*** VIỆT CỘNG ĐANG ĐẨY MẠNH KẾ HOẠCH THÀNH LẬP HỆ THỐNG "CÁC HỘI DOANH GIA VIỆT KIỀU" ĐỂ BIẾN THÀNH CÁC TỔ KINH TÀI VÀ TÌNH BÁO Ở HẢI NGOẠI. ***VIỆT CỘNG HÃY TỰ TRẢ LỜI:"AI-VĂN KIỆN NÀO ĐÃ GIAO CHO ĐẢNG CỘNG ĐỘC QUYỀN CAI TRỊ ĐẤT NƯỚC MUÔN NĂM ???" *** Rồi đây, Cờ máu Việt Cộng cũng sẽ biến mất như Cờ búa liềm Liên Sô. Đó là sự thực sau nầy ! *** HỒ CHÍ MINH là một tên LƯU MANH NHỨT THẾ GIỚI - Vì dám lấy TÊN GIẢ để làm QUỐC TRƯỞNG VIỆT CỘNG từ 1945 - Thế Giới chưa ai DÁM GẠT cả một dân tộc như vậy !!! ***Quảng Ba đã công khai gia nhập Phật Giáo Quốc Doanh Việt Cộng Hải Ngoại cùng với Như Huệ, Tâm Phương ... Quảng Ba tự xưng khơi khơi chức vụ Hoằng Pháp Úc-Tân Tây Lan không kèn không trống ... *** VỢ CHỒNG HENRY DANG (Đặng Văn Hiền, Gốc QGHC và đương kiêm Chủ Tịch Hội Đồng Hương An Giang) đã xác nhận CÙNG về Hà Nội dự VESAK là chuyện có thật 100% - Từ nay CẶP VỢ CHỒNG nầy sẽ không thể nào TRÀ TRỘN vào các sinh hoạt Cộng Đồng Tự Do như trước ... *** Linh Mục Bùi Đức Tiến, Bs. Trần Thanh Nhơn, Bs. Nguyễn Ngọc Hương mong Việt Cộng sống lâu để họ được trở thành THÁNH TỬ vì mượn từ thiện để đánh bóng tên tuổi cá nhân ...

Thursday, December 31, 2009

ĐÃ ĐẾN LÚC DIỆT VÔ THẦN
***
Viết tặng các thi hữu chống Cọng Phạm hoài Việt,Ngô minh Hằng,Ý Nga,Hoài Nam TL
***
Đã đến lúc toàn dân Ta đứng dậy !
Quyết một lòng quét sạch lũ vong nô,
Đánh cho tan chủ nghĩa bọn tam vô..
Bạo quyền Nguyễn Tấn Dũng Nồng Đức Mạnh…
Nguyễn Minh Triết đến tan tành xác mảnh,
Chúng manh tâm cõng rắn cắn gà nhà,
Bội nghĩa vong ân phá nát Sơn Hà ?
Gieo họa lớn thuở Hùng Vương lập Quốc !
Bán đứng Xã Tắc cúi lòn khiếp nhược,
Dâng hiến Tàu Cọng Mốc Giới, Quần Sa,
Đổi tội danh giới tranh đấu ôn hòa,(1)
Thành tội lật đổ ? Lâm nguy tánh mạng !.
Dân không được cãi ? Xử theo lệnh Đảng,
Báo chí truyền thông mạng lưới răn đe ?
Còn đâu quyền dân ? Bauxite bao che !
Còn đâu trí thức ? Chủ trương ! Tống ngục ?
Chỉ còn một lũ Chóp Bu béo nục !
Tham ô, lạm dụng, vơ vét, uy quyền ?
Thời đại Hồ Chí Minh thuở thay tên,
Saigòn ô nhục hổ mang rắn lục ?
Chẳng biết Tổ Quốc ? Bắt người đánh gục !
Đè đạp đầu, bóp họng cổ dân oan ?
Lũ Sa Tăng bọn chó sói chồn hoang ,
Không thể để chúng tung hoành mất nước?
Dã đến lúc toàn dân Ta đứng trước !
Trừ khử nguy cơ hiểm họa nghìn năm,
Phải triệt tiêu quân man rợ phi nhân,
Nhỗ tận gốc để dành quyền Lịch Sử !
Vì Dân tộc triệu triệu người quyết xử :
Diệt” vô thần” nối tiếp bước Tiền Nhân !!!
TRÚC LANG OKC
Cuối Đông Kỷ Sửu 2009

(1) Chuyển đổi tội danh sang tội âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân với mức án tối đa là tử hình những nhà tranh đấu dân chủ gồm có Nguyễn anh Kim, Nguyễn tiến Trung, Lê công Định, Trần huỳnh duy Thức, Lê thăng Long và cô Phạm thanh Nghiên.để răn đe những ai muốn dấn thân vào cuộc tranh đấu sau này.

Người huyễn tưởng

Truyện ngắn của Nguyễn Văn Sâm

Chú Ba Chịu cầm cây gậy tre người cháu rể mới chuốt cho mấy ngày nay gõ nhè nhẹ lên cánh cửa cổng sắt rồi cẩn thận bước ra ngoài. Gió sớ m mai lành lạnh khiến chú lưỡng lự một lúc rồi đứng lại sau khi bước được vài ba bước quen thuộc. Chú cẩn thận kẹp cây gậy vô giữa hai đầu gối. Chú giơ hai tay lên trời, đưa lên đưa xuống, hít thở chút không khí trong lành buổi sáng rồi cầm gậy quơ quơ trước mặt như người mới chập chững tập múa côn quyền. Chú đứng im lại, quay về phía Xóm Trong khi nghe tiếng rao mời mua giấy số mỗi lúc đến gần chú hơn.

Giọng người bán giấy số nhừa nhựa, có hơi quen quen mà chú không biết sao lại hơi quen quen. Có thể là mấy bữa nay ngày nào cũng nghe ông ta rao hai lần: buổi sáng vừa bảnh mắt ra và buổi chiều lúc nắng vừa hơi dịu dịu gần giờ cái loa ở đầu kia oang oang bắt đầu phát thanh buổi chiều. Nghe rao mời riết rồi có cảm giác quen quen chăng?
Chú về ở căn nhà nầy cả tháng nay rồi. Việt kiều già đặc biệt như chú làng xóm chẳng ai thèm chú ý chi cho mệt. Chú sống thanh đạm với cặp vợ chồng đứa cháu, để được tụi nó lo cơm nước chợ búa hằng ngày. Ngoài chuyện đó, mọi thứ khác chú tự lo liệu được. Đơn giản thôi mà, tất cả mọi chuyện lần lần rồi sẽ quen đi. Phải tự lo liệu chứ không thể quá dựa vô người khác được, cái gì cũng kêu réo, chuyện gì cũng nhờ vã thét nó mụ người đi. Còn chưn tay lành lặn, còn trí óc minh mẫn là còn tất cả, chú tự nói với mình như vậy, và chú cũng nói câu đó với người nào khen mình khi thấy chú lui cui tự làm lấy công việc hằng ngày, đáng ra phải có người khác lo giùm giúp.
Người bán vé số ngừng lại trước mặt chú:
“Mời ông mua giùm vài tấm giấy số. Số 43, 77 kỳ nầy là hên lắm đó. Còn có mấy tấm nầy thôi.”
“Cám ơn, tôi không mua giấy số, chơi cái nầy kể như liệng tiền vô thùng rác. Sớm mơi mua, chiều dụt”. Chú làm ra vẻ thân mật nói trong khi cười cười.
“Ông mua thử coi, chiều nay biết đâu ông trúng lớn. Mặt ông coi rạng rỡ hết biết, chắc là Thần Tài tới viếng chiều nay. Cái hên coi bộ vô tay ông chiều nay đó”, anh ta nhấn mạnh thêm. “Chuyện đời mà, ông có thời, cầm tấm đó thì trúng lớn, người khác không có thời, thất đức, cầm nó thì lại không trúng cắc nào.”
Anh chàng nầy lẽo lự dữ bây! Miệng lưỡi nầy thường là không thiệt tình!
“Trước đây tôi mua nhóc, tuần nào cũng mua cả xấp, giờ thì thấy không cần thiết nữa. Bỏ chơi rồi. Trúng trật không làm mình quan tâm nên không mua làm gì.”
“Buôn bán bây giờ khó khăn quá. Ông biết không, mình là lính thất trận lại bị xui xẻo nên mới khổ như thế nầy, nếu hên như người ta thì bây giờ cũng Việt kiều Việt kiết, đâu phải lội rã giò mỗi ngày, mời thiên hạ từng tấm giấy số để kiếm kiếp sống thừa.”


Chú Tư Chơi thấy hứng thú để nói chuyện với anh chàng bán vé số. Chú nói trong khi đưa cây gậy kẹp giữa hai chưn như truớc:
“Đâu anh lựa cho tui hai tấm với mấy con số anh vừa nói coi. Chiều nay trúng tôi chia anh phân nửa. Trúng số mà giữ xài mình ên thì mất phước đi.”
Người bán vé số đưa lên miệng sảng khoái hít một hơi thuốc thiệt dài rồi liệng tàn ra xa, thở một hơi dài thích thú tuyệt đỉnh, coi câu nói hứa hẹn của khách như không có. Chú Tư nhăn mặt khó chịu vì hơi thuốc từ miệng anh ta phả ra.
“Anh hút thuốc ngon lắm sao, tôi ngửi mùi không thôi cũng thấy khó chịu.”
Người bán vé số không trả lời câu kích bác của khách, ông ta có sự tính toán riêng.
“Còn năm tấm nầy nữa ông mua luôn đi cho chẵn khỏi thối. Năm chục ngàn. Bữa hôm nọ còn ba tấm chót tôi mời ông kia vậy mà là ba tấm độc đắc. Hên ghê!”
Chú Tư Chịu lắc đầu, đưa tay vô túi móc ra hai tấm giấy mười ngàn.
“Mua một hai tấm, trúng thì cũng trúng, mua ê hề cả đống tới chừng trật cũng trật tuốt.”
“Ông nói đúng. Như tôi hồi đó lên được tàu nhỏ rồi, cầm cái sam sông nai đầy tiền đô rồi mà bây giờ cũng ở xứ nầy, nghèo vẫn hoàn nghèo. Không có số hưởng thì chịu ông ơi. Của vô tới miệng cũng trớt mỏ như thường.”
Chú Tư nhớ tới chuyện của mình. Chú thở dài. Qua tới Mỹ chắc đâu đã sướng. Tùy người thôi. Hai mươi năm bương chải nhà cửa, con cái đề huề, bỗng bị tai nạn, giờ cốt khỉ hoàn cốt khỉ. May mà còn được cái trợ cấp bịnh tật, không thôi thì trớt đít, trơ mỏ, có môn cạp đất mà ăn.
“Đâu anh nói rõ ràng coi, tôi không hiểu, lên được tàu nhỏ thì chạy chừng nửa giờ là lên tàu lớn. Trở thành Việt kiều dễ như cơm, sao lại không được?”
Người bán giấy số không trả lời, anh cầm hai tay mấy tấm giấy số, đưa ra, lắc lắc:
“Ông mua giùm thêm mấy tấm nữa nhe! Bữa nay nói chuyện được với ông chắc là tôi hên, bán hết sớm. Lớn tuổi rồi, nói thiệt với ông, đi rã giò, chán đời lắm.”
Anh ta chìa chìa một cách kiên nhẫn mấy tấm giấy số trước mặt chú, mà coi bộ chú Tư Chịu lơ đãng sao đó như là không thấy, anh ta phải ấn ấn vô bàn tay chú.
“Ông biết không, tôi nhảy được lên tàu nhỏ với thằng bạn thân, nhưng mà người ta nhảy lên nhiều quá nên tàu không chạy được, cuối cùng thì chìm lỉm. Tôi vừa cố gắng giữ cái cặp tiền, vừa phải lo nâng thằng bạn, sợ nó chết chìm nên mình bị mệt đuối, cuối cùng thì…” Người bán giấy số ngừng lại không kể nữa, anh ta rút thuốc ra châm lửa hít một hơi dài, chàng ràng, xo xoe tập giấy số, mắt láo liêng nhìn chung quanh coi có ai đi ngang qua để mời mua. Cặp mắt anh ta và cử chỉ phối hợp rất nghề nghiệp.
Chú Tư kiên nhẫn đợi, nhưng không nói gì. Chú đưa tay ra quơ đụng xấp giấy số và nhón lấy thêm hai tấm nữa.
“Cuối cùng thì lội được trở vô bờ. Ở lại tới bây giờ đây, chán thấy mẹ nội luôn. Lúc đó cũng có đi lanh quanh trên bờ tìm tàu khác, nhưng trễ rồi, hỗn quan hỗn quân, lính thua trận đen nghẹt, mình đâu đủ sức nào xuống ghe tàu nữa. Thôi về!”
“Có cứu được người bạn của anh không?”
“Có mà nói ra thêm buồn.”
“Sao?”
“Anh ta giựt cái cặp tiền của tôi, lẩn trong đám đông đi mất. Mình thất tha thất thểu buồn chết mẹ, có lúc muốn bắn vô đầu một phát chết mẹ nó cho rồi. Thua trận mà giờ chót còn bị bạn lừa gạt. Phải chi người lạ cũng cam lòng.”
Chú Tư rùng mình thiệt mạnh, như cơn gió lạnh nào thổi qua người chú mà chú mặc áo không đủ ấm. Chú gợi thêm cho người đối thoại có chuyện tuôn ra:
“Chắc là anh bạn của anh bị người ta chen lấn nên hai bên mất dấu nhau chứ gì. Lúc đó thiệt là dễ lạc nhau, vợ chồng lạc nhau, cha mẹ lạc con thiếu gì. Bạn bè càng dễ lạc, đâu ai nắm tay bạn chầm chập bao giờ.”
“Tôi biết! Nhưng không phải vậy đâu. Thằng đó tánh nào tật nấy thôi. Ăn cướp cạn! Giựt dọc!” Người bán giấy số nói lớn tiếng hơn, giọng bực bội.


Chiều 28 tháng Tư, Trung úy Bảng Chi Khu Phó cho tập hợp các ban ngành còn lại để ra lịnh đối phó với tình hình quá nặng nề trước áp lực của địch quân. Trung sĩ Chịu đi qua lại trước phòng họp để coi an ninh như hồi đó tới giờ. Phòng họp vắng tanh, chỉ còn vài mống, không ồn ào như trước. Nghe được tiếng còn tiếng mất từ giọng Trung úy Bảng. Tình hình thiệt là nghiêm trọng. Mình có bổn phận phải giữ vị trí tới giờ phút cuối cùng. Nhưng làm được tới đâu hay tới đó. Ai cũng có gia đình, vợ con, ai cũng phải lo mạng sống của mình… Có chuyện gì thì anh em cứ lo thân nhưng nhớ đừng thả tù ra nhe mấy cha, tụi nó có thể quay lại thịt mình vì căm thù, vì cần cướp giựt gì đó. Nguy hiểm lắm…
Trung Sĩ Chịu nhớ tới thằng Chơi, bạn thời Tiểu học với mình. Nó nằm trong đó chờ gởi về tỉnh để gỡ lịch. Ở xã gởi lên lâu rồi, bị bắt trong một cuộc hành quân trong vùng họ kiểm soát lâu nay. Không biết tính sao với nó giờ đây. Còn nhớ cặp mắt dửng dưng của nó khi nhìn thấy mình nhưng sao vẫn thấy ngùi ngùi vì nó là thằng bạn cũ duy nhất thời Tiểu học mới được gặp lại. Còn nhớ bàn tay mặt bốn ngón của nó, tai nạn do hồi năm đó hai đứa thi nhau cắt cỏ bò bằng tay trái cầm liềm. Tội nghiệp hồi nhỏ hai đứa là cặp bài trùng: thằng Chịu, thằng Chơi. Làm gì, đi đâu cũng có nhau, hễ gặp một thằng thì thế nào cũng bị người lớn hỏi còn thằng Chịu (hay thằng Chơi đâu?)
“Tôi còn nhớ là nó kêu tôi đưa nó cầm giùm cái cặp, tôi không chịu, rồi sau đó trong khi chen lấn nó giằng thiệt mạnh, quyết liệt, nói là tôi giữ thì bị mất, nó lanh hơn, giữ mới yên. Được cặp rồi thì nó lẻn đi mất khi hai đứa bị kẹt trong đám đông. Ông nghĩ coi, cứu mạng nó khỏi chết chìm, nó nỡ lòng nào làm vậy?”
Chú Tư Chịu bỗng nhiên giơ cây gậy ra giá giá trước mặt người bán giấy số, rồi chú thở dài để tay xuống. Chú nói:
“Chuyện buồn quá, anh cho tôi bắt tay một cái để chia buồn chuyện cũ ngày xưa và mừng anh qua bao khó khăn vẫn sống được đến ngày nay.”
Bàn tay người bán giấy số đưa ra, mất một ngón út, khi bắt tay chú Tư cảm thấy điều đó. Chú hơi khựng lại. Bao nhiêu năm nay lặn lội ở quê người, trải bao thăng trầm cuộc đời nhưng chưa bao giờ chú có cảm giác nầy, cái cảm giác lạ lùng: vừa ghét vừa thương, vừa tội nghiệp vừa giận tức. Chú nuốt nước miếng cái ực ngon lành, người trước mặt nghe mà ngạc nhiên tròn mắt ngó.
Người bán giấy số nói thêm, giọng triết lý:
“Đời chó má lắm ông ơi. Tôi cứu nó ra khỏi tù đó, ngày 30 tháng Tư , tôi mở cửa tù để cho nó ra, trong khi lửa cháy rần trời, đề lao đang sắp bị Bà Hỏa kêu, đạn bắn tứ tung ngũ hoành... Đã thua trận, đã bị mất nước còn bị gạt bị giựt, buồn không chịu được.” Anh ta thở dài rồi bước đi, dáng đi thất thểu…
“Giấy số đây giấy số đây…” Giọng rao nhừa nhựa quen quen.
Chú Tư Chịu nói nho nhỏ:
“Thằng Chơi! Trời phạt nó. Nó láo khoét với mọi người thì cũng được đi, nhưng nó láo khoét với chính nó thì khổ biết bao nhiêu mà lường. Nó sống trong huyễn tưởng. Nó ghét cái hành động phản bội lừa gạt trong khi chính nó đã lừa gạt người ta. Nó chính là đối tượng để nó thù ghét.


Huyễn tưởng rằng mình bị phản bội không làm cho nó sung sướng hơn, không cho nó cảm thấy vô tội, trắng án, trái lại làm cho nó mang thêm lòng hận thù mình, kết tội hành động ngày xưa của mình. Nó tự khinh mình thường xuyên mà không hay biết. Chú Tư giơ cây gậy lên quơ quơ về phía người bán giấy số, kêu lớn:
“Bán cho tôi mấy tấm giấy số chơi.” Chú nhấn mạnh tiếng chơi.
Người bán giấy số đứng lại, ngạc nhiên:
“Sao ông biết tên tôi?”
“Tôi đâu biết tên anh là gì, chỉ muốn mua thêm một tờ giấy số nữa để hỏi coi anh có biết cái cặp tiền đó về sau ra sao không? Hỏi chơi mà, chuyện của anh hấp dẫn quá chừng, nghe nửa khúc làm sao chịu được!” Chú lại nhấn mạnh tiếng chơi lần nữa.
“... Thì chắc là nó bị người khác giựt lại hay là tiêu tan vô cờ bạc hết thôi. Thứ đồ giựt dọc thì sao mà làm giàu được, làm sao sung sướng suốt đời được.”
“Nếu bây giờ anh gặp lại người bạn ngày xưa đó thì anh tính như thế nào?”
Người bán giấy số trả lời ngập ngừng:
“Chắc là cũng nhìn nó một cách khinh bỉ rồi thôi, ai đi đường nấy. Oán thù không nên kết làm gì, để lương tâm nó xử tội nó. Để Trời Đất đày đọa nó.”
Chú Tư đưa tay vô túi quần sau rút nhẹ một tờ giấy năm trăm ngàn, trả tiền tấm giấy số rồi cố tình như không biết chuyện đó dợm dợm quay bước đi. Người bán giấy số mắt sáng rực lên, đo lường coi người mua có biết mình đưa lộn tiền hay không. Khi biết chắc rằng qua mặt được, anh ta vội vã bước đi.


Chú Tư bước chầm chậm vô cửa cổng, cây gậy tre lại gõ gõ lên thành cánh cửa như một đứa con nít nghịch ngợm chơi trò đánh gươm với cánh cửa. Chú nói với chính mình:
“Thằng Chơi! Nó vẫn như vậy, chứng nào tật nấy! Tham lam! Không cần cho nó biết mình là ai. Để làm gì chớ? Chỉ tiếc là mình không còn thấy được nữa để coi lúc nầy nó tàn tạ bao nhiêu. Tự khinh thì thả lỏng đời đó là cái chắc.”

Đứa cháu gái trong nhà bước ra, áy ngại nhìn chú, nói nhỏ:
“Mới sáng sớm chú đi ra ngoài làm gì, không thấy đường thấy xá lỡ té, vấp thì khổ lắm.”
Chú Tư thầm thì với chính mình: “Người huyễn tưởng, người huyễn tưởng.”
Cái loa phát thanh đầu xóm như mệt mỏi, tắt giọng, tiếng rè rè kéo dài một lúc rồi tan biến dần ....

Quebec, Canada Nov. 25, 2009
(Viết tại nhà người bạn học họ Lâm)

Nguyễn Văn Sâm


TẢN MẠN VỀ CHRISTMAS
Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất


Christmas năm nay lạnh hơn mọi năm. Nhiều người nói thế. Mà đúng thế thật. Ngay cả những ngày có nắng, ngoài trời vẫn rét căm căm. Có khi gió thổi rát mặt. Ra đường không trùm cái mũ lên đầu là không chịu được. Mấy ngày trước lễ, sáng dậy thấy tuyết rơi phủ trắng các ngọn núi chung quanh thành phố. Tôi đi lễ chiều cho xong bổn phận rồi chạy lẹ về nhà để cố vớt vát cái sự huyền diệu của đêm Chúa ra đời với những bản nhạc xưa còn tích đầy kỷ niệm, cùng một lúc đi chu du đây đó qua màn hình của cái máy computer. Ấy thế mà lại hay.

Tôi có thể thưởng thức không khí ngày lễ của rất nhiều nơi trên thế giới, từ Đông sang Tây, từ Âu đến Á. Cái lạnh da diết của mùa Giáng Sinh năm nay đã là chuyện khác thường. Sự nô nức đón mừng lễ Giáng Sinh ở khắp nơi còn là điều khác thường hơn nữa. Chuyện khác thường rõ rệt nhất lại xẩy ra ở những nơi trước đây người ta chẳng biết Christmas hay Noel là gì. Lấy cái thí dụ thực tế là Hànội, Việtnam.
Dân Hànội nô nức đón mừng lễ Giáng Sinh không thua kém hay còn hơn cả Tây phương nữa. Ai không tin cứ rà trên các mạng lưới toàn cầu thì biết. Các cửa hàng trang trí thật đẹp mắt. Cây Christmas chưng đèn sáng trưng. Người ta tấp nập mua sắm. Các nhà hàng sang trọng bầy biện cực kỳ xa hoa. Các nhà thờ 30 năm về trước vắng như cái chùa Bà Đanh, nay thấy khởi sắc hơn nhiều. Ai dám bảo VGCS là vô thần, và VN không có tự do tôn giáo? Cách đây không lâu lắm, dân Hànội nhất định không biết lễ Giáng Sinh là gì. Tôi quả quyết như thế, bởi vì chính người Hànội cho biết như thế. Ngày Christmas 1980 tôi còn nằm trong trại tù K3 Tân Lập, tỉnh Vĩnh Phú. Trong giờ giải lao ngoài đồng, chúng tôi lân la nói chuyện với tên cán bộ bảo vệ và hỏi thăm hắn về các sinh hoạt bên ngoài, nhất là về ngày lễ Chúa Giáng Sinh ở miền Bắc. Tên lính ú ớ không hiểu lễ Giáng Sinh là lễ gì. Hắn chỉ biết trong năm có các ngày tết Nguyên Đán, ngày cách mạng 19-8, ngày Độc Lập 2-9, ngày Lao Động 1-5 và ngày Mừng Công khác nhau của từng đơn vị sản xuất. Hắn còn tỏ vẻ thương hại chúng tôi và lên mặt dậy dỗ
: “Bây giờ mà các anh còn tin vào Chúa nữa à, sao mà lạc hậu thế.”

Hắn cho biết, hôm nay (25-12-1980) ngay ở thủ đô Hànội nơi gia đình hắn ở, mọi người đều lao động bình thường. Công nhân đến nhà máy. Nhân viên đến sở làm. Học sinh đến trường học v.v. Tóm lại là một ngày như mọi ngày.
Không biết sự trở quẻ trong lãnh vực tôn giáo của bọn vô thần đáng vui hay đáng buồn. Niềm vui được tự do tôn giáo của người dân thì mới nhìn thấy được ở cái bên ngoài, còn sợi giây thắt cổ bên trong phải nhìn kỹ mới thấy được. Chẳng thế mà giáo dân cứ phải nổi lên tranh đấu hoài, hết nơi này đến nơi khác, mà cũng chẳng được cái gì. Vẻ tưng bừng của ngày Giáng Sinh tại cái xứ sở công sản này hoàn toàn không mang tinh thần tôn giáo, mà chỉ là hình thức thương mại. Vì thế khi CS cho phép người dân đón mừng lễ Giáng Sinh không có nghĩa là chúng nhìn nhận tín ngưỡng như một nhân quyền. Trái lại, chúng sử dung Chúa như một thương hiệu đắt khách để làm ăn kiếm tiền. Chỉ có thế thôi, và đấy không phải là điều đáng buồn lắm sao?


Bài thánh ca quan trọng nhất trong ngày lễ Giáng Sinh là lời cầu chúc của các Thiên Thần cho nhân loại: Gloria in excelsis Deo, et in terra Pax hominibus bonae voluntatis (vinh danh Chúa trên trời, và bằng an dưới thế cho con người có lòng ngay chính). Lời cầu chúc trên bằng tiếng latinh, nhưng người Mỹ đã dịch ăn bớt, do đó ý nghĩa không được chính xác. Tiếng Mỹ dịch là: Glory to God in the highest, and peace to his people on earth (vinh danh Chúa trên trời, và bằng an cho dân của Chúa trên trái đất). Dịch một cách phiến diện như thế có lẽ không cắt nghĩa được đoạn Kinh Thánh sau đây. Chúa giảng công khai cho dân chúng thế này:
“Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hòa bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ. Vì từ nay, năm người trong cùng một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba chống lại hai, hai chống lại ba. Họ sẽ chia rẽ nhau, cha chống lại con trai, con trai chống lại cha; mẹ chống lại con gái, con gái chống lại mẹ; mẹ chồng chống lại nàng dâu, nàng dâu chống lại mẹ chồng (Lc 12, 51-53).”
Luke 12:51-53 (King James Version)
51Suppose ye that I am come to give peace on earth? I tell you, Nay; but rather division:
52For from henceforth there shall be five in one house divided, three against two, and two against three.
53The father shall be divided against the son, and the son against the father; the mother against the daughter, and the daughter against the mother; the mother in law against her daughter in law, and the daughter in law against her mother in law.
Từ tiếng latinh, ta thấy các Thiên Thần chúc bình an, nhưng chỉ bình an cho những người có lòng ngay chính (hominibus bonae voluntatis) mà không phải cho bất cứ ai. Điều quan trọng là chỉ có những người có tâm thiện mới được hưởng sự bình an. Đó cũng là tâm lý tự nhiên thôi. Những con người khư khư ôm tham, sân si trong lòng chẳng bao giờ cảm thấy mình được bình an, chứ chưa nói đến được hưởng sự an bình thật.

Những người luôn vơ vét làm giầu bất chính chắc chắn không bao giờ thư thái trong lòng. Những kẻ chỉ mải mê tranh dành quyền lợi càng không thể được bình an trong tâm hồn. Như thế thì lời Thiên Thần chúc quả có ý nghĩa, và Chúa nói cũng không sai. Bản tính Thiên Chúa trái nghịch với tham, sân, si của người đời, nên Ngài là nguyên nhân của xung đột, hay nói cách khác, Ngài đem đến sự chia rẽ, và sự an bình của trời cao như Thiên Thần cầu chúc chỉ có tác dụng đối với những con người ngay thẳng.


Israel
Cái thảm họa của nhân loại thiếu công chính thể hiện rõ rệt nơi Chúa sinh ra là sự xung đột giữa Israel và Palestine. Hiện nay sự xung đột đó còn đang có cơ nổ bùng giữa khối người Hồi Giáo quá khích với các quốc gia theo Thiên Chúa Giáo phương Tây. Những việc Thiên Chúa an bài theo thượng trí của Ngài con người không thể hiểu được. Nhưng cứ theo cách suy nghĩ thiển cận của con người thì việc Chúa chọn sinh ra làm người Do Thái quả là một sai lầm lớn. Thứ nhất, giả như Chúa sinh ra làm một người dân tộc nào đó, ở Phi Châu chẳng hạn, thì có lẽ đã tránh được tình trạng phân hóa chủng tộc tại phần đất Trung Đông vốn dĩ đã phân hóa về vấn đề chủng tộc xưa kia, và càng ngày sự phân hóa càng trầm trọng thêm kể từ ngày Chúa ra đời. Giả sử nếu Chúa là người Congo chẳng hạn, thì người Hồi Giáo và Thiên Chúa Giáo không có lý do gì để sinh chuyện với nhau. Thứ hai, chủng tộc Do Thái có cái gì hay ho đâu, ngoại trừ chỉ số IQ của họ cao hơn so với nhiều sắc dân khác. Lịch sử Do Thái cho thấy ngay từ thời lập quốc, dân tộc này là một giống dân chẳng ra gì.
- Hèn nhát: ngay như chính ông tổ Do Thái, thà nói láo chịu mất vợ để tự cứu mạng còn hơn là bảo vệ vợ mình.
- Vô luân: loạn luân giữa cha ruột và con gái.
- Không có tình cảm gia đình: trong nhà ruột thịt mưu giết nhau. Anh em bán nhau cho bọn buôn nô lệ nước ngoài v.v.
- Phản bội: Moise cứu dân khỏi làm nô lệ Ai Cập, nhưng dân vẫn nổi lên chống lại ông.
- Tệ hơn hết là không có tinh thần dân tộc: Khi Chúa bị bắt và bị nộp cho tổng trấn Pilate. Trước nghị trường, dân chúng đòi giết Chúa. Pilate nói với dân:
“Chẳng lẽ ta lại đóng đinh vua (Chúa Giêsu) của các người sao?”
Họ đáp:
“Chúng tôi không có vua nào cả, ngoài Caesar.” (Caezar là hoàng đế La Mã, quốc gia thống trị Do Thái vào lúc đó, ghi chú của người viết).

Chỉ một câu trả lời như trên với viên toàn quyền đại diện quốc gia xâm lược đủ nói lên tinh thần nô lệ của người Do Thái. Họ thà chấp nhân thân phận nô lệ hơn là một cách nào đó phô bầy ý chí độc lập tự chủ của mình.
Khi mất nước và bị phân tán, người Do Thái đi đến đâu cũng chuyên lo vơ vét làm giầu và gây họa cho dân địa phương đến đó. Nhìn vào những chuyện chung quanh đây thôi, chúng ta thấy rõ. Chẳng hạn hai tập đoàn tư bản ngành ngân hàng và ngành truyền thông Mỹ gốc Do Thái, họ lũng đoạn nước Mỹ đến cỡ nào.
Henry Kissinger/ Le Duc Tho

Kissinger và Mao
- Chuyện ngày trước: Nếu không có tên Do Thái Kissinger đẻ ra chính sách tháo chạy tại khỏi Đông Đương để bắt tay với Trung Cộng, và nếu bọn truyền thông bất lương Mỹ gốc Do Thái không cổ võ và thổi phong trào phản chiến lên, thì chúng ta đâu có đến nỗi phải trở thành người dân bị mất nước?
- Chuyện hiện nay: Sự việc không thể chối cãi là nếu bọn truyền thông Do Thái bất lương không ra mặt thiên vị và thổi Obama lên quá đáng thì liệu ông ta có khả năng vào nổi tòa Bạch Ốc và ngồi lên cái ghế tổng thống không? Bọn tư bản Do Thái nhất định đưa Obama lên làm tổng thống để làm gì? Có thể đây là đòn “Hồi mã thương” (giả bộ thua chạy rồi quay dáo lại giết địch thủ). Ở đây, tôi không phê phán các chính sách của ông Obama, tốt hay xấu, thành công hay thất bại, cũng không kỳ thị ông là người da đen, mà chỉ nêu lên điểm nghi ngờ về thân thế của ông. Ông Obama có đủ điều kiện luật định để trở thành Tổng thống của nước Mỹ không, đó là điều dư luận Mỹ đang đặt ra. Hiến Pháp Mỹ bắt buộc làm Tổng Thống phải là người đương nhiên là công dân Mỹ lúc sinh ra (natural born citizen). Để chứng minh là natural born citizen, ông Obama phải có tờ giấy khai sanh (long form birth certificate) . Cho đến nay đã có trên 9 triệu người Mỹ nạp thỉnh nguyên thư (gọi là Pink Slip) lên Quốc Hội để đòi ông Obama xuất trình giấy khai sanh của ông, nhưng Tòa Bạch Ốc lươn lẹo, chỉ xuất trình giấy chứng nhận khai sanh (Certification of birth) mà thôi. Tại sao thì đấy là câu hỏi rất nhiều người đặt ra mà không thấy ai trả lời. Bọn truyền thông gốc Do Thái im thin thít về chuyện này. Thử tượng tượng thế này, nếu một ngày nào đó người ta khám phá ra ông Obama không phải là một người Mỹ natural born citizen, thì chuyện gì sẽ xẩy ra? Có phải tất cả mọi đạo luật, sắc lệnh, hay gì gì đó một ông Tổng Thống illegal ký đều không có giá trị và vô hiệu lực không? Chuyện này nếu là thật thì nước Mỹ sẽ đi về đâu? Nếu ông Obama là một natural born citizen thì chuyện không có gì đáng nói. Nhưng nếu không thì ai là người mang trách nhiệm nhiều nhất đưa ông Obama và Tòa Bạch Ốc, nếu không phải là bọn truyền thông bất lương tả phái Do Thái?
Một dân tộc đáng ghê tởm như thế mà được Chúa chọn làm dân riêng của Ngài. Có mà Trời hiểu. Nước Do Thái đã bị xóa tên trên bản đồ thế giới hơn hai ngàn năm trăm năm rồi, thế mà các nước phương Tây còn xúm nhau lại phục quốc cho nó. Đây lại là một chuyện lạ nữa. Biết bao nhiêu quốc gia đã bị xóa tên trên bản đồ: Chiêm Thành, Chân Lạp, Tấn, Sở, Tề, Yên v.v. Tại sao thế giới không phục quốc cho họ? Người ta bảo đó là Chúa muốn, sấm ký của các Tiên Tri gần 26 thế kỷ trước đã nói như thế. Hai tác giả Dr John Ankerberg và Dr Jimmy DeYoung trong cuốn Israel Under Fire đã trích dẫn lời tiên tri như sau: “God told the prophet Ezekiel in 570 B.C. what He will do in the future (Ezekiel 37: 21-22 NASB):
1. He “will take the sons of Israel from among the nations where they have gone.”
2. He “will gather them from every side and bring them into their own land.”
3. He “ will make them one nation in the land.”
Và các ông khẳng định: “twenty five hundred years later, there can be no doubt that these three prophecies have come true in our generation.”
(tạm dịch: Năm 570 trước công nguyên, Chúa nói với tiên tri Ezekiel về những điều Ngài sẽ làm trong tương lai:
1. Ngài sẽ đưa về các con cái Israel từ những dân tộc mà chúng đã đến.
2. Ngài sẽ tập hợp chúng lại từ mọi phía và đem chúng về đất riêng của chúng.
3. Ngài sẽ biến chúng thành một dân tộc trên mảnh đất này.
2500 năm sau, không còn hồ nghi được là 3 lời tiên tri trên nay đã thành hiện thực trong đời chúng ta.)
Hai tác giả cũng còn nêu lời tiên tri khác nữa để dẫn chứng: “I will bring them back to this place ( Jerusalem ) and let them live in safety” (Jeremiah 32: 37) (Ta sẽ đem chúng về Jerusalem để cho chúng được sống trong an bình.)


Những bằng chứng về sự phục quốc Israel mà hai tác giả John và Jimmy trích dẫn đều là lời của các tiên tri từ trong Cựu Ước. Lời tiên tri Do Thái cũng đại loại giống như Sấm Trạng Trình của Việt Nam. Người VN tin sấm Trạng Trình và người Do Thái tin sách tiên tri của họ. Biết tường tận sự việc theo như lời sấm nói trước khi nó xẩy ra lại là chuyện khác, khó lắm. Dân Do Thái bị lưu đầy nhiều lần và cũng đã trở về gầy dựng lại đất nước nhiều lần trước đây, một lần từ Ai Cập, và một lần nữa từ Babylon (thành phố cựu thủ đô của xứ Babylonia, khoảng 55 miles S. Baghdad hiện nay). Vấn đề đặt ra là một dân tộc mà tính tình thì tham lam và phản bội, xử sự lại nham hiểm và tàn nhẫn, trước một đối thủ nuôi đầy thù hận và sắt máu vây quanh, liệu đất nước Do Thái có thể sống an bình được sau khi tái lập như lời tiên tri cho biết không? Câu trả lời có lẽ ở ngay trong biến cố Giáng Sinh: nếu mọi người đều có cái tâm ngay chính thì an bình sẽ được như lời Thiên Thần chúc.

Trái lại, nếu ai nấy cứ giữ mãi cái tâm man trá thì Chúa đến, Ngài mang đến sự chia rẽ và thanh gươm chứ không phải sự bình an, hoan lạc.

Christmas 2009
Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

Wednesday, December 30, 2009

Võ Nguyên Giáp:
Tên đồ tể khát máu của quê hương
Tác Giả : Bác sĩ Nguyễn Lương Tuyền

Lời Giới Thiệu:
Bác sĩ Nguyễn Lương Tuyền là Giáo sư về khoa Giải phẫu Tiểu Nhi (Pediatric Surgery) tại đại học noi tieng McGill, Montreal, Canada. Tuy là môt chuyên gia bận rộn, nhưng ông là một trong số những ít bác sĩ quan tâm và viết đến những vấn đề đất nước. BS Duyên Lãng Hà Thượng Nhât, Nguyễn Tiến Cảnh học cùng lớp...


Nhà văn quân đội nổi tiếng Phan Nhật Nam đã gọi Võ Nguyên Giáp là một thiên tài của quê hương. Tôi chia sẻ ý kiến của ông, nhưng chỉ chia sẻ một nửa thôi.Vâng, Võ Nguyên Giáp thực quả là một tên khốn kiếp, đã đẩy hàng triệu thanh niên đất Việt vào chỗ chết từ năm 1946 tới năm 1975, để thực hiện cho được việc áp đặt chủ nghĩa Cộng Sản sắt máu trên toàn quê hương. Nhưng Y có là một thiên tài hay không, dù là một thiên tài khốn nạn của quê hương, thì cần phải xét lại. Sau mấy chục năm, các tài liệu về chiến tranh tại Việt Nam, các dữ kiện lịch sử đã được giải mật. "Huyền thoại Võ Nguyên Giáp" đã hết còn là một huyền thoại.Võ Nguyên Giáp sanh ngày 25 tháng 8 năm 1911 tại làng An xá, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Cha Y là Võ Quang Nghiêm, một hương sư dạy chữ Nôm, chữ Quốc Ngữ và hành nghề Đông Y như phần lớn các nhà nho lỡ vận. Khi cuộc chiến Việt-Pháp bùng nổ, Ông Nghiêm bị Pháp bắt đưa về giam ở Huế rồi chết trong tù. Mẹ Giáp là Bà Nguyễn Thị Kiên.Võ Nguyên Giáp là con thứ 6 trong số 8 người con của Ông Bà Võ Quang Nghiêm. Năm 14 tuổi (1925), Giáp vào Huế học trường Quốc Học. Hai năm sau, bị đuổi học, Giáp về quê tham gia Tân Việt Cách mệnh Đảng – một đảng có mầu sắc Cộng Sản được thành lập năm 1924 ở miền Trung.

Đầu tháng 10 năm 1930, Giáp bị bắt giam tại nhà lao Thừa Phú ( Huế ).. Năm 1931, Giáp được thả ra khỏi nhà tù, ra Hà Nội học tại trường Albert Sarraut cho tới khi đỗ Tú tài.Năm 1937, Giáp tốt nghiệp trường Luật tại Hà Nội.Năm 1934, Giáp kết hôn cùng Nguyễn Thị Quang Thái, một đồng chí của ông. Bà Thái có với Giáp một người con gái, Võ Thị Hồng Anh. Năm 1943, Bà Thái bị Pháp bắt giam ở nhà tù Hỏa Lò ở Hà Nội. Bà chết trong tù.Tháng 5 năm 1939, Giáp bắt đầu dạy môn Sử tại trường tư thục Thăng Long tại Hà Nội. Theo lời thuật của một số người, Giáp là một giáo sư Sử giỏi và hùng biện.Từ năm 1936 đến năm 1939, Giáp tham gia phong trào Mặt trận Dân Chủ Đông Dương. Võ Nguyên Giáp vào Đông Dương Cộng Sản đảng vào năm 1940, bắt đầu các hoạt động dưới sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh. Giáp tham gia gây dựng cơ sở và huấn luyện quân sự ở Cao Bằng dù Giáp chưa từng được huấn luyện về quân sự.. Trong đảng Cộng Sản Đông Dương, có lẽ chỉ có Phùng Chí Kiên được theo học một thời gian tại trường Võ bị Hoàng Phố ở Trung Hoa.Ngày 22 tháng 12 năm 1944, theo sự phân bố của Hồ Chí Minh, Giáp thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân với 34 người. Theo tài liệu của Đảng Cộng Sản Việt Nam, đó là khởi thủy của đạo quân Cộng Sản Việt Minh sau này.Tháng 8 năm 1945, Giáp được bầu vào Ban Chấp hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Đông Dương.Tháng 1 năm 1948, Giáp được Hồ Chí Minh phong quân hàm Đại Tướng. Cùng được phong Tướng có một số tên như Văn Tiến Dũng, Vương Thừa Vũ, Nguyễn Chí Thanh, Đinh Đức Thiện, Lê Trọng Tấn, Trần Đăng Ninh…Ngày 19 tháng 12 năm 1946, chiến tranh Việt Pháp bùng nổ kéo dài cho tới năm 1954 và chấm dứt ở trận Điện Biên Phủ.
năm 1945 cho đến năm 1991( năm Giáp nghỉ hưu, hết còn là ủy Viên Trung Ương Đảng) Giáp đã giữ những chức vụ như sau:- Ủy Viên Bộ Chánh trị- Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng- Tổng Tư lệnh Quân Đội- Phó Thủ Tướng- Chủ Nhiệm Ủy Ban Khoa học nhà nước.- Năm 1983, Chủ tịch Ủy Ban sanh đẻ có kế hoạch.Chức vụ Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng kiêm Tổng Tư lệnh Quân đội là những chức vụ Giáp ở lâu nhất, từ năm 1945 đến năm 1980.Chức vụ coi về sanh đẻ năm 1983 là môt hình thức hạ nhục Giáp do đám Lê Duẩn, Lê Đức Thọ chủ trương. Để nói về việc hạ nhục này, trong dân gian có truyền tụng hai câu thơ diễu cợt đượm đầy mỉa mai:Ngày xưa Đại tướng cầm quânNgày nay Đại tướng cầm quần chị emSau trận Điện Biên Phủ năm 1954, sự hiện diện của người Pháp cáo chung, Võ Nguyên Giáp nổi tiếng như cồn. Sau cái gọi là Đại thắng mùa xuân năm 1975 – một may mắn bất ngờ cho đảng Cộng Sản Việt Nam ( một bất hạnh cho dân tộc Việt ) chiếm được miền Nam – trước mắt người ngoại quốc mù tịt về cơ cấu tổ chức của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Võ Nguyên Giáp trở thành một huyền thoại.Một số sách viết về Giáp như:- General Giáp: Politician and Strategist của Robert j. O'Neil (Australia)- Giáp: the Victor in Vietnam của Thiếu tướng hồi hưu Peter McDonald In năm 1993 ( British )- Các bài viết rải rác của Douglas Pike thuộc University of California, Berkeley (USA)Xin mở một dấu ngoặc ở đây về các sách viết về các lãnh tụ Công Sản Việt Nam cũng như các lãnh tụ của các nước Cộng Sản khác trên thế giới. Tác giả phải được sự chấp nhận của Bộ Chính trị và chỉ được viết những gì mà cơ quan quyền lực tối cao của Cộng Sản đưa ra mà thôi.


Giáp được các tác giả ca tụng như một thiên tài quân sự, một chiến lược gia tài tình của thế giới ( genius strategist, geniusgeneral of the world ). Từ mấy năm gần đây, các tài liệu mật về 2 cuộc chiến tại Việt Nam (1946-1954 và 1954-1975 ) được giải mật khiến ta thấy rằng "thiên tài Võ Nguyên Giáp" đã được các đồng chí nặn ra như các đồng chí đã nặn ra anh hùng Lê Văn Tám, chú Kim Đồng…..trong suốt chiều dài của cuộc chiến xâm nhập của chủ nghĩa Cộng Sản man rợ lên quê hương mà đảng Cộng Sản Việt Nam chỉ là một lũ thừa sai.Bản chất của những người lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam, kể từ Hồ Chí Minh trở xuống, là gian hùng, dối trá, thâm độc và tàn bạo. Giáp có đầy đủ các "đức tính" đó.Năm 1946, Hồ Chí Minh ký hòa ước với Pháp để quân Pháp trở lại Việt Nam. Các lãnh tụ Công Sản, trong đó có Giáp, đã thẳng tay tiêu diệt các người quốc gia (Losers are Pirates by James Banerian1984, p.69)Năm 1946, khi cuộc chiến tranh Việt – Pháp sắp xẩy ra, Giáp là Bộ Trưởng Quốc phòng trong Chánh phủ liên hiệp. Tại Hà Nội, trong khi quân Pháp và Tự Vệ Thành đang gầm ghè nhau, Giáp và đồng bọn hứa hẹn là quân chánh qui của họ tức các đơn vị Vệ Quốc Đoàn tinh nhuệ đã kéo về đóng chung quanh Hà Nội, sẵn sàng làm cỏ quân Pháp.Ngày 19 tháng 12, chiến tranh bùng nổ tại Hà Nội. Nhóm lãnh đạo Cộng Sản đã rút về Hà Đông từ mấy ngày trước. Vệ Quốc Đoàn đâu chẳng thấy, chỉ thấy các Tự Vệ Thành đánh vùi với quân Pháp trong các đường phố Hà Nội. Họ đã cầm cự với quân Pháp trong gần 2 tháng, thời gian đủ để dân chúng rời thành phố lánh nạn, đủ để đám Cộng Sản rút vào các an toàn khu Việt Bắc. Giáp và đồng bọn muốn mượn tay quân Pháp để thủ tiêu các thanh niên Hà Nội. Quả thực, Tự Vệ Thành là những thanh niên tiểu tư sản, phần lớn xuất thân từ các gia đình khá giả. Đám tiểu tư sản này là những thành phần không có chỗ đứng trong chế độ Cộng Sản. Càng lợi cho việc thiết lập chủ nghĩa Cộng Sản tại Việt Nam nếu họ bị Pháp tiêu diệt, bớt đi càng nhiều càng tốt cho chủ nghĩa Mac Xít Léninist dễ phát triển ở Việt Nam.Giáp đã viết sách về chiến tranh nhân dân, quân đội nhân dân (được dịch ra tiếng Pháp; Guerre du peuple, l'Armée du peuple ), tự cho rằng mình và đảng Cộng Sản Việt Nam là nguồn gốc của quan niệm chiến lược, chiến thuật này.

Sự thực, quan niệm về chiến tranh nhân dân đã được Tướng Trần Canh, một trong ngũ hổ tướng của Mao Trạch Đông, du nhập vào Việt Nam kể từ trận chiến biên giới Cao Bằng Lạng Sơn năm 1950.Giáp thực sự không phải là cha đẻ của quân đội Cộng Sản Việt Nam, tuy rằng cuối năm 1944, theo lệnh Hồ Chí Minh, Giáp thành lập đoàn Võ Trang tuyên truyền gồm 34 thành viên với trang bị rất thô sơ. Quân đội Trung Cộng mới thực sự là cha đẻ của quân đội nhân dân của Cộng Sản Việt Nam.Tháng 3 năm 1946, 1 Trung Đoàn quân Cộng Sản Trung Hoa tràn qua biên giới, vào Việt Nam để tránh bị các Lộ Quân 46, 64 của Tưởng Giới Thạch tiêu diệt. Chính Trung đoàn quân Cộng Sản Trung Hoa này đã giúp Cộng Sản Việt Nam huấn luyện Quân đội. Tình báo của Mỹ đã đánh hơi thấy việc Trung Cộng huấn luyện quân đội Cộng sản Việt Nam từ những năm này.Từ năm 1950, Trung Cộng không ngừng cung cấp người, võ khí và tiếp liệu cho Công Sản Việt Nam. Chính Võ Nguyên Giáp, trong cuốn Đường tới Điện Biên Phủ đã viết: Trong một buổi làm việc ở Moscou với Staline, Mao Trạch Đông, Mao đã hứa trang bị cho Việt Nam 10 sư đoàn. Mao nói: Việt Nam cần trang bị 10 đại đoàn (sư đoàn) để đánh Pháp. Trước mặt hãy trang bị 6 đại đoàn có mặt ở miền Bắc Việt Nam. Có thể đưa ngay một số đơn vị sang Trung Hoa nhận vũ khí. Tỉnh Quảng Tây sẽlả hậu phương trực tiếp của Việt Nam. Sau đó các đơn vị của quân đội nhân dân lần lượt được đưa sang Tầu để thụ huấn và nhận vũ khí.Theo Giáp: những đơn vị sang Trung Quốc, ngoài việc trang bị lại vũ khí còn được huấn luyện thêm về chiến thuật công kiên, đặc biệt là kỹ thuật đánh bộc phá. Trước đây, vì chưa có thuốc nổ, ta chưa hề xử dũng kỹ thuật này.Cũng theo Giáp, chính Hồ Chí Minh đã yêu cầu Tầu Cộng gửi qua Việt Nam một đoàn cố vấn. Theo lời yêu cầu đó, một đoàn cố vấn Trung Cộng khoảng 80 người đã sang Việt Nam, giúp quân Cộng Sản Việt Nam: Lã Quí Ba, Ủy Viên Trung ương đảng Cộng Sản Trung Quốc, Trưởng đoàn Cố vấn; Vi Quốc Thanh, Trưởng đoàn Cố vấn về Quân sự: Mai Gia Sinh, cố vấn về công tác tham mưu; Mã Tây Phu, Cố vấn về công tác hậu cần. Chính các Cố vấn Trung Cộng đã giúp Công Sản Việt Nam tổ chức 3 (ba) cơ chế chánh trong quân đội: Bộ Tổng Tham Mưu, Tổng Cục chánh trị và Tổng cục hậu cần. Tóm lại ngay trong công việc tổ chức quân đội của Cộng Sản Việt Namm, Giáp chỉ là người thừa hành.
Giáp là một tên hèn. Năm 1983, Giáp bị đám Lê Đức Thọ, Lê Duẩn hạ nhục bằng cách cho đi làm Chủ tịch Ủy Ban sanh đẻ có kế hoạch. Giáp đã ngậm bồ hòn làm ngọt, ngoan ngoãn vâng lời. Trong vụ Nhân văn Giai phẩm xẩy ra tại miền Bắc năm 1955, nhiều người đã ở trong Quân Đội Nhân dân của Giáp như Trần Dần, Hoàng Cầm, Quang Dũng, Phùng Quán…bị đem ra đấu tố, tù đầy. Giáp vẫn giữ im lặng. Trong vụ án chống đảng do đám Lê Duẩn, Lê Đức Thọ chủ mưu, các tướng Cộng sản đàn em của Giáp như Lê Liêm, Đặng Kim Giang, Nguyễn Văn Vịnh, các Đại tá thuộc cấp của Giáp như Lê Minh Nghĩa, Lê Vinh Quốc, Văn Dzoãn… bị hãm hại; Giáp vẫn ngoảnh mặt làm ngơ.. Khi các tướng Lê Trọng Tấn, Hoàng Văn Thái (cũng là thông gia của Giáp) bị đột tử sau khi miền Nam đã bị cộng sản hóa. Giáp vẫn ngậm miệng, im lặng là vàng. Giáp đã để lộ rõ cái hèn, thủ khẩu như bình.Giáp kệ mặc đàn em bị thảm sát, tù đày. Theo Bùi Tín, cựu Phó Tổng Biên tập của báo Cộng Sản Quân Đội Nhân dân, sở dĩ Giáp không bị đám Lê Đức Thọ, Lê Duẩn thủ tiêu vì Giáp biết thủ nghĩa là Giáp biết cách tránh né để bảo toàn mạng sống.Khi được một ký giả ngoại quốc hỏi Giáp có hối tiếc gì về số 3-4 triệu người Việt Nam chết vì các cuộc chiến tranh, gọi là chiến tranh ý thức hệ, Giáp đã trả lời là y không hối tiêc gì cả (Non, pas du tout).


Mạng sống của thanh niên Việt Nam bị họ Võ coi như cỏ rác. Giáp sẵn sàng thí quân trong các trận chiến. Trong trận chiến tranh biên giới Cao Bằng, Lạng Sơn năm 1950, để tiêu diệt cứ điểm Đồng Khê do 262 lính Pháp trấn đóng, Giáp đã dùng tới 10.000 quân (đông hơn quân trú phòng 40 lần). Sau trận đánh, hơn 500 quân Việt tử trận, không kể số bị thương hàng ngàn. Trong trận đồng bằng Phủ Lý, Ninh Bình, Vĩnh Yên vào tháng giêng năm 1951, chiến thuật biển người của Giáp đã bị Tướng Pháp De Lattre de Tassigny dùng bom Napalm tiêu diệt. Quân Cộng sản, dưới sự chỉ huy của Giáp, đã bị nhiều tử vong, thất bại trong ý đồ đưa chiến tranh về đồng bằng. Số tử vong của quânđội cộng sản, khi tháo lui, là trên 6000 người. Số bị thương chắc chắn là gấp đôi, gấp ba con số 6000.Trong chiến tranh Việt – Pháp 1946-1954, người thực sự chỉ huy các trận đánh lớn không phải là Giáp mà là các tướng Trung Hoa Cộng Sản như Trần Canh trong những năm 50, sau đó là đoàn cố vấn Trung Quốc đứng đầu là Vy Quốc Thanh, Lã Quí Ba. Hào quang chiến thắng của Giáp chỉ là một giả tạo, một hào quang do Trung Cộng ban cho.Chiến dịch biên giới năm 1950.Chiến dịch này nhằm mục đích đuổi quân Pháp ra khỏi biên giới của 2 nước Việt Nam-Trung Hoa để cho việc tiếp vận từ Trung Hoa Cộng Sản cho quân đội của Cộng Sản Việt Nam được dễ dàng. Tướng Trần Canh của Trung quốc sang Việt Nam ngày 22-7-1950. Trần Canh đã áp dụng học thuyết chiến tranh nhân dân của Mao vào chiến tranh Việt Nam.Kế hoạch tiến công của Võ Nguyên Giáp trong chiến dịch biên giới được thay thế bằng kế hoạch tác chiến của Trần Canh. Thay vì tấn công Cao Bằng như kế hoạch của Giáp, Trần Canh đề nghị kế hoạch tấn công Đông Khê, một đồn của Pháp nằm giữa Cao Bằng và Lạng Sơn, để lùa quân Pháp ra khỏi hai tỉnh trên và sau đó phục kích tiêu diệt (công đồn đả viện). Hồ Chí Minh chấp thuận kế hoạch này. Kết quả trận đánh là quân Pháp thảm bại phải bỏ hết các tỉnh biên giới. Chiến thuật công đồn đả viện của Cộng Sản Việt Nam là do các cố vấn Trung Quốc, nhứt là Trần Canh, truyền thụ cho.Từ năm 1951, nhóm cố vấn chánh trị do Lã Quí Ba cầm đầu đã giúp Hồ tạo lập luật lệ và chánh sách liên quan đến tài chánh, thuế khóa, quản lý báo chí và đài phátthanh cũng như các chánh sách đối với các dân tộc thiểu số…..Chiến dịch Tây Bắc 1952Sau các tổn thất ở đồng bằng sông Hồng Hà năm 1951, Việt Minh, theo sự cố vấn của các cố vấn Trung Quốc, mở chiến dịch Tây Bắc năm 1952. Lã Quí Ba trách nhiệm hoạch định chiến dịch thay Vi Quốc Thanh về Tầu chữa bệnh. Hồ Chí Minh chấp thuận hoàn toàn đề nghị của Lã Quí Ba. Theo Qiang Zhai (China and the Vietnam wars 1950-1975) cuối tháng 9 năm 1952, Hồ bí mật sang BắcKinh để thảo luận về chiến dịch Tây Bắc cũng như chiến lược thắng quân Pháp.Ngày 14-10 Việt Minh tập trung 8 tiểu đoàn tấn công Nghĩa Lộ và các đồn bót lân cận.Ngày 16-10 Vy Quốc Thanh trở lại Việt Nam để cùng Lã Quí Ba chỉ đạo chiến dịch. Sau khi mất Nghĩa Lộ, quân Pháp chạy khỏi Sơn La ngày 21-11. Việt Minh hoàn toàn chiếm lĩnh một khu vực lớn ở Tây Bắc, cho phép họ có thể tiến hành các hoạt động ở Lào.Đối phó với kế hoạch Navarre – Trận Điện Biên PhủTháng 5-1953, tướng Henri Navarre đảm trách chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương với kế hoạch:

1- Kiểm soát vùng đồng bằng sông Hồng
2- Bình định các khu do Cộng Sản kiểm soát ở miền Trung và miền Nam
3- Mở tổng phản kích tiêu diệt các cứ địa của Việt Minh tại miền BắcNavarre cho thành lập các binh đoàn lưu động.Việt Minh Cộng Sản, lúc đầu muốn tập trung quân tại vùng Tây Bắc và Lai Châu, nhưng sau Giáp từ bỏ ý định đó, muốn kéo quân tấn công quân Pháp ở đồng bằng sông Hồng Hà.

Như vậy Giáp hạ thấp tầm quan trọng của chiến dịch ở Lào. Bắc Kinh không đồng ý với kế hoạch của Giáp. Bắc Kinh nhấn mạnh Việt Minh cần giữ nguyên kế hoạch tập trung vào Tây Bắc và Lào. Lãnh đạo Trung Quốc cho rằng nếu thực thi chiến thuật này, Việt Minh Cộng Sản có thể chuẩn bị lực lượng cho công cuộc đánh chiếm đồng bằng sông Hồng và cuối cùng sẽ đánh bại Pháp ở Đông Dương.Tháng 9, Bộ Chính trị của Cộng Sản Việt Nam, phủ quyết kế hoạch của Giáp để theo kế hoạch của các cố vấn Tầu.Ngày 27 tháng 10 năm 1953, Vy Quốc Thanh trao cho ông Hồ một bản sao kế hoạch của Navarre mà tình báo Trung Cộng đã thu đoạt được. Sau khi xem xét, các lãnh đạo của Cộng sản Việt Nam nói đề nghị của Trung Quốc là đúng. Cộng Sản Việt Nam, nếu theo đúng kế hoạch của Trung Quốc, có thể phá vỡ kế hoạch của Navarre.

Khi Navarre đưa quân đến Điện Biên Phủ, Giáp và Bộ Tham mưu chưa nhận ra tầm quan trọng của vị trí này. Chính Vy Quốc Thanh là người đã thúc Giáp mở chiến dịch bao vây và tiêu diệt quân Pháp ở Điện Biên Phủ. Trung Quốc nhấn mạnh chiến dịch Điện Biên Phủ không chỉ quan trọng về quân sự mà còn có ảnh hưởng quốc tế.Ngày 6-12-1953, Bộ Chính trị của Cộng Sản Việt Nam thông qua kế hoạch tác chiến ở Điện Biên Phủ. Giáp chỉ là người thi hành kế hoạch do cố vấn Trung Quốc Vy Quốc Thanh đề ra. Người hùng Điện Biên Phủ Võ Nguyên Giáp đã được cố vấn Tầu nặn ra.Chính các cố vấn Trung Cộng đã giúp Việt Minh trong các chiến dịch biên giới, Tây Bắc và Điện Biên Phủ. Trung Cộng đã chi viện cho chiến trường Điện Biên Phủ 8286 tấn tiếp liệu gồm võ khí, lương thực v.v… Cố vấn TC có mặt ở mọi đơn vị. Thí dụ họ đã giúp Việt Minh bố trí pháo binh trong các hào sâu trên sườn núi để tránh bị phi cơ Pháp phát hiện và phá hủy. Pháo binh của Việt Minh, được các cố vấn Trung Cộng điều khiển, là một bất ngờ cho quân đội Pháp. Nhưng sự tham dự tích cực của Trung Cộng vào sự thành công của chiến dịch không hề được Giáp nhắc tới trong các bài viết, trong các sách của y như cuốn Điện Biên Phủ: điểm hẹn lịch sử. (The Chinese support for the North Vietnam during the Vietnam War; The Decisive Edge by Bob Seals).

Sự giúp đỡ của Trung Cộng không ngừng ở chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, đánh dấu sự cáo chung của chủ nghĩa thực dân. Sự giúp đỡ vẫn được tiếp tục trong cuộc chiến xâm lăng miền Nam 1954-1975.
Sám hối ? Thay lời kết:Người hùng Võ Nguyên Giáp, tướng huyền thoại của Cộng Sản Việt Nam chỉ là một nhân vật đại bịp trong số hàng trăm hàng ngàn tên bịp bợm (trong đó có cả tên Hồ), trong quá trình hiện hữu của đảng Cộng Sản Việt Nam. Y không phải là một thiên tài quân sự như đảng Cộng Sản Việt Nam thổi phồng.Chính các cố vấn Trung Cộng do Vy Quốc Thanh, Lã Quí Ba cầm đầu đã đánh thắng quân Pháp trong cuộc chiến 1946-1954 chứ không phải là Giáp. Hào quang của Giáp là do Trung Cộng nặn ra, treo vào cổ Giáp. Sự thực các trận đánh lớn, có tính cách quyết định đều do các cố vấn Tầu Cộng thiết kê và điều khiển.Giáp đã sống trong cái vỏ thiên tài đó trong hơn nửa thế kỷ. Đến nay thì sự thực đã được phơi bầy:

Trong suốt hai cuộc chiến 1946-1954, 1954-1975, Giáp và đảng Cộng Sản Việt Nam đã dựa vào Trung Cộng gần như toàn diện. Nay họ đã và đang trả món nợ đó, trả bằng cả số phận của dân Việt, bằng cả đất nước do tổ tiên để lại: quê hương đang mất dần vào tay người Trung hoa Cộng sản.

Lãnh Đạo Tài, Lãnh Đạo Tồi
Ts. Nguyễn Đình Thắng


Khi cần thoát ra khỏi cơn khủng hoảng hay một vấn nạn, chúng ta cần người lãnh đạo.
Lãnh đạo là khả năng dẫn đường, đưa tập thể từ hiện trạng xấu đến một hoàn cảnh tốt đẹp hơn. Tập thể có thể là tổ chức, công ty, cộng đồng, quốc gia, hay cả nhân loại. Người lãnh đạo phải có tầm nhìn xa, chỉ ra được điểm mốc cho cả hành trình. Không những vậy, người lãnh đạo còn phải biết chuyển ý tưởng thành hành động, để đoàn người cùng nhịp bước tiến lên.
Đó là lãnh đạo. Còn lãnh đạo tài là người tạo ra được cơ chế có khả năng tự vận hành dài lâu mà không cần đến mình nữa. Lãnh đạo tài có thể ví như người chế tạo ra chiếc đồng hồ, ai muốn sử dụng chỉ cần lên dây cót mà chẳng cần biết đến người thiết kế ra nó.

Để làm ví dụ, chúng ta hãy so sánh cuộc cách mạng dân chủ Pháp và Hoa Kỳ. Khác với mấy nhà cách mạng dân chủ Pháp, các vị khai sinh ra đất nước Hoa Kỳ đã khéo tạo dựng cơ chế thể hiện các tư tưởng dân chủ qua hiến pháp, hệ thống luật pháp, và những định chế xã hội dân sự. Nền dân chủ ấy có khả năng tự tồn lâu dài và mọi người dân, trong hành sử bình thường mỗi ngày, góp phần phát huy nền dân chủ qua cơ chế sẵn có. Như vậy các tư tưởng dân chủ không còn lửng lơ ở mức trừu tượng mà đã được cài ngay vào cơ chế vận hành của toàn xã hội, trong từng hoạt động bình thường của người dân và tự tồn qua nhiều thế kỷ. Và cũng chính cơ chế ấy đào tạo nên những lớp người lãnh đạo cho hôm nay và ngày mai.

Người lãnh đạo tài do đó phải có bản lĩnh về tư duy để đề ra những nguyên tắc vận hành cho cơ chế, có khả năng huy động phương tiện và nhân sự để thiết lập cơ chế và, trước khi rút lui vào hậu trường, có đảm lược để chuẩn bị cho lớp người kế thừa duy trì và phát triển cơ chế. Điều cần chú ý là lãnh đạo tài thường không phải là một người mà là một nhóm, mỗi người một sở trường và một phận sự.
Thay vì thiết kế một đồng hồ, người lãnh đạo tồi là người giữ giờ, nghĩa là ai muốn biết giờ giấc đều phải qua tay mình. Mình là cơ chế, cơ chế là mình. Mình là nhất hạng và kiểm soát tất cả, còn mọi người chỉ có vâng phục hay phụ trợ. Mình là cha, là bác còn thiên hạ chỉ là con, là cháu. Người mắc tâm bệnh trầm kha như vậy không thể nào dẫn dắt tập thể đi lên vì “cái tôi” che lấp quyền lợi của tập thể và cản chặn bước tiến của người khác; họ sợ người khác nổi bật hơn mình. Người lãnh đạo tồi sẽ dẫn tập thể đi lòng vòng và có khi xuống hố sâu.
Đó là tình trạng ở nước ta. Người được tôn vinh là “cha già” dân tộc chỉ biết hô hào độc lập, tự do, hạnh phúc nhưng không thiết kế nổi một cơ chế để thể hiện những điều ấy; chỉ biết điều hành quốc gia bằng khẩu hiệu và mưu mô chứ không đề ra được nguyên tắc vận hành trường tồn cho xã hội; tốn rất nhiều thì giờ để tự đánh bóng mình thay vì xây dựng cho đội ngũ lãnh đạo và quản trị đất nước có tài có đức để thay thế mình. Người lãnh đạo với khả năng chỉ có vậy thì đất nước khó mà ngóc đầu lên được.

Xét vậy, người mang “hội chứng lãnh tụ” thì tất nhiên không thể nào là người lãnh đạo tài. Tiếc rằng hội chứng này không chỉ có nơi người cộng sản mà ít nhiều bàng bạc trong hàng ngũ những người Việt tự nhận là tranh đấu cho tự do, dân chủ.
Vì tiền đồ của cộng đồng và của dân tộc, mọi người Việt phải dứt khoát không tôn thờ và cũng không đi tìm lãnh tụ mà hãy cùng nhau tạo dựng nên một đội ngũ lãnh đạo cho ngày hôm nay và mai sau.

Ở bước căn bản nhất, chúng ta phải đòi hỏi thái độ nghiêm túc nơi những người muốn đóng vai trò lãnh đạo: phải nêu ra được sách lược để chuyển ý tưởng thành hành động, phải chứng minh được khả năng quán xuyến qua việc thiết lập những cơ chế phát triển cộng đồng ở hải ngoại hay phát triển dân chủ trong nước, và phải đào tạo được những con người giỏi giang và chân chính để nối tiếp vai trò lãnh đạo.
Chúng ta cần những người lãnh đạo tài./-

NHÂN LỄ GIÁNG SINH 2009 VIẾT VỀ BANG GIAO VATICAN - VIỆTCỘNG
LÝ ĐẠI NGUYÊN


Trước và sau cuộc hội kiến ngày 11/12/09 của Nguyễn Minh Triết, chủ tịch nhà nước Việt cộng với Đức giáo hoàng Benedict thứ 16 tại Vatican, dư luận trong, ngoài Việt nam và cả thế giới đều quan tâm đặc biệt về việc:
Liệu đây có phải là dịp để Nhà nước Việtcộng và Toà thánh Vatican thiết lập quan hệ ngoại giao toàn diện với nhau hay không?


Nếu việc đó xẩy ra trong lúc này, kẻ được lợi là ai và người thua thiệt nhất là người nào?
Đặt vấn đề hơn thua, được lợi, thiệt hại trong ngày lễ hội vui mừng đầy tình yêu thương của nhân loại này, quả là không phải phép. Nhưng đối với truyền thống của quý tín hữu Kitôgiáo, vào ngày Chúa Giáng Sinh, vốn có lời Thiên sứ rằng: “Vinh danh Chúa Cả trên trời, Bình an dưới thế cho người thiện tâm”.
Vậy chẳng thể không phân biệt giữa ‘kẻ ác tâm’ và ‘người thiện tâm’ ở giữa thế giới vô thường đối đãi này. Người thiện tâm thì được chúc phúc. Kẻ ác tâm thì bị nguyền rủa. Mà trên thế giới hiện nay, cả nhân loại đều nhìn nhận rằng: Những kẻ ác tâm gian dối có quán tính và thành hệ thống bậc nhất, không ai khác hơn là bọn cộngsản vô thần và chế độ độc đảng, độc tài, độc ác Xã Hội Chủ Nghĩa, hiện còn tồn tại ở 5 nước, trong đó có Việt nam.
Giới cầm quyền Việt cộng, là một bọn mất tính người, vô văn hóa, vô đạo đức, vô tâm đạo, vô liêm sỉ, phi dân tộc. Coi dân là đối tượng để chúng tham những bóc lột. Coi nước là món quà dâng hiến cho ngoại bang để đổi lấy quyền lực thống trị. Coi tôn giáo là mối đe dọa đối với sinh mạng chính trị của chúng. Bởi vậy, bọn họ không từ bỏ bất cứ thủ đoạn tàn độc nào mà không tiêu diệt các tôn giáo. Tiêu diệt không nổi thì chúng tìm cách dùng luật lệ để trói buộc các tôn giáo vào trong khuôn khổ ‘xin cho’ của “Pháp Lệnh Tín Ngưỡng, Tôn Giáo, ban hành ngày 18/06/2004. Hiện nay các tôn giáo được nhà nước Việt cộng cho sinh hoạt công khai tại Việt nam, đều phải đặt dưới quyền lãnh đạo của Cộng Đảng, phải nằm trong Mặt Trận Tổ Quốc, do Ủy Ban Tôn Giáo Chính Phủ trực tiếp điểu khiển.

Theo tinh thần đó thì các tôn giáo tại Việt nam hiện nay chỉ còn là các Hiệp Hội, không có tư cách pháp nhân của tôn giáo, được tự do sinh hoạt độc lập với chính quyền, như các tôn giáo trong chế độ Dân Chủ, ở đó quyền tự do tín ngưỡng là bất khả xâm phạm. Các tôn giáo hoàn toàn độc lập với chính quyền. Các giáo hội có tư cách pháp nhân về lãnh đạo giáo dân, quản trị tài sản và tự do truyền đạo…Hiện nay, ở Việt nam, tuy một số tôn giáo được Việt cộng thừa nhận, nhưng quyền tự do tôn giáo bị hạn chế nghiêm ngặt, các giáo hội, cũng như toàn dân không có quyền “Tư Hữu Ruộng Đất”. Nên những tài sản đất đại của các giáo hội đã bị Việt cộng tịch thu, hay mượn tạm, đều không được hoàn trả. Trường hợp tranh chấp giữa Giáo Hội Thiên Chúa Giáo Việt nam với nhà nước Việt cộng đã thường xuyên diễn ra ở Hànội, Thái Hà, Tam Tòa, Huế, Nha Trang, Sàigòn, Vinh Long, Đàlạt…cuối cùng Việt cộng đều nhân danh quyền “Công Hữu Ruộng Đất” của cái chế độ cộng sản ăn cướp, chiếm dụng hết. Thế nên việc thiết lập bang giao bình thường toàn diện giữa Giáo Hội Vatican với Nhà Nước Việt cộng còn nhiều trở ngại về cả tinh thần và thực tế không dễ gì vượt qua.
Nếu chỉ với tư cách một quốc gia, Vatican dễ dàng thiết lập quan hệ ngoại giao với Việtcộng, dù khác chế độ. Nhưng ngoài tư cách một quốc gia, Vatican còn là một tôn giáo hoàn vũ. Giáo dân của Giáo Hội này có mặt khắp nơi trên thế giới, ở cả các nước có quan hệ ngoai giao và không, hoặc chưa có. Các giáo dân ở các nước, ngoài là công dân của nước mình, còn là con chiên của Vatican. Chính vì vậy, khi một chế độ như Việtcộng, còn duy trì chủ nghĩa cộng sản vô thần, độc tài toàn trị, không công nhận quyền tự do tôn giáo, quyền tự do tư hữu, không tôn trọng nhân quyền, chưa dân chủ hóa chế độ, mà Vatican vội thiết lập bang giao toàn diện với họ, tức là công nhận cái chế độ đầy ‘Ác Tâm’ đó, rồi trao cả linh hồn và xác các con chiên Việt nam của mình vào tay ma quỷ. Trong trường kỳ lịch sử, nếu làm vậy, Thiên Chúa Giáo tại Việt nam sẽ tự đánh mất vị trí tôn giáo chính của mình trong cộng đồng tôn giáo dân tộc.
Vì toàn dân Việt nam hiện nay, đều khát khao tự do dân chủ nhân quyền. Không thiếu gì tu sĩ, giáo dân Thiên Chúa Giáo, đang cùng với các tôn giáo dân lập khác, với các nhà trí thức, văn nghệ sĩ và thanh niên, quyết liệt đấu tranh, chịu hy sinh gian khổ, chịu khủng bố, tù đầy, nhằm giải thoát quốc dân và dân tộc khỏi chế độ độc tài, tàn ác, phi nhân, cam tâm làm đầy tớ cho bọn bành trướng Bắc kinh, kẻ thù truyền kiếp của Việt nam. Mà thế lực có thể giải trừ Quốc Nạn Độc Tài và Nô Lệ TrungCộng cho Việt nam hiện nay, Quốc Dân trông vào nơi các tôn giáo ở Việtnam và áp lực của Quốc Tế. Nếu tất cả cùng nhắm vào công việc duy nhất là tranh dòi Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền cho Việt nam, và chống
Trung cộng xâm lược thì Việt cộng không còn cầm cự được lâu nữa.

Viêt cộng biết rõ điều đó, nên năm 2007 cho Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng, năm nay 2009, cho Nguyễn Minh Triết, chủ tịch nước Việt cộng sang Lamã gặp Đức Giáo Hoàng với hy vọng thiết lập bang giao song phương toàn diện giữa Vatican và Việt cộng. Nhưng chỉ đạt được những lời hứa. Nguyễn Minh Triết tuyên bố: “Chúng tôi đang làm việc để khai mở quan hệ ngoại giao với Vatican”. Về phía Vatican thì: “Tòa thánh cầu mong những vấn đề còn tồn đọng có thể sớm được giải quyết”.


Chắc Vatican chẳng sao quên, việc tổng thống Mỹ, George W, Bush, tháo bỏ quy chế CPC, ban quy chế PNTR, cho Việt nam vào WTO, để rồi Việt cộng lật lọng tiếp tục đàn áp tôn giáo…Sau khi Nguyễn Tấn Dũng gặp Giáo Hoàng thì chúng bắt linh mục Nguyễn Văn Lý và các nhà đối lập. Đồng thời mở ra một phong trào lấn chiếm đất đai của nhà thờ làm công viên. Trong kế hoạch tạo điều kiện giúp cho Mỹ tháo bỏ Việt nam ra khỏi danh sách “các nước cần quan tâm đặc biệt về vấn đề tôn giáo” CPC, Việt cộng đã mời Tăng Đoàn Làng Mai và thiền sư Nhất Hạnh nhiều lần về Việt nam thuyết giảng. Nhưng khi ảnh hưởng của phương pháp tu Làng Mai ăn sâu vào giới thanh niên, kết quả có 400 tăng ni trẻ theo về tu viện Bát Nhã Lâm Đồng để tu học, khiến Việt cộng phải núp dưới dạng côn đồ lưu manh, xuống tay đánh đuổi Tăng, Ni ra khỏi chùa.

Đồng thời cấm Giáo Hội Phật Giáo nhà nước, không được chứa chấp. Đây rõ ràng là vụ đàn áp tôn giáo một cách trắng trợn. Nếu Việtnam chưa có Dân Chủ đích thực, mà Vatican đã bang giao với Việt cộng thì cũng khó tránh khỏi phải nhìn cảnh đau lòng đối với Giáo Dân Việt nam của mình như trên./-

Tuesday, December 29, 2009

Tâm Tình xin gởi đến toàn thể Anh Chị Cựu QN/QLVNCH

Nguyễn Thùy

Kính thưa Các Anh Chị,

Người viết không là quân nhân (được miễn dịch vì sức khỏe, làm nghề dạy học tại các Tư Thục Sài-Gòn ; thời còn đi học, có tham gia VNQĐD tại địa phương Quãng Nam ) .Suốt trên hơn phần tư thế kỷ, qua hai thời kỳ Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hoà VN, trong cuộc chiến đấu chống xâm lăng Cộng sản, người viết được chứng kiến, được biết rõ ràng tinh thần chiến đấu dũng cảm kiên cường cùng những hy sinh to lớn của tập thể quân đội VNCH để bảo vệ đất nước, bảo vệ tự do cho nhân dân Miền Nam được hưởng cuộc sống ấm no, thanh bình. Người viết cũng như toàn thể nhân dân Miền Nam (ngoại trừ những kẻ nằm vùng theo giặc) vô cùng cảm phục, mến yêu và biết ơn tập thể quân đội VNCH từ cấp binh nhì, binh nhất, hạ sĩ quan đến cấp úy, cấp tá, cấp tướng.

Tất cả cùng một tấm lòng yêu nước thiết tha, cùng một dũng khí hùng anh, cùng một ý> chí kiên cường bất khuất, dù gian khổ đến đâu, hiểm nguy đến mấy, vẫn luôn vì ‘Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm’, vẫn luôn vì nghĩa nước tình dân dù có phải hy sinh cũng sẵn sàng chấp nhận. Những trận đánh kinh hồn với những chiến công hiển hách tại Pleime, Đắc Tô, Đồng Xoài, Ngọ Môn, Huế, Sài-Gòn hồi Tết Mậu Thân, Bình Long, An Lộc, Mùa Hè Đỏ Lửa… và còn biết bao thắng lợi lẫy lừng trên khắp mọi miền từ địa đầu giới tuyến đến mũi Cà Mau đã tạo nên trang sử hào hùng, vẻ vang của đoàn quân tinh nhuệ, làm nức lòng toàn thể nhân dân .Những gương hy sinh dũng cảm đó trong cuộc chiến, cùng những gương tuẩn tiết của bao tướng tá như Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai, Phạm Văn Phú, Hồ Ngọc Cẩn,…cùng bao sĩ quan và quân nhân thuộc mọi binh chủng kể cả khí tiết hào hùng của anh em nơi các trại tù Cộng sản, đã nói lên cái nghĩa khí rạng ngời của một quân lực tinh nhuệ, kiên cường, chỉ vì những quyền lợi đổi chác bên ngoài đã ‘bức tử’ một quân đội anh hùng.. Đến nay, trang sử đầy bí mật ̉ dần dần được ‘giải mã’ cùng với thực trạng đất nước đau thương cùng độ do bọn người ‘chiến thắng’ đã và đang gây nên, càng khiến toàn dân cả nước tiếc thương tập thể quân đội anh hùng một> thời lẫy lừng trên chiến địa.Tuy nhiên, bây giờ, nơi hải ngoại, niềm cảm phục của người viết phần nào bớt đi, hao mòn dần nhường chỗ cho ngậm ngùi, thương tủi. Trong nỗi ngậm ngùi đó, nhìn lại trang sừ đã qua, trong tâm trạng một người nặng lòng với đất nước, một nhà giáo cùng một kẻ có biết làm thơ, viết văn ít nhiều, người viết xin gởi đến toàn thể các anh em Cựu Quân Nhân VNCH tại hải ngoại chút tâm tình sau đây :I.-Thất bại kiêu hùng: Cuộc tan hàng của cả một binh lực tinh nhuệ, đầy nghĩa khí do cái lệnh ‘buông súng’ của Tổng Thống hai ngày Dương Văn Minh cùng sự sụp đổ của chánh thệ̉ VNCH vào ngày 30/04/75 là một thất bại đau thương của toàn thể quân đội và nhân dân Miền Nam để thảm họa trút lên toàn thể mọi người mà tầng lớp quân đội và gia đình họ phải gánh chịu nhiều hơn bất cứ ai. Thất bại nhưng là một ‘thất bại kiêu hùng’. Gọi là ‘thất bại kiêu hùng’ vì tập thể quân đội VNCH chiến đấu đến giờ phút chót trong những điều kiện thiếu thốn, gian nguy cùng cực. và chỉ ‘buông súng’ sau lệnh ‘đầu hàng’ (!) của Tổng Thống Dương Văn Minh và Chính Phủ của ông. Cái thất bại của> tập thể Quân Đội VNCH không do họ, mà chỉ vì những sắp đặt, đổi chác, tính toán của các thế lực bên ngoài, đã tước đoạt hết mọi điều kiện chiến đấu. Vì thế, cái thất bại của quân đội VNCH, của nhân dân Việt Nam miền Nam nói chung, là một ‘thất bại kiêu hùng’ chẳng khác với cái thất bại của Imre Nagy, người hùng của dân tộc Hung-Gia-Lợi, bị quân đội Liên Xô thời Nikita Krouchev tràn ngập, tàn sát năm 1956 vì ông và đồng bào ông đã vùng dậy đấu tranh thoát ách Cộng sản để xây dựng Dân Chủ, Tự Do cho xứ sở, cho nhân dân..

Trong lúc đó, kẻ địch tức phe Cộng sản ‘chiến thắng’ nhưng là một ‘chiến thắng nhục nhã’.‘Kẻ thua thì kiêu hùng, kẻ thắng lại nhục nhã’, nghe ra nghịch lý nhưng sự thực là thế.Gác qua bên những vấn đề ý thức hệ, chính trị, tình hình thế giới, người viết gọi ‘thất bại của tập thể quân lực VNCH cùng cả Miến Nam là ‘thất bại kiêu hùng’ trong lúc chiến thắng của quân đội và tập đoàn Cộng sản Bắc Việt là ‘chiến thắng nhục nhã’, do từ phân tích ý nghĩa, tinh thần cùng tâm tình trong chiến đấu giữa hai người lính –người lính VNCH và người lính Cộng sản Bắc Việt. (Xin gọi chung là ‘lính’, là ‘quân nhân’ mà ́ không gọi ‘chiến sĩ’, ‘cán binh, bộ đội’ vì đã vào quân ngũ thì gọi theo danh từ chung là ‘lính’),a) Người lính VNCH: Theo cái nhìn của người viết, người lính VNCH lúc còn dân sự đến khi gia nhập quân đội và đi vào chiến trận, mặc nhiên mang cả bốn tính chất : ‘người dân, người lính, người chiến sĩ và cả người nghệ sĩ’. Họ đi lính là để bảo vệ người dân, ngoài những lần hành quân đương đầu với giặc, họ sống chẳng khác gì người dân ; họ chiến đấu kiên cường nên trở thành chiến sĩ và chất nghệ sĩ luôn ẩn trong họ vì đã được thừa hưởng cái không khí tự do đầy tính Văn nghệ của miền Nam trong học đường, ngoài xã hội, biểu hiện qua ngôn ngữ, hành động, ý nghĩ,…nhất là nơi tầng lớp sĩ quan tốt nghiệp các trường võ bị Đà Lạt, Thủ Đức.Hai đặc điểm rõ ràng nhất nơi người lính VNCH là tính nhân bản và tính đậm đà tình cảm với nước, với dân, với gia đình, vợ con, với bạn bè đồng ngũ, với người tình, với cả những em gái hậu phương. Do hai tính chất nầy mà sau nầy, văn học VN có biết bao sáng tác trung thực, đẹp đẽ nào truyện, nào thơ, nào nhạc,… nói lên cái ‘đẹp’ của người lính VNCH suốt trên 20 năm chinh chiến chống quân thù. Quân đội VNCH nghiêm minh về kỷ luật nhưng luôn luôn sống thực và tôn trọng tình cảm cá nhân nơi mình và nơi đồng đội.-Ngoài những lúc phải đối mặt với quân thù, những lần hành quân rà tìm dấu vết kẻ địch, còn thì những lúc dừ̀ng quân, dưỡng quân,…, người lính VNCH hầu như luôn lẩm nhẩm những bài thơ, những bài hát, ngay cả nghe những bài ca phản chiến, sáng tác thơ ca nói lên cuộc sống và tâm tình người lính chiến. Ngay trong trại tù khổ sai của Cộng sản, người lính VNCH cũng làm thơ, làm nhạc, lẩm nhẩm học thuộc lòng rồi lén lút đọc, hát cho nhau nghe để nung chí kiên cường, bất khuát trước gọng kềm của giặc. Bao nhiêu thơ ca, bao nhiêu hồi ký về trại tù Cộng sản đã trở nên những tài liêụ ̉ giúp cho người sau có thể ‘thẩm định’ một giai đoạn lịch sử bi thương của dân tộc.-Đọc những bức thư nhà của cha mẹ, vợ con, của bạn bè hay người tình rồi viết thư hồi âm, lúc nào cũng nói lên mối tình tha thiết luôn nghĩ về cha mẹ, vợ con,…. để thêm kiên cường chiến đấu, mong sao sớm chấm dứt chiến tranh, về sống yên lành, chăm lo hạnh phúc của nhau cùng gây dựng tương lai cho con cháu.Một trường hợp đặc biệt, một người lính VNCH nhặt được tập nhật ký của một nữ ‘bác sĩ’̣ Việt Công (cô Đặng Thùy Trâm) chết thảm, đọc qua chỉ thấy những kể lể gian khổ cùng tâm tình gởi đến người tình, đã không nỡ hủy bỏ, ném đi mà trao cho người bạn đồng minh giữ làm kỷ niệm.-Người lính VNCH, giờ đây yên ấm nơi xứ người, dù có người tuổi đã cao, vẫn không quên bao đồng đội còn nơi quê hương, lết lê thân héo hồn tàn, cùng gia đình thất thểu kiếm ăn từng ngày không đủ sống, để chia xẻ chút tiền già và vận động đồng hương nơi hải ngoại quyên góp hàng năm tìm cách gởi về giúp đỡ đồng đội xưa, rủi ro thương tật (Cũng xin nói người viết rất bất mãn những trò lợi dụng tính ‘nhân đạo’ nầy để mưu lợi riêng và làm lợi cho Cộng sản).Do tất cả những điều trên, hình ảnh người lính VNCH, theo cái nhìn của người viết, luôn luôn là hình ảnh đẹp.

b) Người lính Cộng sản: Qua một số sự kiện được biết, người viết nhận ra rằng người lính Cộng sản không có những sắc thái đẹp đẽ trên.Họ -người lính Cộng sản- đi chiến đấu không cho người dân, cũng không cho chính người lính nơi họ mà chỉ cho tập đoàn Cộng sản cầm quyền, cho cái ý thức hệ riêng tư của lớp người lãnh đạo. Cộng sản đã biến người dân thành người lính, đã ép buộc người dân phải trở thành người lính. Họ đã xua hàng hàng lớp lớp người dân đi trước lính trong những chuyến công đồn đả viện. Chiến thuật biển người của Cộng sản đã nướng chết hàng vạn người dân và người lính. Họ cưỡng bức người dân phải trở thành người lính bằng đủ mọi thủ đoạn (như cúp hộ khẩu của cả gia đình) để phục vụ Đảng và Nhà nước, để giương cao ngọn cờ Cộng sản khắp nơi nơi. Họ đã xua hàng> vạn thanh niên chưa đủ tuổi trưởng thành phải ‘sinh Bắc tử Nam ’. Họ không ngần ngại xích chân người lính vào các khẩu pháo để họ tìm vinh quang trong chiến thắng và người lính phải hy sinh để được họ phong cho là ‘anh hùng, liệt sĩ’. Cả những thương binh cũng bị cấp chỉ huy đành bỏ mặc, không được tải thương, chữa thương vì không điều kiện hay phải ‘để chêt́’ để khỏi phải ngăn cản việc rút quân sau mỗi trận đánh. Người lính Cộng sản không có một chút sống nào cho mình mà chỉ có phải ‘quyết tử’, phải học thuộc khẩu hiệu, phải là ‘anh hùng’ tạo vinh quang cho Đảng theo thứ ‘chủ nghĩa anh hùng cách mạng’ giả tưởng như Nguyễn Văn Trổi, Lê Văn Tám. …Đả̉ng nắm trọn> mọi thứ, kiểm soát từng lời ăn, tiếng nói, từng thái độ, cử chỉ của người lính, người dân. Người VN nào, dù Bắc Nam, Trung, miền xuôi hay miền thượng cũng đều mang tính chất nghệ sĩ ít nhiều nơi mình nhưng Đảng đã giết chêt́, đã ngăn chặn cái tính nghệ sĩ bản nhiên đó nên người lính Cộng sản chiến đấu không cho dân, vì dân, không cho đất nước quê hương mà chỉ để phục vụ Đảng Cộng sản. Họ phải nhập tâm ‘yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội’ , phải tôn thờ Đảng hơn cả Tổ quốc, hơn cả tổ tiên, cha mẹ mình. Bị Đảng giết chết hết mọi tình cảm tự nhiên, đẹp đẽ nơi con người, nên người lính Cộng sản không có được những nét đẹp như người lính VNCH.-Người lính Cộng sản không được phép viết một thư cho cha mẹ, vợ con kể lễ những gian truân nơi chiến trường, không được phép nhận một bức thư nhà nói về nỗi mong ngóng, đợi trông ; không được viết hay ngâm một câu thơ, một lời nhạc nói đến tình ái lứa đôi, than thở, trở trăn một cuộc tình dang dở hay cảnh đoàn tụ yên vui, xây dựng hạnh phúc gia đình nay mai khi được sống sót trở về.(nếu có thì chỉ là lén lút, âm thầm). Mọi thư từ, nếu có, của người lính Cộng sản gởi cho cha mẹ, vợ con, bạn bè đều bị các cấp chỉ huy, các cấp đảng ủy kiểm duyệt, phải tuân thủ đúng công thức viết thư mặc nhiên do Đảng đã ấn đinh : ‘phải nói lên tinh thần quyết tử, phải sĩ vã> chưởi mắng đối phương, phải ca tụng và biết ơn đảng,…’.-Không người lính Cộng sản nào bị thương hay bị bỏ mình nơi chiến trận mà được Đảng hay cấp chỉ huy thông báo cho gia đình, vợ con.-Người lính Cộng sản không bao giờ được có lời hay thái độ thở than về mọi gian nguy, thiếu thốn cùng cực của mình cũng như bày tỏ nỗi xót thương cha mẹ, vợ con ngày đêm trông mong mình được trở về nguyên vẹn.-Người lính Cộng sản không bao giờ được phép có một ý, một lời tỏ ra bất mãn, khó chịu mà lúc nào và bao giờ cũng phải tung hô ‘Đảng vĩ đại, bách chiến bách thắng,(!),…’.-Mỗi người lính Cộng sản -cũng như mỗi người dân dưới chế độ Cộng sản- phải tự biến mình thành một tên công an, một tên tình báo, một tên mật thám với chính mình, với cha mẹ, vợ con, với bạn bè, với đồng đội. Những thanh niên sinh sau 1954 lại càng thiếu cái chất ‘nghệ sĩ’ bản nhiên của dân tộc vì chế độ giáo dục Xã hội chủ nghĩa đã làm triệt tiêu tính chất nầy rồi. Cuồng tín và cuồng bạo -cuồng tín theo Đảng, cuồng bạo đối với ai không theo đảng- đấy là chủ đích giáo dục của Cộng sản cho nhân dân miền Bắc và cho lớp lính Cộng sản trong cuộc chiến xâm lăng miền Nam.-Người lính Cộng sản đi vào chiến trận không vì yêu nước, yêu dân, cũng chẳng phải vì bổn phận, trách nhiệm, danh dự vì họ chỉ là thứ công cụ trong tay Đảng, mặc sức vo tròn, bóp méo sinh mạng và cuộc sống của họ.-Người lính Cộng sản bắt buộc phải nhập tâm và thực hiện cho bằng được cái ‘vinh quang’ của đảng bằng chính sinh mạng người dân và người lính nơi mình. Bởi vì, người lính Cộng sản, khi chỉa súng vào đối phương, cùng lúc đã cảm thấy họng súng của đảng chỉa vào gáy, vào lưng mình, nên bắt buộc phải ‘quyết tử, phải anh hùng’ (!).Do đó, cái chiến thắng của Cộng sản ngày 30/04/75 là một ‘chiến thắng ô nhục, một chiến thắng nhơ bẩn’. Do cuồng tín và cuồng bạo, người Cộng sản đã trở thành những sát thủ, sát nhân và sau chiến tranh, đã đày đọa đối phương bằng đủ mọi thủ đoạn bạo tàn khủng khiếp.Cái ‘nhục nhã, nhơ bẩn’ nầy của Cộng sản càng được chứng minh qua bao việc làm của Cộng sản sau ngày họ gọi là ‘Đại thắng mùa Xuân’ năm đó.

Suốt trên 30 năm, Cộng sản đã gây ra điêu đứng cho nước, cho dân, ai cũng đều thấy rõ : sẵn sàng làm tay sai cho Tàu Cộng, nhường đất, nhường biển cho Tàu cộng, đày đọa nhân dân vào cùng độ thảm thương, biến VN thành xứ sở lạc hậu, thoái hóa, nghèo nàn nhất, nhơ bẩn nhất trên thế giới.Cái ‘chiến thắng nhục nhã’ của Cộng sản vào ngày đó đã khiến toàn dân miền Bắc bàng hoàng, sửng sốt, đau buồn vi suốt trên 20 năm dưới chế độ ‘VN Dân Chủ Cộng Hòa’, dưới lá cờ máu ‘nền đỏ sao vàng’, nhân dân Miền Bắc luôn mong ngóng, đợi trông từng ngày từng tháng được quân lực VNCH ra giải phóng họ, nào ngờ…. :Cái ‘chiến thắng nhục nhã’ của Cộng sản vào ngày đó đã khiến một nữ Văn công Cộng sản (nhà văn Dương Thu Hương) lúc bà ngồi nơi góc đường Tự Do, đã ngậm ngùi, bi phẫn lên lời : ‘Kẻ chiến bại là người văn minh, kẻ chiến thắng lại dã man’ (người viết ghi nội dung, không nhớ đúng nguyên văn). Và sau nầy, bao người Cộng sản, nhìn lại cái .’chiên thắng nhục nhã’ của họ, đã không còn gọi tập thể chiến sĩ VNCH là ‘ngụy quân’ mà gọi là ‘quân đội Sài-Gòn’ một cách trân qui, tiếc thương.Rồi cũng chính người Cộng sản, vài chuc năm sau, càng làm nhục thêm cái chiến thắng nhục nhã của họ. Khẩu hiệu ‘chống Mỹ cứu nước’ ngày nào, bây giờ trở nên trơ trẽn, mất giá một cách thảm hại. Chống Mỹ, đuổi Mỹ để rồi sau đó, trải thảm đỏ đón rước kẻ ‘cựu thù’ hay liên tiếp van xin viện trợ, đầu tư ; nhục nhã hơn nữa là cấp lãnh đạo Cộng sản lại gởi con cháu mình qua học hành, tu nghiệp nơi cái xứ ‘tư bản đế quốc’ mà họ từng mắng nhiếc không tiếc lời.Cái ‘chiến thắng nhục nhà’ của người Cộng sản lại càng lúc càng thêm ‘nhầy nhụa, đê hèn’ vì ngày nào sỉ vả hàng ngũ quân đội VNCH đủ điều xấu xa, mạt sát họ chỉ là ‘tay sai đế quốc’, trốn qua Mỹ để được hưởng chút cơm thừa canh cặn của quan thầy, mạt sát vợ con họ qua Mỹ là hạng đĩ điếm, lưu manh, thế mà, chỉ hơn mươi lăm năm sau lại ve vuốt, vỗ về, ca tụng là ‘khúc ruột ngàn dăm’ để ngửa tay sung sướng, mừng rỡ nhận được số ngoại tệ do chính bọn người ‘phản động, phản cách mạng’ nầy từ ngoại quốc gởi về mà số người ‘làm ơn’ (!) cho chúng, phần lớn lại chính là các Cựu Quân Nhân VNCH cùng gia đình của họ.[Viết những dòng trên, một điều, người viết thấy cần minh định rõ ràng : ‘những từ ‘chiến thắng nhục nhã, cuồng bạo, đê hèn’, người viết dùng để nói về tập đoàn lãnh đạo Cộng sản cùng cấp tướng tá đảng viên Cộng sản, chứ không ám chỉ hàng ngũ binh sĩ đã bị Cộng sản bắt buộc phải vào Nam chiến đấu vì những lớp binh nhì, hạ sĩ, cả một số cấp úy chỉ là nạn nhân đã bị Lãnh đạo và tướng tá CS thúc ép phải cầm súng phục vụ cho tham vọng đen tối, cho quyền lợi, quyền lực của chúng thôi. Người viết cũng xin rút lại những từ mang tính ‘nhục mạ’ trên đới với những đảng viên CS, những cấp tướng tá CS nay đã phản tỉnh, trở về với dân tộc, đứng vào> hàng ngũ nhân dân chống lại Đảng CS và chế độ CHXHCN bạo tàn, đấu tranh xây dựng Dân chủ, Tự do cho cả nước, như Trung Tướng Trần Độ (?), Trung Tá Trần Anh Kim cùng bao người nữa]Từ ngày đó (30/04/75) cho đến nay và mai nầy, toàn dân VN, lịch sử VN càng lúc càng yêu mến, ca ngợi cái ‘thất bại kiêu hùng’ của tập thể quân đội VNCH, của cả nhân dân VNCH, và càng chê khinh, căm ghét̉ cái ‘chiến thắng nhơ bẩn’ của tập đoàn Cộng sản côn đồ, phi nhân.II.- Đau thương, Tủi nhục:Nhưng rồi, đến xứ người, cái ‘kiêu hùng’ có hừng hực dâng cao trong một số năm đầu, thì sau đó, từ lúc Hoa Kỳ bỏ lệnh ‘cấm vận VN’ rồi bang giao bình thường với VN Cộng sản, tiếp theo những chủ trưởng ‘hòa hợp hòa giải, quên quá khứ, quên hận thù, hướng về tương lai’ của một số trí thức, chánh khách (!) hoạt đầu cơ hội cùng với cái được gọi là chủ trương ‘diễn biến hòa bình’ của Hoa Kỳ, chủ trương cởi mở ‘kinh tế thị trường theo định chế xã hội chủ nghĩa’ của Cộng sản, nhất là sau vụ lừa gạt của một đôi tổ chưc‘Mặt trận, Chính Phủ’ (nhằm mưu đồ riêng tư chứ không thực lòng vì nước, vì dân) ; thêm vào đó thủ thuật ve vuốt, cù rủ ma mị> của Cộng sản, người Việt tỵ nạn Cộng sản, trong đó không ít Cựu Quân Nhân, vội vã về VN, gởi tiền về VN. Cái khí thế đấu tranh chống Cộng để xây dựng Dân chủ Tự do cho đồng bào quốc nội càng lúc yếu dần, hàng ngũ người Việt tỵ nạn Cộng sản càng ngày thêm phân hóa đáng buồn. Trong lúc đó, tập đoàn Cộng sản lại có điều kiện khai thác để phá nát Cộng Đồng người Việt hải ngoại.Nơi đây, người viết chỉ xin tâm tình với tập thể anh chị Cựu Quân Nhân Quân Lực VNCH, xin không ngỏ lời với các giới đồng bào khác.Do những tác động khách quan nói trên, các̉ Cựu Quân Nhân VNCH nơi hải ngoại đã tự mình làm lịm tắt cái hiên ngang, kiêu hùng đáng quí trước đây. Và, theo người viết, chính sự suy sụp ý chí, tinh thần của Anh Chị Cựu Quân Nhân Quân lực VNCH đã khiến lây lan, làm cho tinh thần, ý chí chống Cộng của đồng bào càng lúc càng yếu đi vì, trong số người tỵ nạn Cộng sản thì hàng ngũ Cựu Quân Nhân chiếm tỷ lệ cao nhất; số đông yếu đi thì số ít kia cũng mất đi chỗ tựa bền vững, mạnh hùng. Sự việc đáng buồn nhưng không thể không kể ra.Cái ‘kiêu hùng trong chiến đấu’ cũng như ‘kiêu hùng trong thất bại’ trước đây là của chung Tập thể Quân đội VNCH chứ không của riêng ai dù cấp bực Tướng Tá, cũng không riêng của một Binh chủng nào. Thế nhưng, sang xứ người, một số Anh Chị không sống với cái ‘kiêu hùng chung’ đó mà giành cái ‘kiêu hùng chung’ đó cho riêng mình để tự đề cao mình nhưng lại nhân danh binh chủng mình, vô tình gây mất tình ‘đoàn kết’ của cả tậ̣p thể.-Một đôi người viết hồi ký tâng bốc công trạng mình, lại viết không mấy đẹp về kẻ khác. Một sô kháć, qua các bài viết trên báo, trên các diễn đàn cũng thế. Thấy người nầy tự đề cao, khoe khoang công trạng thì người khác thấy cũng cần nên ‘khoe mình’ chút ít… Và khi tự đề cao mình thì mặc nhiên gây ra bất mãn nơi số người khác để đưa đến những chỉ trích, chê bai, mai mỉa, kể xấu nhau, xuyên tạc, vu khống, bóp méo sự thật, kể cả moi móc đời tư để ‘hạ gíạ́’ nhau. (Người viết xin cảm mến những những chiến sĩ hào hùng trước đây, sang xứ người, ôm nỗi buồn đau, cô đơn, lặng im, không nói, không viết gì về mình, về cuộc chiến vừa qua, dù người viết luôn> mong các vị đó có những hoạt động cụ thể trong công cuộc đấu tranh chống Cộng.

Nhiều hồi ký, nhiều bài viết, bài thơ của một số Tướng, Tá, của một số cấp Úy, ngay cả cấp Hạ sĩ, binh nhì, chỉ thuật lại những trận đánh, những chiến thắng, tuyệt nhiên không đề cao, thành tìch của mình ; những hồi ký, bài viết đó mang tính lịch sử chứ không phải nhằm ‘ca tụng’ mình, quả đáng khâm phục về tinh thần và tư cách của các tác giả).- Sang xứ người, mỗi Anh Chị chỉ là một ‘Cựu Quân Nhân’ thôi và là từng cá nhân một, chứ không còn nằm trong một́ hệ thống tổ chức, có chỉ huy, có cấp trên cấp dưới nữa. Thế nhưng, một số hầu như còn nghĩ tưởng cái quá khứ trước đây nên sống trong ‘hoài niệm’ để sinh ra buồn chán- Một số khác̀, qua xứ người sớm, chịu khó làm đủ nghề, ăn nên làm ra, điều nầy quá tốt nhưng đôi người đâm ra hợm hĩnh’ ‘hãnh tiến’, khiến thái độ đối xử, giao tiếp với nhau trở nên lạnh nhạt, tỵ hiềm rồi xa lánh nhau, chê khinh nhau.Những mặc cảm tai hại trên đã khiến cái tình ‘huynh đệ chi binh’ ngày nào tan loãng, đã khiến cái ‘kiêu hùng của tập thể Quân Đội VNCH’ sút giảm, mất giá, phai nhạt dần đi. Cái ‘kiêu hùng của cả tập thể’ giờ đây biến thành cái ‘kiêu hùng’ của từng cá nhân, cái kiêu hùng ‘giả tạo’ do mặc cảm tự tôn, tự ty, do thói quen ưa đề cao, ưa khoe khoang, ưa tâng bốc của từng cá nhân. Nhiều Anh Chị Cựu Quân Nhân hầu như không còn giữ, không còn sống cái ‘tinh thần tập thể’ xưa kia mà chỉ sống với cái cá nhân, mượn danh nghĩa ‘Cựu Quân Nhân’ làm chiêu bài để tự hào, trang hoàng mình với đồng bào nơi hải ngoại.III.- Tính khoác lác khoe khoang, tự đề cao, quảng cáo mình:-Nơi xứ người, vai trò Cựu Quân Nhân không còn thích hợp về mặt quân sự ̣nên xoay qua ‘tranh đấu về mặt chính trị’. Và cái danh hiệu Cựu Quân Nhân trở thành một bảng hiệu quảng cáo sáng giá nơi những kẻ háo danh, háo lợi, háo tiếng tăm… Rồi lợi dụng cái ‘Tự do ngôn luận’ nơi xứ Dân chủ, mỗi người tha hồ bày đặt đủ thứ để đề cao, tâng bốc mình, tự cho ta đây mới là kẻ yêu nước thiệt tình, mới là chién sĩ chống Cộng trung kiên, đúng đắn nhất, kiêu hùng nhất. Để chứng minh điều nầy, mỗi người tìm cách ̀kể lể, nêu ra những thành tích của mình trong chiến đấu trước đây, những thành tích nhỏ thôi nhưng được phóng đại thành lớn lao..-Đôi Anh Chị, nghĩ rằng mọi hồ sơ quân bạ trước đây, qua bao nhiêu năm hẳn không còn lưu trử, nên đã ‘tự phong’ mình từ một cấp thấp lên một cấp cao hơn (chẳng hạn từ Thiếu Úy, Trung Úy lên Thiếu Tá, Trung Tá,..) hay được một đôi tổ chức ‘phong’ cho tước hàm vượt bực rồi khoe khoang bao việc làm ngày trước thực sự nhiều khi là bịa đặt, để ‘đánh bóng’ mình với bao đồng đội. Rồi, một số Anh Chị khác sưu tầm, tìm ra, vạch trần những gian dối, bịa đặt ; thế là cãi vã, đôi co, chỉ trích, noi xấu bằng đủ mọi thứ ngôn ngữ nặng nề..- Đôi Anh Chị có̉ được một tờ báo, một Diễn đàn, thế là dùng phương tiện nầy quảng cáo mình đủ cách, nghĩ rằng chỉ mình mới là người quốc gia chân chính, trung kiên, mới là kẻ kế thừa đúng đắn cái ‘kiêu hùng, bất khuất’ của Quân đội VNCH hơn ai hết. Cái kiêu hãnh, tự tôn, không được chứng minh rõ ràng bằng sự việc ngày qua hoặc ‘có ít xít ra nhiều’ dĩ nhiên không thể không gây bất mãn cho bao Anh Chị khác vì thấy những kẻ đó không làm rạng danh hàng ngũ Quân Đội mà chỉ khiến thanh danh Quân Đội ngày thêm mất giá. Những vụ ‘đánh phá’ nhau, bôi nhọ nhau nhan nhản trên các diễn đàn,.-Rồi mỗi người, vì cái thói quen ưa đề cao, ưa khoe khoang, cứ nghĩ chỉ có mình mới là kẻ tích cực chống Cộng, mới là ‘anh hùng’ chống Cộng. Từ đó, nẩy sinh cái tính ưa lãnh đạo, mua chuộc, quyến rủ một đôi người khác theo phe mình, tung hô, tâng bốc mình. Những ai không đồng ý, không thuộc ‘phe’ mình hoặc có lời nói, thái độ không đồng tình với mình, thì bị xem là ‘tiêu cực’, là ‘lưng chừng, là ‘thân cộng’, làm tay sai cho Cộng. Mọi thói vu vạ, chỉ trích, đánh phá, sĩ vã nhau được tung ra trên báo chí, truyền thông khiến bao nhiêu kẻ khác không còn biết ai là kẻ thực sự chống cộng, ai là kẻ mượn chiêu bài ‘chống cộng’ để đánh bóng, cốt làm ‘vang danh’ tên tuổi> cá nhân mình. Từ đó, cái ‘kiêu hùng bất khuất’ của tập thể Quân Đội VNCH trước đây không còn được mọi người tôn trọng như xưa vì hàng ngũ Cựu Quân Nhân VNCH bây giờ phân hóa, chia rẻ, chống đối nhaủ,. Ai cũng muốn làm ‘lãnh tụ’, ai cũng tự cho là ‘anh hùng’, tự cho mình mới là kẻ ‘xứng đáng’ nhất, từ đó tạo bi kịch cho toàn thể. Cứ xem cái Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Thủ Đức, bao năm qua đã rã rời, tan nát ra sao, cho mãi đến nay cũng vẫn còn tình trạng đau thương đó. Cho dù bảo rằng do Cộng Sản phá hoại, nhưng chưa hẳn do Cộng sản tài ba gì mà trước tiên do từ những mặc cảm tự tôn, tự ty, do cái thói quen ưa tranh giành địa vị, tiếng tăm, ưa tạo cho mình một thứ ‘danh> tiếng’ hão huyền, ưa được nắm quyền điều khiển, ưa làm ‘lãnh tụ’, ưa được tâng bốc, đề cao. Cộng sản khai thác nhự̃ng điểm đó để gây chia rè, nghi ngờ nhau giữa hàng ngũ các Anh Chị và đồng bào chống Cộng. Mỗi Anh Chị, khi phóng bút tự đề cao mình trên báo chí, diễn đàn, hầu như quên nghĩ đến việc Cộng sản thừa cơ lợi dụng mình, cùng không nghĩ đến hậu quả xảy ra cho mình và cho các Anh Chị khác cũng như cho công cuộc đấu tranh chống Cộng của toàn thể người Việt tỵ nạn Cộng sản.Thưa các Anh Chị,Qua những những điều được nói trên, người viết đau lòng nghĩ rằng: ‘’Cai kiêu hùng của tập thể Quân đội VNCH’ trước đây, nay chỉ còn là vang bóng. Bây giờ, một số Anh Chị Cựu Quân Nhân không còn giữ, không còn sống thực với cái ‘anh hùng tập thể’ đó. Cái anh hùng của tập thể bị ‘tước đoạt’ để biến thành cái ‘anh hùng cá nhân’ nơi mỗi ngườị. Trước đây, trong chiến tranh, Cộng sản cùng bao thế lực bên ngoài (như đài BBC, như các kẻ phản chiến) cố tình ‘làm nhục’ quân đội VNCH, thế mà tập thể Quân đội vẫn kiên cường, bất khuất, vẫn hiên ngang, kiêu hùng cho đến giờ phút cuối. Bây giờ, nơi hải ngoại, cuộc sống đủ đầy, yên ổn, được hưởng tự do, nghĩ> rằng cái ‘kiêu hùng tập thể’ kia càng có điều kiện thuận lợi phát huy, thế mà ngược lại, cái ‘anh hùng tập thể’ kia đang trên đường bị ‘hạ nhục’ !. Do các mặc cảm tai hại và các thói quen xấu trên, một số Anh Chị khi tự đề cao mình, đã vô tình, mặc nhiên ‘tự mình làm nhục mình, rồi làm nhục Anh Chị Em, từ đó làm nhục lây cái ‘kiêu hùng của cả tập thể quân đội VNCH’. Không rõ các tên tuổi ‘nổi đình nổi đám’ luôn ‘đánh phá’ nhau trên các báo chí, trên các diễn đàn Net có cảm thấy như vậy không ?Cái ‘tự làm nhục chính mình’ và ‘gây nhục cho nhau’ của một số Anh Chị đó đã khiến các Anh Chị mặc nhiên phạm bao tội lỗi với bạn bè đồng ngũ, với đất nước, nhân dân, với cả con cháu của Anh Chi :* Trước tiên với các Anh Chị em Thương phế binh và gia đình họ bên quê nhà.. Bài thơ được phổ nhạc ‘Gởi súng cho tao’ đã nói lên cái ‘kiêu hùng bất khuất’ của quân đội, của người quân nhân VNCH bây giờ đang bị đọa đày, gian khổ, ra sao, không rõ các anh em có để ý không ? Các anh em Thương Phế binh có cần tiền để qua cơn ngặt nghèo nhưng điều mong mỏi lớn nhất của Anh Em Thương Phế Binh là được thấy cái ‘anh hùng bất khuất’ của Quân Đội VNCH vẫn sống mãi nơi người Cựu Quân Nhân nơi hải ngoại để bên nhà, có bị lớp người Cộng Sản chà đạp, họ vẫn kiêu hãnh với cái ‘anh hùng’ của người Quân Nhân VNCH như ngày nào. Những trò ‘bôi bẩn’ nhau’ trên các Diễn đàn,, của một số> Anh Chị Cựu Quân Nhân nơi hải ngoại đã làm tổn thương cái chí hùng anh, bất khuất của Anh Chị Em phế binh bên nhà.* Các Anh Chị đã mặc nhiên phụ lòng trông đợi, tin tưởng nơi đồng bào quốc nội. Biết bao Trí thức, Sinh viên, Thanh niên, Văn Nghệ Sĩ, biết bao người đang tranh đấu cho Dân chủ tại quốc nôị, ngay cả hàng hàng lớp lớp đồng bào nghèo khổ, luôn mong ngóng, trông chờ vào tầng lớp Cựu Quân Nhân VNCH nơi hải ngoại đoàn kết đấu tranh chống Cộng sản, hổ trợ cho quốc nội, mong ngóng từng ngày, từng tháng lớp Cựu Quân Nhân VNCH cùng đồng bào VN tỵ nạn CS, làm được những gì đó để có thể sớm giải phóng quê hương và đồng bào thoát khỏi gọng kềm ác nghiệt của chế độ Cộng sản phi nhân như trước đây đồng bào miền Bắc trông chờ Miền Nam giải phóng miền Bắc khỏi gông cùm Cộng sản. Tự> làm nhục mình, làm nhục tập thể Quân đội VNCH qua các trò ‘đánh phá’ nhau, đã làm suy yếu sức mạnh tranh đấu chống Cộng của đồng bào tỵ nạn CS, mặc nhiên, các Anh Chị đã mang tội với đất nước, với nhân dân, với lịch sử.* Các Anh Chị cũng làm mang tiếng lây đến cả gia đình, cả các lớp con em của chính các Anh Chị. Thử nghĩ, con cháu các Anh Chi, sau nầy nhìn lại những việc làm, những bài viết, những lời, những ngôn ngữ thô bạo, tàn độc trút đổ lên nhau, con cháu các Anh Chị sẽ đau lòng, buồn tủi cho lớp cha ông, lớp đàn anh của chúng ra sao?* Cái ‘tự làm nhục mình’ của mỗi Anh Chị cũng là một tội lỗi đối với chính các Anh Chị. Ngày nào, trong lao tù Cộng sản, mỗi Anh Chị đã phải kê khai lý lịch bao lần, đã phải kể rõ cả quá trình gia nhập quân đội VNCH, có Anh Chị nào đầu hàng, khuất phục để ca ngợi Đảng và quân đội Cộng sản đâu, có nói cái ‘nhục’ tham gia quân đội VNCH đâu, có tố cáo, phỉ báng một anh em quân nhân nào khác đâu, trái lại còn ngang nhiên nói lên cái khí tiết kiên cường bất khuất của tập thể Quân đội VNCH trong đó có Anh Chị.

Nếu quả, các Anh Chị đã viết, đã ‘nhìn nhận’ cái ‘nhục’ đã vào quân đội VNCH, thì bao nhiêu năm nay, Cộng sản đã tung ra những bài viết, những cung từ đó để> có bằng cớ hiển nhiên mà mạ lỵ, mạt sát tập thể Quân nhân miền Nam VNCH. là hèn nhát, là bất tài vô tướng. Thế sao, giờ nầy, các Anh Chị không kiên định, giữ vững cái khí tiết hào hùng đó mà lại bôi bác nhau, ‘ném bùn’ vào nhau? Các Anh Chị đã quên cái quá khứ anh hùng của mình, đã tự đánh mất giá trị, tư cách của mình mà nào có do một bắt buộc, cưỡng ép nào đâu. Ai làm nhục các Anh Chị, ai làm nhục cả tập thể Quân đội VNCH anh hùng giờ nầy? Chính là một số các Anh Chị đấy, các Anh Chị có ̀ để ý điều đó không?Kính Thưa các Anh Chị,Trong niềm đau buồn, tủi hận, người viết xin chân thành bày tỏ với số Anh Chị Cựu Quân Nhân nói trên hai đề nghị sau đây:a) Đề nghị thứ nhất: Xin các Anh Chị Cựu Quân Nhân hãy dẹp qua những tỵ hiềm, ganh ghé́t, hãy gác qua những bất mãn, tranh chấp nhỏ nhen để cùng ngồi lại dựng xây lại cái kiêu hùng của tập thể Quân Đội VNCH, sống lại cái ‘anh hùng, bất khuất’ của tập thể Quân Đội trước đây. Không cần phải được giữ vai trò, chức vụ, điều khiển, chỉ huy, bỏ qua hết cái thói ưa đề cao, ưa được trọng vọng, ưa được nổi tiếng, tránh hết những luận điệu, khôn ngữ khích bác, công kích nặng lời, để mọi tổ chức, mọi hội đoàn quân nhân thuộc bất kỳ binh chủng nào giờ nầy được sinh hoạt đều đặn, tốt đẹp, mạnh mẽ. Xin diệt bỏ mọi mặc cảm tự tôn, tự ty, tự đại; xin diệt trừ> thói quen ưa ton hót, nịnh bợ, ưa khoe khoang, tự đề cao mình. Xin giũ sạch mọi ganh ghét, tỵ hiềm, bất mãn cá nhân, mọi tranh chắp nhỏ nhen để cùng ngồi lại, bổ sung và đồng hợp khả năng, ý kiến, chung sức, chung lòng, thành tâm, thiện chí cùng toàn thể đồng bào hải ngoại đấu tranh kiên cường giúp đồng bào quốc nội tin tưởng, vùng lên giải thể chế độ Cộng sản bạo tàn. ̉Xin các Anh Chị, những ai, đã từ́ng mạt sát, đánh phá nhau bằng đủ mọi lời thô bạo, hãy can đảm ‘tự xin lỗi’ mình và xin lỗi nhau để từ nay thông cảm, thân thiết, đồng thuận về chủ trương, đường lối đấu tranh chống Cộng, làm rạng danh lại cái hào hùng hiên ngang, bất khuất của cả tập thể Quân Đội VNCH và> của cả tập thể nhân dân Miền Nam. (Những điều vừa nói chẳng mới mẻ gì, bao người đã từng nghĩ, từng biết; người viết chỉ xin nói lại một cách rõ ràng hơn thôi).b) Đề nghị thứ hai: Nếu xét thấy tự mình không đủ hùng tâm tráng khí, không đủ điều kiện, khả năng để cùng các Anh Chị em khác đấu tranh thì xin trung thành với cái Căn cước Tỵ nạn chính trị, không về nước du lịch, du hí… không nghe lời dụ dỗ, mua chuộc của Cộng sản, cứ bình thường lo cho cuộc sống hàng ngày, lo cho vợ cho con, không bôi tro trát trấu vào nhau,…Tuy làm như thế là thái độ tiêu cực nhưng ít ra cũng không gây hại cho công cuộc đấu tranh chống Cộng của các Anh Chị khác, của toàn thể đồng bào.Trên đây là tâm tình nguời viết mạn phép gởi trao đến các Anh Chị Cựu Quân Nhân VNCH.Có thề, những lời nầy sẽ bị một số Anh Chị xem là ‘trịch thượng’, dám ‘bày khôn xử khéo’ của một kẻ không là quân nhân. Có thể, một số Anh Chị sẽ bất mãn, phẫn nộ rồi lên án người viết bằng đủ mọi thứ ngôn ngữ ̃thô bạo. Người viết xin vui lòng lảnh nhận mà không trả lời. Tâm tình trao gởi không được cảm thông, đón nhận thì có giải bày đến mấy cũng chẳng đi đến đâu.Không ai làm nhục được mình khi mình không ‘tự làm nhục’ mình. Chúng ta đừng nên làm như người Cộng sản. Chính người Cộng sản đã ‘tự làm nhục’ họ, làm nhục quân đội của họ từ lâu rồi khi đem xương máu người lính phục vụ mộng đồ đen tối của chúng. (xem thêm phía trên). Cứ xem ông Đại Tướng Võ Nguyên Giáp đã bị chúng làm nhục và cúi đầu chịu nhục ra sao. Bao nhiêu tướng tá Cộng sản đã phãi chết mờ ám như thế nào. Và bây giờ, chính hàng ngũ quân đội của họ, nhất là cấp đầu não cũng đang làm nhục nhau vì tranh giành quyền lực, vì chia chác quyền lợi tham nhũng không đều. Ngay cả Hồ Chí Minh, lãnh tụ của họ cũng đã hèn nhát, nhục nhã ra sao. Cho dù, có người bảo Hồ Chí> Minh nghĩ rằng ‘cái lỗi lầm lớn nhất của ông là theo Cộng sản’ và suốt quảng thời gian dài, ông bị những Lê Duẩn, Trường Chinh, Lê Đức Thọ,…áp lực biến ông thành ‘ bù nhìn’ cho chúng (như những Bùi Tín, Vũ Thư Hiên, như quyển ‘Đỉnh Cao Chói Lọi’ của Dương Thu Hương từng nói) thì ‘tại sao ông không dám từ nhiệm, không dám tự tử ?’ mà lại cam tâm, đành lòng để chúng vây hãm, kềm kẹp, bắt phải tuân phục ý đồ của chúng ? Chừng ấy đủ nói lên cái ‘hèn nhát’ của Hồ Chí Minh, cái ‘tham sống sợ chết’ của lãnh tụ Cộng sản. Hiện nay, bao cấp lãnh đạo cùng Tướng tá Cộng sản còn tiếp tục cái ‘đê hèn’ đó mà còn hơn thế nữa.Đừng thấy Cộng sản giờ nầy dùng bao thủ đoạn gian manh, đang hết sức bày đủ trò lung lạc và tìm cách phá nát Cộng đồng người Việt hải ngoại mà nghĩ rằng chúng sẽ thành công. Cộng sản đang phải đối phó với bao khó khăn nan giải về kinh tế, về chính trị trong nước và trong nội bộ chúng ; chúng đang trên đà đi xuống, đang trên đà tan rã. Mọi vùng vẫy của chúng nơi hải ngoại chỉ nhằm che đậy những nát tan của chúng nơi quốc nội thôi. (Những điều nầy, sẽ do bao thức giả có đầy đủ dữ kiện để xác minh với toàn thể Anh Chi). Và chính tập thể Cựu Quân Nhân VNCH nơi hải ngoại là lực lượng mạnh mẽ nhất đập tan mọi hoạt động của Cộng sản khi các Anh Chị chịu ngồi lại với nhau,> cùng đề cao tính anh hùng, bất khuất của Quân Đội trước đây, không còn tỵ hiềm, đánh phá nhau nữa.Hãy luôn sống cái ‘anh hùng, bất khuất, cái khí hạo nhiên kiên cường của cả tập thể Quân Đội VNCH trước đây, hãy vững tâm bền chí, tránh tất cả mọi lời, mọi thái độ, mọi hành động gây chia rẻ, phân hóa hàng ngũ; hãy tôn trọng tư cách, nhân phẫm mình và của kẻ khác, nhất là Anh Chị Em đã từng là đồng ngũ.

Hãy đoàn kết, tương thân, tương ái để cùng đấu tranh cho một ngày non nước nở hoa. Ngày Hội Non Sông huy hoàng, tráng lệ sẽ đến với toàn thể con dân yêu nưóc thương nòi.Trời còn để có hôm nayTan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời.(Nguyễn Du)Người viết chẳng chút vui vẻ nào khi viết lời tâm tình nầy. Chẳng qua vì lòng khâm phục, kính mến và biết ơn tập thể Quân Lực VNCH anh hùng suốt 21 năm chiến đấu chống Cộng sản xâm lăng. Nay, nhìn cảnh phân hóa của tập thể Cựu Quân Nhân VNCH nơi hải ngoại mà viết nên thôi.Người viết chân thành xin lỗi những Anh Chị Cựu Quân Nhân nào không mắc phải những mặc cảm cùng một số thói quen không tốt nói trên, đã và đang sát cánh cùng đồng bào nơi hải ngoại kiên trì đấu tranh chống Cộng bấy lâu nay.

Người viết luôn tin tưởng vào sứ mạng thiêng liêng mà Tổ Quốc đã trao gởi cho Quân Đột VNCH anh hùng, bất khuất từ những năm 1954 đến nay mà một số thành quả lớn lao cùng đồng bào tỵ nạn CS đã thu đạt được trong công cuộc trường kỳ đấu tranh chống Cộng trên khắp mọi nơỉ có người VN tỵ nạn CS cư ngụ.

Kính mong tất cả Anh Chị Em Cựu Quân Nhân VNCH nơi hải ngoại nhận cho tấm lòng chân thành của kẻ viết.France , 16 tháng 02 năm 2009Nguyễn Thùy

Bấm chữ "Older Posts" trên đây để xem tiếp .... Dưới Là Bài Cũ Theo Từng Tháng.

 
*** Nếu Thích QUẢNG BA, Thích Phước Tấn bất chấp dư luận can ngăn mà về VN tham dự Phât Đản do Việt Cộng tổ chức tại Hà Nội vào tháng 5/2008. Thì đương nhiên 2 Cộng Sư nầy đã đứng ra khiêu khích và tuyên chiến với cả Cộng Đồng Tự Do Hải Ngoại chúng ta ...