào $120,417.98 và chi ra $166,252.45; và lại trong một báo cáo khác, các ông Phong-Bon đã báo cáo là các ông đã trích $78,000 từ nguồn tài trợ $522,000 của chính phủ để chi cho Đại Hội này.

Về điểm này thì các ông Phong-Bon biện minh là họ đã không nhận số tiền nhiều hơn số tiền đã ghi trong báo cáo tài chính về Đại Hội Văn Hóa. Chúng tôi không được cung cấp báo cáo tài chính riêng biệt về hoạt động này. Chúng tôi tin rằng lời giải thích của văn phòng Kiểm Toán Viên độc lập được Tòa bổ nhiệm sẽ làm sáng tỏ các thắc mắc của quý ông trong các vấn đề liên quan đến Đại Hội này.

7. Gây Quỹ năm 2008
Quý ông khiếu nại là: năm 2008, các ông Phong-Bon đã tổ chức gây quỹ dưới danh nghĩa của Hội CĐ nhưng đã yêu cầu chi phiếu đóng góp trả cho Công Ty VNCH (Ltd.) Các ông Phong-Bon đã thu được $14,510. Chính phủ đã yêu cầu ngưng lại việc gây quỹ, và ông Phong đã cam kết sẽ chuyển số tiền Công Ty VNCH Ltd thu được sang cho Hội CĐ. Số tiền này sau đó đã được rút ra từ Công Ty VNCH Ltd., nhưng không thấy báo cáo là đã nhập vào trương mục của Hội CĐ.

Về việc này, các ông Phong-Bon thừa nhận rằng đã có cuộc gây quỹ như thế và đã thu được số tiền nói trên. Tuy nhiên các ông Phong-Bon biện minh rằng, Hội CĐ đứng ra gây quỹ, “thay mặt cho Công Ty VNCH Ltd.” (“on behalf of VNCH”), và cuộc gây quỹ được toàn thể Ban Chấp Hành Hội CĐ tiến hành dưới các “letterhead” của Hội CĐ, chứ không phải của riêng ông Phong. Các ông Phong-Bon cũng nói thêm rằng số tiền này đã dùng để trả các chi phí xây dựng, và đã nhập vào trương mục của Hội CĐ nhưng không để thành mục riêng biệt (“not as a separate heading”). Tuy nhiên, biện minh của các ông Phong-Bon đã không cho biết là đã nhập số tiền này chung với mục thu nhập nào của Hội CĐ.

Kính thưa quý ông (Long, Anh, Hùng), chúng tôi lưu ý rằng văn bản này tóm tắt Khiếu Nại (Complaint) (14 trang), do chúng tôi soạn thảo theo sự chỉ thị của quý ông, và Biện Minh (Defence) (5 trang), do văn phòng luật sư Borchard & Moore soạn thảo theo sự chỉ thị của các ông Phong-Bon. Hai tài liệu đó được viết bằng Anh Ngữ bao gồm các luận điểm pháp lý chuyên nghiệp. Văn bản này nhấn mạnh vào các sự kiện (facts) hơn là các luận cứ pháp luật; vì vậy, xin quý ông không nên coi nó như là một tài liệu pháp lý hoàn chỉnh. Văn bản này chỉ có tính thông tin, hướng dẫn, báo cáo tóm tắt. Quý ông nếu có thắc mắc, xin liên lạc trực tiếp với văn phòng chúng tôi để được giải thích rõ ràng, chi tiết hơn.

Chúng tôi tin tưởng vào sự công bằng và nghiêm minh, dù tương đối, trong hệ thống pháp lý của chúng ta. Luật Sư Nguyễn Bá Đại và các đồng nghiệp thuộc Văn Phòng Luật Sư ADN LAWYERS kính gởi đến quý ông lời chào trân trọng.

Kính thư,
ADN LAWYERS

Dai Nguyen
Luật Sư Nguyễn Bá Đại

Bấm chữ "Older Posts" trên đây để xem tiếp .... Dưới Là Bài Cũ Theo Từng Tháng.

 
*** Nếu Thích QUẢNG BA, Thích Phước Tấn bất chấp dư luận can ngăn mà về VN tham dự Phât Đản do Việt Cộng tổ chức tại Hà Nội vào tháng 5/2008. Thì đương nhiên 2 Cộng Sư nầy đã đứng ra khiêu khích và tuyên chiến với cả Cộng Đồng Tự Do Hải Ngoại chúng ta ...