*** VIỆT CỘNG ĐANG ĐẨY MẠNH KẾ HOẠCH THÀNH LẬP HỆ THỐNG "CÁC HỘI DOANH GIA VIỆT KIỀU" ĐỂ BIẾN THÀNH CÁC TỔ KINH TÀI VÀ TÌNH BÁO Ở HẢI NGOẠI. ***VIỆT CỘNG HÃY TỰ TRẢ LỜI:"AI-VĂN KIỆN NÀO ĐÃ GIAO CHO ĐẢNG CỘNG ĐỘC QUYỀN CAI TRỊ ĐẤT NƯỚC MUÔN NĂM ???" *** Rồi đây, Cờ máu Việt Cộng cũng sẽ biến mất như Cờ búa liềm Liên Sô. Đó là sự thực sau nầy ! *** HỒ CHÍ MINH là một tên LƯU MANH NHỨT THẾ GIỚI - Vì dám lấy TÊN GIẢ để làm QUỐC TRƯỞNG VIỆT CỘNG từ 1945 - Thế Giới chưa ai DÁM GẠT cả một dân tộc như vậy !!! ***Quảng Ba đã công khai gia nhập Phật Giáo Quốc Doanh Việt Cộng Hải Ngoại cùng với Như Huệ, Tâm Phương ... Quảng Ba tự xưng khơi khơi chức vụ Hoằng Pháp Úc-Tân Tây Lan không kèn không trống ... *** VỢ CHỒNG HENRY DANG (Đặng Văn Hiền, Gốc QGHC và đương kiêm Chủ Tịch Hội Đồng Hương An Giang) đã xác nhận CÙNG về Hà Nội dự VESAK là chuyện có thật 100% - Từ nay CẶP VỢ CHỒNG nầy sẽ không thể nào TRÀ TRỘN vào các sinh hoạt Cộng Đồng Tự Do như trước ... *** Linh Mục Bùi Đức Tiến, Bs. Trần Thanh Nhơn, Bs. Nguyễn Ngọc Hương mong Việt Cộng sống lâu để họ được trở thành THÁNH TỬ vì mượn từ thiện để đánh bóng tên tuổi cá nhân ...

Sunday, January 31, 2010


Mùi Ðất Ẩm,

Tiếng Ðàn Bầu


Cánh cửa phòng giam đóng sầm lại, rồi có tiếng ken két của chốt khóa vang lên. Nó đứng sững ra đó, chỉ biết đưa mắt nhìn. Và gần năm mươi cặp mắt tù nhân nhìn trả lại nó. Có lời bàn tán, hỏi thăm vọng lên từ nhiều phía :- Vượt biển phải không ? - Sao đi có một mình thôi vậy ? Cha mẹ đâu rồi ? - Thôi đừng đứng đó nữa, để đồ xuống đây đi. - Có mùng không, em nhỏ ? Muỗi dữ lắm đó, phải tìm mùng nào ngủ đỡ tối nay đi . Nó vẫn đứng đó . Cô đơn giữa phòng giam xôn xao, tấp nập. Không biết nó nói có thật an toàn không ? Thú thật là vượt biên, hay tiếp tục bảo là đi "coi đất"? Nó vẫn chưa tin rằng chuyến đi tìm tự do đã thất bại . Nó chưa tin rằng nó vừa bước vào tù. Nó có tội . Nó là thành phần không trong sạch, thành phần vong ngoại, muốn chạy theo đế quốc. Nó nuốt cho đỡ nghẹn cổ, ngồi xuống. Mẹ có biết nó vô tù không ? Nó phải ở lại đây thật sao ? Nó nói thật được chưả Các cặp mắt tù nhân đã quay đi, trở về với các sinh hoạt đang bỏ dở. Hai thanh niên độ 17 -18 tuổi, tiếp tục trận cờ tướng, có ba người đứng xem, thì thầm bàn tán, trầm trồ, lắc đầụ Một vị trung niên, bịt một mắt như tướng cướp, nằm nhìn lên trần, chóc lát lại thở dài..


Bên cạnh là một vị má hóp, râu thưa, đang ngồi hút thuốc Lào ĩ Một thanh niên ốm như bộ xương, đang loay hoay buộc dây mùng vào tường, chân phải bị xiềng vào cột; mỗi bước gây nên tiếng lẻn kẻn của lòi tói chạm vào nhau. Nó nhìn sợi dây xích. Nó có phải bị xiềng không ?- Dừng lo em nhỏ a. Một kẻ trung niên, mặt tươi cười đầu đội nón, chân đi cà nhắc, tiến về phía nó. Giọng Quảng Nam nghe hay hay, là la.. - Hặn giệt người mớ bị xiềng như vậỵ Hặn hiện lặm, đừng lo . Em tên gì, mậy tuổỉ - Dạ tên Dũng, 13 tuổi. - Tôi là Hà, phó phòng ở đây . Tối nay, ngủ mùng tôi nhé . Tối đó, nó ngủ ngon lắm, vì thấm mệt. Áo quần ướt, chân đầy bùn sau một ngày bước bì bõm trong ruộng, trong rừng bần của Bà Rịa cũng mặc kệ . Hai hôm sau, nó mới chịu khó thay quần áọ Nó nhỏ tuổi nhất trong phòng giam. Kế đến là Sơn và Trung, hai bộ đội đào ngũ ở chiến trường Campuchia . Đa số thuộc vào trung niên. Chỉ có anh Bang là vượt biên như nó. Anh Mai, trưởng phòng, rất ít nói, mang án chung thân vì giết người, cướp của ĩ Bác Cần, vào tù vì rượu chè, nghiện ngập, có biệt tài đàn độc huyền. Đàn làm bằng khúc gỗ thô sơ, lon sữa Ông Thọ và dây kẽm nhưng âm thanh vẫn tuyệt vời. Anh Hà, phó phòng, mang tội phát ngôn bừa bãi trong khi say rượu, xúc phạm trầm trọng đến Bác và Đảng. Anh Hà vốn là cựu thiếu úy quân lực Việt Nam Cộng Hoà, vừa chấm dứt hai năm "học tập", đi nhậu nói bậy giữa đường, bị bắt trở lại cùng ngày. Anh Hà đi cà nhắc, lẽ ra không có gì đáng chú ý. Nhưng té ra, khi bị vết thương trận ở chân trái đó, anh đã được chăm sóc tận tình bởi chính cha của nó. Cha của nó, thuở ấy làm bác sĩ quân y.. Nên nay, tình cờ gặp nó giữa trại giam này, anh quyết tâm chăm lo cho nó như ngày nào anh được chăm sóc vậy.. Anh pha trà cho nó uống; anh giăng mùng cho nó ngủ. Anh nhắc nó giặt giũ; anh xin với phòng trưởng cho nó miễn gác đêm, nhưng không được. Mỗi tuần hai lần, khi đến phiên gác, nó thức dậy giữa đêm, đi tới đi lui giữa phòng giam, giữa tiếng ngáy ngủ và tiếng dế kêu dều tai, hễ có điều gì bất thường thì báo cáo với phòng trưởng. Phiên gác nào của nó rồi cũng qua một cách êm xuôi, chỉ có mấy anh em lòm còm ngồi dậy để vào nhà cầu. Trại tù Bà Rịa có 5 phòng giam : 4 phòng cho phái nam, 1 phòng cho phái nữ và trẻ em dưới 12 tuổị . Mỗi phòng dài 20 m và rộng 5m chứa chừng 50 tội phạm. Mái nhà làm bằng tôn (tôle), chuyền hơi nóng và hơi lạnh từ bên ngoài vào vô cùng hữu hiệụ Trưa thì các khuôn mặt đỏ bừng, các thân hình nhễ nhại mồ hôi dù quần áo đã được lột ra gần hết, và mọi thứ quạt đã được trưng dụng. Đêm đến, mỗi người run một kiểu dưới các lớp áo, mền. Giấc chiêm bao mỗi tối có khi vui, khi buồn nhưng bao giờ cũng xảy ra trong cái không khí lạnh cóng.

Các nhân vật trong chiêm bao luôn phải trùm mền và run cầm cập.5g30 sáng. Giấc ngủ chấm dứt đột ngột bằng tiếng thét của anh Hà : - Anh em phòng 4 tập hợp điểm danh. Lòm còm ngồi dậy, mắt còn nhắm, tóc rối bù. Phiên mình đến thì hô to số thứ tư.. Mỗi người là một con số, và chỉ cần hô con số ấy lên thôi, nhưng vẫn gọi là điểm danh. Điểm danh xong, toán hôm đó phải lao động, chuẩn bị lên xe ra đồng. Anh em nào còn lại, nằm xuống ngủ tiếp cho đến giờ đi xách nước, làm vệ sinh tập thể giữa trại..Mỗi phòng giam có hai sàng gỗ dài dọc theo hai bên tường, giữa là lối đi.. Mỗi phạm nhân có một khoảng giang sơn rộng nửa thước và dài hai thước để ngủ, ăn, cất chứa đồ cá nhân. Cầu tiêu chắn ngang một đầu phòng, cạnh cửa ra vào ĩ Ai bước vào phòng, kể cả công an, cũng được đón tiếp bởi nhiều loại mùi nồng nặc khác nhau. Đầu kia của phòng giam là cái cửa sổ duy nhất, hình vuông, lớn không qua khuôn mặt và có lưới sắt loại tốt đan ngang dọc. Nó thích nhất khi trời mưa ĩ Nhìn nước rơi nghe mát cả người.. Bụi chuối non được tắm đong đưa trong gió như vẫy chàọ Nó hít thở mùi đất ướt, thứ mùi hơi nước tầm thường nhưng là từ thế giới bên ngoài lọt qua cửa sổ của nó, là mùi của tự do ĩ Chiều nay có cơm. Lâu lắm rồi mới có cơm. Thường thì thực đơn là bột luộc. Phần mỗi người là bốn miếng hình chữ nhật, trắng đục, dài và lạt. Nhưng kẻ may mắn, có muối của gia đình tiếp tế, hoặc có chút mắm ruốc để chấm thì có thêm can đảm chiến đấu cho đến miếng bột thứ tư ĩ Chú Quý, dù có mắm ruốc, cũng chịu thua, đầu hàng ba miếng bột còn lại.. Nó ngồi kế bên chú lấy ăn luôn của chú, để tối đỡ đói.. Chiều nay, thực đơn là cơm. Có cả canh nữa, canh rau muống nấu với muối.. Canh được anh em nhà bếp phân phối quá sớm, nên khi đến thì canh đã lạnh rồi.. Không trách được anh em nhà bếp, chỉ có một nồi cho mỗi phòng giam thôi, nên nấu canh xong, phân phát rồi mới nấu cơm được. Anh Bang ăn canh trước, ăn liền để bảo đảm còn nóng, và không sợ bị đụng đổ trong lúc chờ cơm.

Nồi cơm cần đến ba người khiêng, đường kính gần một thước, được đặt vào giữa đường đi.. Im lặng tuyệt đối.. Năm mươi cái chén bao vây nồi cơm. Năm mươi cặp mắt theo dõi từng động tác của anh Siêu, tay chia cơm lão luyện và được tín nhiệm. Nhưng tín nhiệm cũng có giới hạn. Cái im lặng bị phá vỡ.- Anh Siêu bữa nay kẹo quá nhe.- Im đi, lấy chén ra đi, đừng có nhiều chuyện.Anh Siêu không một lời, chăm chú cho cơm vào từng chén. Anh em có cơm rồi vẫn chưa hề về chỗ, vì còn chờ phần cơm cháy.. Cơm cháy nửa vàng nửa nâu là thượng hạng, càng phải chia cho đồng đềụ Anh Siêu không nao núng, đều tay bẻ cơm cháy, miếng nào cũng lớn như nhau, bỏ vào từng chén. Chia vừa đủ cho mọi người thì nồi cơm cũng vừa hết sạch. Mỗi tối, đúng 8 giờ là có tiếng họp ca vang lên từ phòng 3, phòng 1, phòng 4 tức phòng của nó. Giờ sinh hoạt tập thể đã đến. Luôn luôn, phòng 4 bắt đầu bằng tiết mục đồng ca inh ỏi :"Như có bác Hồ trong niềm vui đại thắngẨ" Tiếp theo là bài nhóm ca cũng không kém hùng hồn : "Mùa thu xưa anh đi có mưa giăng ngập lối, Mùa thu xưa anh đi, có cô em dịu hiền Tiễn anh, dặn dò đừng quên đi lời Bác, Tiễn anh lên đường, em khóc trong chiều mưa" Sau các bài họp ca vang dậy, khi các công an rình nghe bên ngoài đã yên tâm, quay đi, thì văn nghệ mới thật sự đến trong phòng giam. Sơn, bộ đội đào ngũ, đêm nay biểu diễn bài "Những Đồi Hoa Sim", nghe mà thêm buồn. Rồi sẵn có tiếng mưa tí tách bên ngoài, bác Cần đưa hồn người về với những kỷ niệm xa xôi, bằng tiếng đàn độc huyền và giọng cả nửa Chế Linh, nửa Nhật Trường :"Mưa rừng ơi, mưa rừngTìm đâu, hỡi ơi, bóng người xưa" Đến đấy thì có nhiều anh em khóc. Nó mê nhất là tiết mục của bác Cần. Nó học được bài "Mưa Rừng" từ phòng 4. Nó nghe đàn bầu lần đầu là do bác Cẫn trình diễn. Có hôm, thấy nó nhìn cây đàn một hồi lâu, bác Cần cười bảo :- Mày muốn học đàn không ? Đừng bắt đầu bằng đàn bầu, khó lắm.Phun khói thuốc Lào ra mờ mịt xong, bác tiếp:- Học đàn guitar hay hơn. Lần sau, có vượt biên, mày nhớ mang theo cây đàn guitare vào đây, tao chỉ cho .

Giờ sinh hoạt được kết thúc lúc 9 giờ. Tiết mục cuối là của anh Lòng. Anh Lòng, chột một mắt không ai rõ vì sao, ít nói, mặt đỏ bừng mỗi khi nổi nóng, đứng dậy, cất giọng ca nghiêm nghi.. Anh Hà, người đã giới thiệu "nam danh ca" anh Lòng với ý định trêu chọc, thách thức, bắt đầu hối hận. Vì vừa khi anh em đang chuẩn bị trở lại với thực tại, chuẩn bị đối đầu với đêm dài ngột ngạt; khi anh em bắt đầu tự hỏi mình sẽ mơ thấy gì đêm nay, và đã mơ thấy gì đêm qua, thì anh Lòng hăng say cất giọng :" Đêm qua em mơi gặp bác Hồ"- Nguyễn Văn Dũng, ra lãnh đồ thăm nuôi !Một giọng công an thét lên từ bên ngoài . Nó gài áo, xỏ dép, chạy về phía cửa. Me.. Mẹ đứng ở cổng trại, đội nón lá, tay xách nhiều giỏ. Ngạc nhiên. Mừng muốn khóc, nhưng sao nó cố giữ vẻ mặt lầm lì, che dấu mọi xúc động, bước tới.. Mẹ hỏi tới đâu, nó đáp tới đó. Nó cố nín khóc. Mẹ cũng vậy. Những vết muỗi cắn chi chít trên tay, trên cổ chân của nó, bị nhiễm trùng, căng mủ, làm Mẹ đau, dù nó có quả quyết là nó "không sao" cả. Mẹ hứa sẽ lo cho nó ra thật sớm. Nó tin tưởng, xách giỏ đồ, quay về phòng. Chiều đến, nó có nước mắm để chan vào cơm, ăn ngon chưa từng có. Nó có cả xoài chín ngọt để tráng miệng và không quên mời anh Hà. Hai trái xoài chưa ăn tới; nó sơ ý, không cất vào mùng. Sáng hôm sau, nhìn xoài đã bị chuột gặm tan tành, nó đau khổ đến nhoà mắt. Nó tiết miếng ăn thật, nhưng đau khổ là vì đã không giữ được đồ của Mẹ mang tới cho nó. Nó ước gì có thể xin lỗi Mẹ liền.

Một buổi sáng mây đen, 26 ngày sau khi vào phòng giam số 4, có tiếng công an thét gọi tên nó, nhưng không nói là để nhận đồ thăm nuôi chi cả, chỉ bảo thu xếp đồ đạc cho mau. Anh Hà hiểu ngay, ôm nó, xoa đầu từ giã. Nó túm đồ thật lẹ, quên luôn gói bông gòn và chai thuốc tẩy trùng mà Mẹ mang cho nó cách đó một tuần để chăm sóc các mục ghẻ. Nó rời phòng 4, không kịp từ giã ai cả. Nó về với Mẹ, chiều hôm đó.

Hai năm sau, nó đến bến bờ tự do. Và cho đến hơn hai mươi năm sau, mỗi khi mưa về, có mùi đất ẩm ướt, mỗi khi nghe tiếng đàn độc huyền, nó thường nhìn xa xâm, miệng thì lẩm bẩm :"Mưa, từ đâu mưa về " Tháng 1, năm 2001Thương tặng Me./-

TRƯƠNG MINH DŨNG

Trung Quốc và Việt Nam : Phải thay đổi hoặc sụp đổ
Thanh Phương,RFI


Bài đăng ngày 30/01/2010 Cập nhật lần cuối ngày 30/01/2010 19:22 TU
Nhà ly khai Trung Quốc Ngụy Kinh Sinh(DR)
Trên đây là nhận xét của nhà ly khai Trung Quốc Ngụy Kinh Sinh trong một bài tham luận đọc tại một cuộc hội thảo ở Los Angeles về nhân quyền và dân chủ ở Trung Quốc và Việt Nam vào tuần trước. Toàn văn bài tham luận này được đăng trên trang web của hãng tin
AsiaNews.it ngày 29/1
Trong một bài tham luận đọc tại một cuộc hội thảo ở Los Angeles về nhân quyền và dân chủ ở Trung Quốc và Việt Nam vào tuần trước, nhà ly khai nổi tiếng Ngụy Kinh Sinh đã so sánh tình hình giữa hai quốc gia. Toàn văn bài tham luận này hôm qua (29/1) đã được đăng trên trang web của hãng tin
AsiaNews.it.
Được coi là '' cha đẻ của phong trào dân chủ'' ở Trung Quốc, ông Ngụy Kinh Sinh, hiện sống lưu vong ở Hoa Kỳ, vẫn cực lực phản bác những người cho rằng có thể phát triển kinh tế mà không cần đến dân chủ, nhân quyền.
Trong bài tham luận, ông Ngụy Kinh Sinh nhận định : '' Mặc dầu cả hai nước đều đã chuyển hóa thành những quốc gia tư bản độc quyền, nhưng có những điểm khác với những nước Đông Âu và Nga. Khác biệt lớn nhất đó Trung Quốc và Việt Nam vẫn còn sống dưới chế độ độc đảng. Do không có sự tranh đua trong một thể chế đa đảng, cả hai nước đều không có một môi trường thông thoáng hơn cho ngôn luận và báo chí như ở Đông Âu và Nga''.
Theo ông Ngụy Kinh Sinh, '' Ở Việt Nam và Trung Quốc, phe đối lập rất khó tồn tại trong nước, còn phe đối lập ở hải ngoại thì càng khó mà tham gia vào chuyện chính trị quốc nội.''
Nhà ly khai Ngụy Sinh Sinh lưu ý rằng, các cơ quan an ninh của Đảng nay hoạt động rất hiệu quả, tức là gài người khắp nơi để làm chệch hướng đấu tranh, gây chia rẽ và thậm chí gài bẫy các lực lượng.
Cho nên, rất khó mà có một lực lượng đoàn kết, tổ chức chặt chẽ để thúc đẩy chuyển hóa hay cách mạng.
Hiện nay, theo nhà ly khai Trung Quốc, việc huy động nhân dân chỉ có thể thực hiện được nhờ những công cụ truyền thông đại chúng. Chính vì vậy mà chế độ cộng sản Trung Quốc vẫn nỗ lực ngăn chận thông tin cả trên báo chí lẫn trên mạng Internet.
Mặt khác, theo ông Ngụy Kinh Sinh, do thiếu tôn trọng nhân quyền, việc bóc lột, đàn áp từ các giới quan chức cấu kết với giới doanh nghiệp càng trắng trợn hơn và như vậy càng khiến sự phản kháng mạnh mẽ hơn.
Nhưng cũng do các quan chức cấu kết ngày càng chặt chẽ với giới doanh nghiệp, chính phủ nay không thể đóng vai trò trọng tài phân xử các tranh chấp kinh doanh. Cuộc đấu đá trong nội bộ giới lãnh đạo càng dữ dội hơn bao giờ hết.
Ông Ngụy Kinh Sinh nhắc lại : ''Trong những thập niên qua, môi trường quốc tế đã không thuận lợi cho các lực lượng đối lập ở Trung Quốc và Việt Nam''.
Trong khoảng thời gian đó, phương Tây đã hà hơi tiếp sức cho các nước cộng sản, thi hành những chính sách khoan dung và hoà hoãn đối với các đảng cộng sản, mà các đảng này đã biến thái thành một kiểu tư bản đỏ. Quan hệ giữa khối dân chủ phương Tây với các chế độ độc tài châu Âu, từ đối đầu đã chuyển thành hợp tác. Các lực lượng đối lập Trung Quốc và Việt Nam ở hải ngoại bỗng trở thành những cản ngại dưới con mắt các chính khách những nước dân chủ này.
Nay, theo nhà ly khai Ngụy Kinh Sinh, tình hình đang thay đổi.
Mặc dù chính sách hòa hoãn vẫn chiếm ưu thế, các nền kinh tế phương Tây đang rơi vào suy thoái do đã truyền máu cho các nước cộng sản trong hơn một thập kỷ. Ông Ngụy Kinh Sinh cho rằng các nước phương Tây nay phải từ bỏ chính sách hoà hoãn với chế độ cộng sản, phải trở lại chính sách đối đầu và cạnh tranh, mà trước hết là từ chính sách bảo vệ thị trường.
Nhà ly khai Trung Quốc nhận định, ''sự thay đổi này là yếu tố buộc hệ thống tư bản độc quyền của đảng Cộng sản phải cải tổ hoặc sẽ sụp đổ''. Lực lượng đối lập hải ngoại phải tiếp tục sử dụng truyền thông để thúc đẩy dân chủ và tự do trong nước. Đường lối đấu tranh này, đi kèm với chính sách bảo vệ thị trường của các nước dân chủ sẽ là đối trọng với chủ nghĩa dân tộc mà chắc chắn sẽ bị đảng cộng sản khai thác./-

LÀM THINH
Tiểu Tử


Cái làng nhỏ đó nằm gần biển Manche, cách thành phố Etretat (miền bắc nước Pháp ) độ 10 km. Trong làng có chừng năm chục nóc gia nằm chùm nhum lại thành một khu, trừ một cái nhà nằm rời xa một mình về phía biển. Người trong làng gọi cái nhà đó là " nhà ông Lê ".
Cách đây mấy năm, ông Lê - người Việt Nam độ 40 tuổi - từ Paris ra đây mua lại cái nhà đó để làm nhà nghỉ mát. Mùa hè và các ngày lễ lớn, ông đưa vợ con - vợ người Pháp và hai con trai chín mười tuổi - ra đây đổi gió và lâu lâu ông cho bạn bè mượn năm bảy hôm. Ông có mướn một người trong làng - tên Jean Marie - trông nom nhà cửa và cắt tỉa vườn tược cây trái.
Mới đầu, người trong làng cứ tưởng ông Lê là người Tàu. Cho nên, họ hơi dè dặt. Chừng biết ổng là người Việt Nam, họ cởi mở hơn, thân thiện hơn. Làm như, đối với họ, người Tàu là người ngoại quốc xa lạ, còn người Việt Nam thì ít nhiều gì cũng đã từng được xem là người .. trong nhà ! Họ càng có cảm tình với ông Lê khi biết rằng ổng qua Pháp học từ hồi mười lăm tuổi, rằng ổng tốt nghiệp trường Arts et Métiers, rằng ổng làm chức lớn trong cơ quan Nhà Nước .v.v .. Họ hay nói với nhau:"Vợ chồng ông Lê thật dễ thương".


Vùng này cao hơn mặt biển hai ba chục thước mà cuộc đất lại không lài lài xuống lần khi ra gần biển như ở những nơi khác, nên không có bãi. Ở đây, biển đâm thẳng vô bờ, loại bờ đá dựng thiên nhiên sừng sững như một bức tường cao thật cao. Những ngày biển động, sóng đập vào chân tường đá nghe ầm ầm. Vì nhà ông Lê nằm cách bờ đá dựng không xa, nên vào những ngày đó, từ trong nhà nghe âm vang tiếng sóng giống như những tiếng thở dài ..
Hè năm đó, ông Lê và gia đình ra đây nghỉ mát chỉ có ba tuần thay vì một tháng như thường lệ. Ông nói với ông Jean Marie - người quản gia - rằng phải trở về Paris để đón cha mẹ từ Việt Nam qua. Ông Jean Marie hỏi ông có định đưa ông bà cụ ra đây chơi không thì ông Lê trả lời rằng không, bởi vì ông bà cụ mới xuất ngoại lần đầu tiên nên phải đợi một thời gian cho quen với khí hậu phong thổ.Vậy mà chỉ mươi ngày sau, thấy ông Lê chở ra đây một ông già tóc trắng với hai va-ly hành trang. Người quản gia nghĩ:"Chắc định ở lâu nên mới mang hành trang nhiều như vậy". Ông Lê giới thiệu:"Đây là cha tôi. Còn đây là Jean Marie, quản gia". Sau đó, ông nói:"Trong thời gian cha tôi ở đây, tôi xin nhờ bà Jean Marie lo dùm việc nấu nướng giặt giũ giống như những lúc gia đình tôi ra đây nghỉ mát. Có điều là cha tôi không thể đi chợ ở Etretat như chúng tôi vẫn làm lâu nay, nên tôi nhờ ông bà lo giùm luôn vụ này. Đổi lại, tôi sẽ tăng tiền thù lao của hai ông bà lên mười phần trăm. Tôi xin ông bà chấp nhận cho".
Sau khi gọi điện thoại về nhà bàn tính với vợ, ông Jean Marie bằng lòng. Tiếp theo đó, ông Lê trao cho ông Jean Marie một số tiền và nói:"Đây, tôi gởi ông bà một tháng tiền chợ. Tôi dự trù dư dả phòng khi cha tôi cần mua những gì khác, nhưng nếu thấy thiếu thì điện thoại cho tôi hay để tôi gởi ra thêm. Mỗi cuối tháng, tôi sẽ gởi tiền để gối đầu cho tháng kế tiếp, ông bà yên tâm". Ông Jean Marie hỏi:"Còn bà cụ đâu ? Sao không cùng ra đây với ông cụ ?". Ông Lê trả lời như không trả lời:" Mẹ tôi ở Paris". Rồi sau khi nói mấy lời cám ơn ông Jean Marie, ông bắt tay từ giã người quản gia và ông già tóc trắng để trở về Paris, vội vã như không muốn vấn vương gì nữa ! Thấy ông Lê đối xử với ông già tóc bạc như là một người quen thường, ông Jean Marie vừa ngạc nhiên vừa bất nhẫn, bởi vì ông nhận thấy rõ ràng ông già tóc bạc đó và ông Lê thật sự giống nhau như hai cha con ..
Ông già ở trong nhà ông Lê như một cái bóng. Ông không xem tê-lê, không nghe ra-đi-ô. Ông cứ ngồi ở xa-lông hút thuốc liên miên, mắt nhìn thẳng ra cửa kiếng hướng về phía biển, giống như đang coi một cái gì ở ngoài đó. Ở ngoài đó không có gì hết ! Không có một cái cây, không có một lùm bụi. Cỏ dại cũng không mọc cao. Mặt đất trống trơn chạy thẳng ra bờ đá dựng. Từ chỗ ông ngồi, nhìn ra chỉ thấy đất và trời. Lâu lâu, vài con hải âu bay phớt ngang, và lâu lâu trên nền trời trong xanh của mùa hè, một sợi mây đi lạc .. Chỉ có bao nhiêu đó, vậy mà ông cứ ngồi nhìn, nhìn đăm đăm ..
Mới đầu, ông bà Jean Marie cứ tưởng rằng ông già không biết nói tiếng Pháp. Nhưng sau mấy lần hỏi han thấy ông trả lời trôi chảy mạch lạc, ông bà mới yên tâm. Có điều là hỏi thì ông mới trả lời chớ không thấy bao giờ tự ông gợi chuyện. Suốt ngày, ông làm thinh. Cần dùng gì thì ông viết ít chữ rồi gắn trên mặt tủ lạnh. Ông bà Jean Marie thấy vậy cũng ráng giữ ý không làm tiếng động khi quét dọn hay đi ra đi vào. Nhiều khi, họ có cảm tưởng như trong nhà không có ai hết ! Chỉ có mùi khói thuốc là nhắc đến sự hiện diện của ông già ..


Ông già đó tên Lê Tư. Hồi thời trước - cái thời mà miền nam Việt Nam chưa biết mùi cộng sản - ông Tư là một nhà thầu xây cất rất có bề thế ở Sàigòn. Ông giao du rộng, lại "biết cách giao du", thêm giỏi tính toán sắp xếp nên ông trúng thầu nhiều công trình lớn của Nhà Nuớc và của các công ty ngoại quốc. Do đó, càng ngày ông càng nổi tiếng và sự nghiệp thì cứ nhân lên gấp năm gấp mười. Dù vậy, ông không bao giờ chối bỏ cái gốc hàn vi của ông và rất tự hào đã bắt đầu bằng hai bàn tay trắng.Ông thường nói:" Hồi tôi từ Đà Nẵng vô Sàigòn, tôi chỉ có một chiếc xe đạp cũ và cái nghề thợ hồ. Ban ngày đạp xe đi làm, ban đêm đạp xe đi học thêm ở Trung Tâm Văn Hóa Pháp và hội Việt Mỹ. Hồi thời đó, quanh năm suốt tháng , tôi chỉ biết có thắt lưng buộc bụng, ăn uống kham khổ, để dành tiền gởi về cho cha mẹ ở Đà Nẵng và để đóng các học phí. Vậy mà tôi vẫn không ngã lòng. Lúc nào trong đầu tôi cũng nghĩ rằng phải cố gắng vươn lên, bởi vì không ai giúp mình bằng mình hết. Nhờ vậy mà bảy tám năm sau, tôi đã có một cơ sở vững chắc để cạnh tranh với các nhà thầu khác. Rồi thì xây cất hết công trình này đến công trình khác, có khi hai ba công trình cùng một lúc, cơ sở cứ lớn lần lớn lần để trở thành bề thế như ngày hôm nay. Nghe tôi nói tôi bắt đầu sự nghiệp bằng con số không chẳng có mấy ai tin hết ".
Khi đã khá giả, ông mới cưới vợ. Ông hay nói đùa:" Tình phải có tiền đi theo nó mới vững. Giống như bê-tông phải có cốt sắt nó mới bền !"
Ông bà Lê Tư chỉ sanh có một người con trai đặt tên Lê Tuấn. Năm Tuấn được mười lăm tuổi, ông gởi con qua Pháp học. Ông muốn nó học ngành kiều lộ để sau này trở về nối nghiệp ông. Ông nói :"Việt Nam mình cạnh tranh không nổi với hãng thầu ngoại quốc bởi vì mình có binh mà thiếu tướng". Và ông hy vọng trong tương lai, con ông sẽ thực hiện những công trình vĩ đại, vượt trội hẳn những gì ông đã làm. Để cho ông được nở mặt.
Cái tương lai đó bỗng tắt ngúm chỉ trong một thời gian ngắn sau ngày 30 tháng tư, 1975 ..Trước cái ngày đen tối đó, một người như ông Lê Tư dư sức để di tản dễ dàng. Vậy mà không thấy ông nhúc nhích. Ông cứ điềm nhiên hút thuốc, uống trà, xem truyền hình, nghe ra-đi-ô. Giống như một kẻ bàng quan. Bà Lê Tư thì cứ đi ra đi vô, hết gọi điện thoại cho bà bạn này đến gọi cho bà bạn khác. Rồi thúc giục ông đi di tản. Bà nói :
- Trời ơi ! Mấy bả đi hết rồi kìa !
Ông cười :
- Thì ai sợ cứ đi. Bà yên tâm. Tôi bảo đảm không có sao hết. Nói thiệt với bà, "họ" đã liên lạc với tôi cách đây hơn tháng, nói rõ rằng họ cần dùng những người như tôi để xây dựng lại đất nước. Cho nên, bà thấy tôi không ? Tôi bình chân như vại !
Điều mà ông không nói cho bà biết là từ bao lâu nay, ông vẫn đều đặn gởi tiền giúp cách mạng qua ngả thằng cháu - cũng gốc liên khu năm như ông - đang hoạt động ở mấy tỉnh miền Đông. Chính người cháu đó đã cho người về gặp ông để giải thích rõ ràng chủ trương đường lối của cách mạng. Nhờ vậy, ông mới vững tâm tin tưởng.


Đâu dè, sau khi cách mạng "đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào", cách mạng quay về đánh tư sản. Ông Lê Tư cũng "bị" mời đi "làm việc" như mọi người. Ông có xuất trình giấy chứng minh của liên khu bảy, là vùng ông đã giúp đỡ, nhưng lá "bùa" đó không linh ! Ông cũng có nghĩ đến thằng cháu cách mạng, nhưng bây giờ ông không biết nó ở đâu để gọi nó đến làm chứng. Vì vậy, ông vẫn bị mời tới mời lui để "làm việc". Mỗi lần làm việc, họ quay ông như .. con dế ! Đến nỗi về sau, mệt mỏi quá, chán chường quá, thấy nói gì cũng vô ích, nên ông bèn làm thinh, mặc cho họ muốn nói gì thì nói, hỏi gì thì hỏi. Rồi đến lần "làm việc" cuối cùng , ông cũng làm thinh ký tên trên xấp giấy tờ họ đưa ra, ông ký mà không thèm đọc qua một chữ ! Lần đó, ông bước ra khỏi cơ quan, có cảm tưởng như đang sống trong một thế giới khác, một thế giới .. lộn ngược ! Ông không còn khái niệm không gian thời gian. Ông chỉ biết rằng sau cái phút ký tên đó, ông trắng tay. Và ông còn nghe trong đầu câu nói ơn nghĩa "nhờ ông đã sớm giác ngộ cách mạng nên không phải đi cải tạo". Ông lái xe về nhà như một người máy. Ông đâu biết rằng trong cuộc " đổi đời vĩ đại " này, con người đâu còn sống bằng lý trí : con người chỉ sống bằng bản năng thôi !
Về đến trước cổng nhà, bỗng nhiên ông Lê Tư nhận thức rằng tất cả những gì trực thuộc về ông bây giờ chỉ còn lại người vợ đang đợi ông ở nhà ..
Xưa nay, mọi việc trong gia đình đều do ông quyết định. Bà Lê Tư luôn luôn làm theo ý của ông, không bao giờ thắc mắc. Bởi vì bà hoàn toàn tin tưởng vào người chồng mà lúc nào bà cũng cảm phục như một thần tượng. Bà nói :"Từ bàn tay trắng dựng nên sự nghiệp đồ sộ như vầy, không phải ai làm cũng được !". Và bà thường ví chồng bà như một cây cau vững chắc để bà bám vào đó như một giây trầu .. Vậy mà bây giờ .. bây giờ .. Ông Lê Tư không biết ví mình như cái gì nữa. Cách mạng mà ông đã giúp từ ngày ông dựng nghiệp, hôm nay nhân danh gì gì đó, đã biến ông thành con số không. Dễ dàng như người ta cầm nùi giẻ bôi hết những hàng chữ phấn trên một bảng đen, bôi mà không cần biết những hàng chữ đó viết những gì ! Chỉ trong có một khoảnh khắc, ông chẳng còn gì hết và bản thân ông cũng không là gì hết ! Ông đã trở thành một "thứ gì" đó không có tên, một sản phẩm của cách mạng mà sách vở xưa nay chưa thấy có định nghĩa !
Ông bước vào nhà mà cảm thấy mình lêu bêu như bọt nước, không làm chủ được gì hết, kể cả làm chủ chính bản thân mình ! Cái biệt thự có hồ tắm vườn hoa, có năm ngăn bảy nắp, mà ngày xưa ông đã xây cất cho tương xứng với địa vị xã hội của ông .. bây giờ bỗng trở nên ngạo nghễ, vô duyên.Nhà vắng teo. Một số gia nhân đã xin nghỉ việc từ những ngày sôi động, số còn lại đã được cho nghỉ ngay sau ngày 30 tháng tư. Bà Lê Tư chắc đang làm gì ở dãy nhà sau nên ông không nghe tiếng động. Ông đốt điếu thuốc rồi ngồi xuống phô-tơi nhìn thẳng ra vườn. Ông nhìn mà không thấy gì hết ! Yên lặng ..
Tiếng bà Lê Tư làm ông giựt mình :
- Sao ông ? Họ đòi gì nữa vậy ?
- Họ đâu có đòi. Họ lấy.
- Lấy gì ?
- Lấy hết tài sản của mình.
Giọng bà bỗng cao lên một nấc :
- Lấy hết tài sản ?
Ông nhìn bà rồi trả lời bằng cái gật đầu. Giọng của bà lại cao thêm một nấc :- Gì lạ vậy ? Tự nhiên rồi đòi lấy tài sản của người ta. Đó là ăn cướp chớ đâu phải lấy ! Rồi ông trả lời làm sao ?
Ông thở mấy hơi thuốc, rồi mới nói :
- Thì tôi giao hết lại cho họ chớ còn làm sao ?
- Bà chỉ kêu lên được một tiếng "Trời" rồi ngồi phịch xuống ghế, mắt nhìn thẳng ra vườn. Bà nhìn mà cũng không thấy gì hết ! Yên lặng ..
Một lúc sau, ông nói, giọng thật trầm tĩnh :
- Bà nghĩ coi. Bây giờ họ là kẻ chiến thắng. Quyền sanh sát nằm hết trong tay, họ muốn nói gì làm gì mà không được.
- Còn luật pháp để đâu ?
- Luật pháp của ai ?
Bà làm thinh. Một lúc sau, bà nói :
- Hôm trước ông nói họ đã móc nối với ông để ông ở lại giúp họ xây dựng gì gì đó. Sao bây giờ họ lột hết của ông vậy ?
Ông làm thinh. Khói thuốc trong miệng bỗng trở nên thật đắng. Ông nghe thèm một hớp trà hay một hớp nước lạnh, hay bất cứ một chất lỏng nào cũng được .. để ông nuốt xuống " cái gì đó" đang nghẹn ngang ở cổ. Ông dụi điếu thuốc rồi đi lại bar ở góc xa-lông rót một ly nhỏ Porto uống ực một cái, giống như người ta bị mắc xương. Xong ông trở lại phô-tơi ngồi xuống, đốt điếu thuốc. Chất rượu đang nồng trên mũi, nhưng sao khói thuốc vẫn còn nghe thật đắng !
Giọng bà Lê Tư có vẻ trách móc :
- Chớ phải ông nghe lời tôi đi di tản như thiên hạ thì đâu có sao.
- Đi di tản cũng mất hết chớ hơn gì.
- Sao mất hết được ? Ông quen lớn nhiều mà không hốt được một mớ đem đi theo à ? Có nhiều người còn gởi được bàn ghế và vô số đồ cổ nữa. Như anh X., như anh T., như ông tướng Z .. toàn là bạn thân của ông không.
Ông làm thinh. Bà vẫn nói, càng nói giọng càng gay gắt :
- Thà rằng mình đi, cái gì không đem theo được là mình bỏ. Tụi nó có lấy, cũng là lấy những gì mình bỏ. Chớ còn bây giờ, tụi nó bóp họng ông để lấy, bộ ông không thấy tức sao ?


Ông làm thinh. Ngừng một lúc như để suy nghĩ, rồi bà nói một câu giống như bà đóng sập cánh cửa sắt để nhốt ông trong một nhà tù :
- Chẳng bằng ông muốn ở lại để giúp cách mạng chớ gì ? Phải không ?
Ông nuốt nước miếng mấy lần, rồi tiếp tục làm thinh. Bây giờ, ông thật sự thấy mình như bọt nước trôi lêu bêu, không bám được vào đâu hết ..
Chiều bữa đó, cách mạng đưa đến mười mấy thanh niên trai gái và một toán bảo vệ cầm súng để làm công tác kiểm kê. Họ bắt mở hết các hộc, các kệ, các tủ .. để họ đem ra đếm từng món, không bỏ sót một nơi nào hết, một món nào hết. Đêm, họ ngủ lại trong nhà ông Lê Tư để sáng sớm hôm sau họ tiếp tục. Xong công tác kiểm kê, người cán bộ chỉ huy chỉ định một nhóm bốn người ở lại để canh giữ những gì đã kiểm kê, sợ ông bà Lê Tư .. ăn cắp mang đi ! Gã còn nói như ra lịnh :
- Từ hôm nay trở đi, anh chị phải dọn ra nhà sau để ở, không được bước lên đây nữa. Anh chị cũng không được quyền sử dụng chiếc ô-tô bây giờ thuộc diện quản lý của Nhà Nước. Khi ra vào nhà, anh chị phải dùng cái cổng hậu, không được đi bằng cổng chánh. Rõ chớ ?
Ông Lê Tư làm thinh. Bà Lê Tư cũng làm thinh. Nhưng hai sự làm thinh đó không cùng một ý nghĩa : ông làm thinh vì biết rằng có nói gì cũng vô ích còn bà làm thinh là vì bà hận ông vô cùng !.. Từ ngày dọn xuống ở trong một nhà phụ - có ba dãy nhà phụ trước đây dùng cho gia nhân - và từ ngày biết rằng văn phòng, các kho vật liệu, kho dụng cụ cơ giới, biệt thự ở Núi Lớn Vũng Tàu, các chương mục ở ngân hàng .. v.v. đã hoàn toàn nằm trong tay Nhà Nước, bà Lê Tư ít nói chuyện với ông. Nhưng hầu như ngày nào bà cũng ngồi nói một mình, nói trổng, cố tình nói lớn tiếng để cho ông "phải" nghe. Bà cứ lải nhải với giọng trách móc chanh chua, hết chuyện tin lời cách mạng, đến chuyện mất hết của cải, rồi bắt qua chuyện di tản, chuyện ở "chui rút" trong nhà của bếp của bồi .. Còn ông thì cứ làm thinh ngồi nghe, nghe riết mà tóc của ông càng ngày càng bạc trắng !Thời gian đi qua .. Một hôm bà bỗng nói với ông :
- Tôi đã nhờ người quen trong toà đại sứ liên lạc được với thằng Tuấn ở Paris. Nó sẽ lo giấy tờ cho mình qua bển.
Bây giờ, mọi sự đều do bà quyết định, ông chỉ làm thinh đi theo. Bây giờ, người chồng " thần tượng" của thời trước chỉ còn là một cái bóng ! Bây giờ, bà mới là thân cây cau, còn ông , ông chỉ là một thứ giây trầu .. Đúng là một sự "đổi đời vĩ đại" !
Ít lâu sau, chính bà đã chạy chọt đút lót để có xuất cảnh cho hai vợ chồng bay qua Paris, vào giữa mùa hè năm đó.

.. Ông Lê, người con trai của ông bà Lê Tư, đến đón ông bà ở phi trường Charles De Gaulle. Gặp lại nhau, mừng mừng tủi tủi. Ông Lê Tư có cảm tưởng như mình vừa sống lại. Ông ôm con siết mạnh, rồi buông ra để nhìn. Lòng tràn sung sướng, ông vừa cung tay đấm nhẹ lên vai con, vừa chửi đổng :" Cha mày !". Rồi tiếp :" Ba tưởng không còn gặp lại con nữa chớ !" Trong một khoảnh khắc, ông tìm lại được lời nói và cử chỉ của một con người bình thường, con người của thời trước tháng tư 1975 ..Trên đường về nhà, ông Lê vừa lái xe vừa hỏi về những chuyện đã xảy ra ở Việt Nam trong những ngày sôi động của tháng tư, nhứt là ở đoạn "mấy thằng Mỹ kéo nhau chạy sút quần". Nghe lời nói và giọng điệu của con, ông Lê Tư cảm thấy có "cái gì không ổn", nhưng ông nghĩ :" Có lẽ tại nó ở bên nây lâu quá nên nó nói tiếng Việt không biết chọn lời". Rồi ông kể lại những điều mắt thấy tai nghe. Người con lâu lâu khoái chí, vỗ tay lên tay lái, gục gặc đầu :" Cho tụi nó chết!"Bỗng người con hỏi :
- Còn mấy thằng tướng ngụy ?


Câu hỏi đó như một ánh sáng bật lên trong bóng tối để ông nhìn thấy rõ sự thật: không phải con ông không nói rành tiếng Việt mà là con ông nghiêng về phía bên kia, cái phía đã lật lọng, ăn cháo đá bát, cái phía đã lấy hết tài sản của ông một cách ngang nhiên trắng trợn ! Trời đất chung quanh bỗng như sụp xuống ! Tuy nhiên ông vẫn trả lời:
- Mấy người đó thì ba không biết.
- Tụi nó chạy ra đảo Guam hết. Thằng chủ chạy thì thằng tớ phải chạy theo chớ dám ở lại đâu. Tưởng ba biết gì kể lại nghe chơi chớ ở bên nây báo chí tê-lê nói đầy đủ. Trên tê-lê thấy nhiều thằng tướng ngơ ngác như bầy gà nuốt giây thun !
Người con nói xong cười lên khoái trá. Ông Lê Tư nghe giận phừng lên mặt ! Ông đưa tay định xáng cho thằng con một cái, nhưng ông kềm lại kịp. Ông bỏ tay xuống mà nghe ngực mình tức ran. Tự nhiên, ông ứa nước mắt. Từ phút đó, ông làm thinh. Thấy như vậy, tưởng cha bị mệt vì cuộc hành trình quá dài nên ông Lê cũng không hỏi tiếp.
Bà Lê Tư ngồi ở băng sau, không chen vô một lời. Bà cảm thấy rồi đây sẽ không thể nào ở chung với một thằng con như vậy được. Bà đã tưởng đi ra khỏi xứ để khỏi phải thấy hằng ngày những chuyện trái tai gai mắt, nào ngờ qua đây gặp thằng con không biết học ở đâu mà ăn nói giống "tụi nó" y chang ! Nhưng không sao. Rồi bà sẽ mua nhà ở riêng. Bà dư sức. Với số hột xoàn mà bà đã cất giấu sau 1975 và bây giờ đang nằm an toàn trong cái giỏ mây hai đáy bà ôm trong lòng, bà dư sức. Cho dù bà phải cưu mang suốt phần đời còn lại ông chồng mà bà đã không còn coi là thần tượng nữa, từ lâu ..Về đến nhà - ở Neuilly Sur Seine, khu nhà giàu - ông Lê giới thiệu vợ con rồi đưa cha mẹ lên phòng trên lầu, nói :
- Ba má nghỉ một chút rồi xuống ăn trưa.

Bữa ăn được dọn lên từng món theo phong cách tây phương. Vợ ông Lê hỏi han lễ độ và kín đáo chăm sóc ông bà Lê Tư. Hai thằng con ông Lê - giống mẹ hơn giống cha nên ít thấy lai Việt - không biết một tiếng Việt. Chúng ăn nhanh nhanh. Xong món thứ nhì, chúng không đợi món kế tiếp, vội vã rút lên phòng. Suốt bữa ăn, câu chuyện chỉ vây quanh mấy món ăn nấu theo tây, bởi vì ông Lê khoe có bà bếp giỏi. Bà bếp, người Pháp, có bước ra chào ông bà Lê Tư ..
Nhờ vậy, không khí trong bữa ăn không đến nỗi nào tẻ lạnh.

Sau bữa ăn, vợ ông Lê vì tế nhị, muốn để cho chồng và cha mẹ nói chuyện riêng với nhau, nên xin phép lên lầu. Bà dặn chồng :
- Anh không nên nói chuyện nhiều. Ba má chắc cần phải ngủ vì sai giờ giấc. Mình còn nhiều thì giờ mà ..
Khi bước qua xa-lông để uống cà phê, ông Lê hỏi :
- Ba má định qua đây ở chơi bao lâu ?
Ông Lê Tư châu mày, nhìn bà. Bà trả lời :
- Ba má định qua ở luôn chớ đâu phải ở chơi.
Người con ngạc nhiên :
- Ủa ? Sao lại ở luôn ? Bây giờ nước nhà độc lập rồi, không còn thằng nào ngồi trên đầu trên cổ mình hết. Tất cả đều thuộc về mình, không còn sợ thằng ác ôn nào cướp giựt nữa. Như vậy mà ba má định bỏ xứ qua đây ở luôn. Thiệt là vô lý !
Hồi nãy, trên xe về đây, ông Lê Tư còn nghĩ rằng thằng con ông chỉ nghiêng về phía bên kia. Bây giờ thì quá rõ ràng : nó đã đứng hẳn về phía bên đó. Ông nghe lòng quặn thắt : chẳng những cách mạng đã cướp hết tài sản của ông, mà tụi nó còn cướp luôn thằng con duy nhứt của ông, cướp từ hồi nào rồi ..
Ông Lê Tư làm thinh. Bà Lê Tư hơi mất bình tĩnh:
- Tại con không biết. Tụi nó lấy hết tài sản của ba má rồi còn đuổi xuống ở căn nhà của bồi, rồi lại bắt không được đi cổng chánh phải đi cổng hậu. Bây giờ tụi nó sợ mình không chấp hành chỉ thị nên kéo kẽm gai cô lập căn nhà ba má ở. Con nghĩ coi sống làm sao ?
- Buổi đầu lúc nào chẳng có chuyện sai sót. Rồi cách mạng sẽ trả lại hết cho ba má, yên tâm đi ! Điều mà con muốn nói là chưa chi mà ba má đã muốn bỏ xứ ra đi giống như bè lũ đĩ điếm trộm cắp tháo chạy mấy ngày trước giải phóng .. làm con thấy không hãnh diện chút nào hết !
Câu nói chưa dứt, ông Lê Tư đã đứng phắt dậy, làm thinh đi thẳng lên lầu. Bà Lê Tư cũng nối gót, nhưng bước chân bà nặng chình chịch. Đứa con máu mủ mà bà mới ôm hun thắm thiết hồi nãy trên phi trường, bây giờ bỗng giống như người xa lạ. Bà cảm thấy hụt hẫng đến độ bà không biết phải làm gì, nói gì. Đến giữa cầu thang, kềm không được, bà ôm mặt khóc tức tưởi ..
Suốt buổi chiều, ông Lê Tư ngồi trong phòng làm thinh hút thuốc. Ông không nghe buồn ngủ, ông chỉ nghe mệt - thật mệt và chán chường - thật chán chường. Ông bắt gặp lại tâm trạng của ông vào những ngày cuối cùng của thời ông bị cách mạng quay hằng bữa để ông kê khai tài sản một cách "đầy đủ và trung thực" !
Bà Lê Tư cũng không ngủ. Bà điện thoại để liên lạc mấy bà bạn đã định cư ở Pháp, nhứt là ở vùng phụ cận Paris. Rồi bà hẹn hò .. Sung sướng như thấy chân trời đang mở rộng.
Sau bữa ăn tối, đợi bà Lê và hai con lên lầu, bà Lê Tư nói :
- Chị bác sĩ A. sáng mai lại rước má về nhà chỉ chơi vài bữa. Sau đó, có lẽ sẽ qua nhà bà dược sĩ L . Ở đây, má có nhiều bạn bè lắm, con đừng lo cho má. Con chỉ cần lo cho ba thôi.Ông Lê Tư nhìn thẳng mặt con, giọng nghiêm trang :
- Ba nói thật : ba với con không hạp nhau. Ba không thể ở chung với con được. Ba xin con cho ba ở một nơi nào khác, ở một mình cũng không sao.
Ông nói "xin con cho ba" , đó là sự thật. Bởi vì bây giờ ông hoàn toàn trắng tay. Xưa nay, tiền dư ra, ông cho bà một phần để mua hột xoàn, còn bao nhiêu ông chuyển hết qua chương mục của người con ..
Ông Lê ngồi làm thinh, không biết ông đang nghĩ gì. Cũng là làm thinh, nhưng sự làm thinh của ông khó hiểu hơn sự làm thinh của ông bà Lê Tư !


Vậy rồi sáng hôm sau, bà bác sĩ A lái xe lại rước bà Lê Tư. Tiếp theo là ông Lê chở người cha ra ở cái nhà nghỉ mát ở gần bờ đá dựng. Suốt cuộc hành trình dài mấy tiếng đồng hồ, hai cha con không nói với nhau một lời !
Từ ngày ra đây ở, ông Lê Tư cảm thấy cuộc đời mình như đang đi vào một ngõ bí. Không sống được với cách mạng, đã đành. Còn lại bà vợ thì bây giờ bả coi mình như cục bứu trên lưng. Rồi đến thằng con, đối với mình, nó còn lạ hơn người xa lạ ! Cứ nghĩ quẩn nghĩ quanh như vậy hết ngày này qua ngày khác mà con người ông sa sút thấy rõ. Bây giờ, ông ốm nhom. Đi đứng đã phải chống ba-toon và đêm đêm cứ phải nằm trằn trọc tới khuya lơ mới dỗ được giấc ngủ. Thấy tội nghiệp, ông bà Jean Marie hay thừa dịp đưa nước trà hay cà phê để ngồi lại gợi chuyện vẩn vơ. Họ cũng ngạc nhiên tự hỏi sao không thấy ai gọi điện thoại hỏi thăm ông già này hết. Làm như ông không có mặt trong cuộc đời này .. Cho nên họ tận tình chăm sóc ông từng chút. Đến nỗi, về đêm, bà Jean Marie thường đợi ông lên giường nằm đàng hoàng mới tắt đèn đóng cửa đi về nhà ! Ông Lê Tư rất cảm kích nên lâu lâu ông phá lệ làm thinh để nói hai tiếng "cám ơn", nhẹ như hơi thở ..
Một hôm, ông Lê Tư bỗng thèm nhìn mặt biển, cái biển mà từ hôm ra đây - đã gần hai tháng - ông chỉ nghe tiếng của nó rì rào ngoài kia thôi. Ông bèn chống ba-toon bước từng bước run run đi lần ra hướng đó. Cứ đi vài bước là ông phải dừng lại một lúc để thở, nhưng ông vẫn cố bước đi ..Bây giờ thì ông đã đứng trên mép bờ đá dựng. Dưới chân ông, rất sâu phía dưới, là biển. Biển xanh dờn, kéo dài ra chân trời. Trời nước mênh mông. Gió muối và mùi thơm thơm của rong rêu nhắc ông nhớ cái biệt thự ở mỏm núi lớn Vũng Tàu. Ông đã xây cất biệt thự đó để làm nơi tiếp tân nên có một sân gạch thật rộng hướng về phía biển. Ông hay đứng ở đó nhìn chân trời như ông đang đứng nhìn chân trời bây giờ. Cũng trời, cũng nước, cũng một đường gạch ngang. Hồi đó, lúc nào ông cũng thấy chân trời đang mở rộng cho ông, cái hồi mà ông làm chuyện gì cũng thành đạt. Bây giờ, cũng trời, cũng nước, cũng một đường gạch ngang nhưng sao ông không thấy nó mở rộng cho ông một chút nào hết !


Ông chỉ thấy toàn là bế tắc. Chân trời là đường chấm dứt một cái gì : trời cao nghiêng xuống đến đó là hết, biển rộng vươn dài đến đó cũng là hết ! Giống như cuộc đời của ông bây giờCủa cải: hết ! Vợ con : hết ! Sức khoẻ của ông rồi cũng sẽ hết ! Hết ! Hết !
Bỗng, ông Lê Tư liệng mạnh cây ba-toon xuống biển, giống như ông dứt khoát không cần dùng đến nó nữa. Rồi ông hít một hơi dài, nhắm mắt bước thẳng vào khoảng không trước mặt, giống như bước qua một lằn ranh tưởng tượng.
Từ bây giờ, ông Lê Tư làm thinh vĩnh viễn ..
Chiều hôm đó, ông Jean Marie gọi điện thoại về Paris. Không có người bắt máy, nhưng có máy nhắn tin nên ông nhắn : "A lô ! Tôi là Jean Marie. Tôi xin báo tin buồn: ông cụ đã từ trần. Ông đi dạo gần tường đá dựng chẳng may rơi xuống biển.


Nhà chức trách đã vớt được xác đem về nhà xác bịnh viện Etretat. Yêu cầu ông bà ra gấp. Vợ chồng tôi xin chia buồn. Thành thật chia buồn .."Không biết, khi hay tin, vợ con ông có nhỏ cho ông một giọt nước mắt ?

TIỂU TỬ

NHỚ NƯỚC ĐAU LÒNG CON QUỐC

PHAN VIẾT PHÙNG



Tôi yêu nước Mỹ vì nước Mỹ được cấu tạo bởi tinh thần quật cường của dân chúng Mỹ, bởi nền văn hóa Kitô, bởi đức tính thông minh chính trực của các vị lập quốc, là những vị thông suốt nền văn học cổ Hy Lan và rút tỉa trong đó những bài học cơ bản về chính trị và xã hội.Và vì nước Mỹ là nước đầu tiên đã giành được tự do toàn vẹn và nhờ sự tự do ấy đã trở nên phồn thịnh bậc nhất thế giới, xứng đáng làm gương mẫu cho những dân ước mong tiến bước trên đường văn minh.


Nuớc Mỹ cao sang lại có nhiều cảnh trí xinh đẹp nhưng tôi ở Cali đã lâu mà chưa hề đi ngắm cảnh Lake Tahoe,Yellow Stones, Hawaii, vì người buồn cảnh có vui đâu bao giờ, vì nứớc Mỹ không phải là quê hương gốc rễ của tôi mặc dầu tôi đã sống ở Mỹ hơn nửa thế kỷ.Quê hương tôi dặm nghìn nước thẳm non xa.Bên trái bàn giấy của tôi có bản đồ Việt Nam treo trên tường. Đó là mảnh đất của tôi và của 70 triệu đồng bào, do tổ tiên tự ngàn xưa lối lại, không những giang sơn gấm vóc mà cả một quá khứ lẫy lừng hiển hách ngất cao trên vùng trời Đông Á, mảnh đất vừa lành vừa đậm vết tích của biết bao thế hệ anh hùng, một nền văn hóa cao siêu tao nhã, xưa kia là cỗi nguồn văn hóa của các dân Đông Á.
Vẻ đẹp của đất Việt Nam chính người Việt coi thường, nhưng người bốn phương không tiếc lời ca ngợi. Ông Zigmund Karpinski là một phi công Phô lan thời thế chiến II. Sau khi Phô Lan bị Đức và Nga cưỡng chiếm ông và đồng đội bay sang Anh, gia nhập Không lực Hoàng gia. Sau chiến tranh ông sang định cư ở Mỹ, làm nghề dạy đại học. Tôi gặp ông cuối thập niên 50.Ông kể chuyện một bạn đồng đội lãnh công tác bay thường xuyên dọc bờ biển Đông Á.Người ấy nói với ông rằng không có chỗ nào đẹp bằng bờ biển Việt Nam.
Nói bờ biển VN là hầu như nói toàn thể đất VN, vì ngoại trừ hai châu thổ Hồng Hà và Mê giang VN là một giải đất dài và hẹp.Bay dọc bờ biển dài 1500 dặm người ta không những thấy vô số danh lam thắng cảnh dọc bờ biển mà cũng thấy núi non hùng vĩ ở phía tây, rừng sâu xanh rờn của giải Trường Sơn và các giải Hoành Sơn với cỏ cây chen đá lá chen hoa.


Giữa biển và rừng là một mạng lưới sông lạch chạy theo chiều ngang của nước VN.Vì địa thế ấy toàn dân Việt sống gần biển và hải sản, đồng thời gần rừng và lâm sản.Dân VN ăn nhiều cá ít thịt là điều rất tốt cho thể xác.Hơn nữa gạo và nếp tốt hơn lúa mì, lại là thứ ngũ cốc mà tổ tiên dùng làm bánh chưng vuông bánh dầy tròn, món ăn quốc gia biểu tượng Đất và Trời.


Đó chỉ là di sản hữu hình.Di sản tinh thần và văn hóa lại càng cao quý xinh đẹp.Tổ tiên lưu lại trong giòng máu Việt một tinh thần quật khởi bất khuất, cần cù nhẫn nại, an hòa đạo đức, trọng nghĩa khinh tài, và thêm một quá khứ lẫy lừng với biết bao chiến công oanh liệt.Suốt giòng lịch sử bốn ngàn năm VN là một miếng thịt trăm dao xâu xé (Phan bội Châu). Sự tồn tại cho đến ngày nay là một bằng chứng hùng hồn về chí kiên cường sức dẻo dai của dân tộc Việt.
Tính chất anh dũng của Việt tộc, người bốn phương ít nghe nói; mà có nghe thì cũng khó tin vì nó quá kiệt xuất.Nhưng người Việt bắt buộc phải biết và không được phép bỏ quên.Chí kiên cường dũng cảm của nòi giống Việt được biểu hiện rõ rệt nơi 18 vị Hùng Vương và nhiều vị lãnh đạo khác đã dựng nước và giữ nước bằng nhiều chiến thắng chống nỗ lực xâm lăng và uy hiếp của ngoại bang.
Năm 40 SK (sau Kitô) quân của nhà Đông Hán bị hai phụ nữ Việt là Trưng Trắc và Trưng Nhị trục xuất khỏi 65 thành trì.. Năm 248 bà Triệu cưỡi voi cầm quân đánh bọn Đông Ngô tham tàn ác độc và bổ vây sáu tháng.Năm 938 Ngô Quyền tiêu diệt quân Nam Hán trên sông Bạch đằng, rồi xưng vương, chấm dứt thời kỳ một nghìn năm Bắc thuộc.


Thời nhà Trần tổng chỉ huy quân đội là Trần Hưng Đạo (Trần Quốc Tuấn) đánh bại quân Mông ba lần. Đó là những đạo binh rất thiện chiến và điêu luyện.Đế quốc Mông thời ấy trải dài từ Trung Á châu đến sông Dnepr phía tây nước Nga.Sau khi diệt nhà Tống bên Tàu và lấy hiệu là nhà Nguyên, quân Mông kéo sang đánh VN ba lần, mỗi lần thất trận nặng nề.Đó là những năm 1257, 1282 và 1287.Nhờ có kỳ tài quân sự và được toàn dân ủng hộ trong Hội nghị Diên Hồng, Trần Hưng Đạo cả ba lần tiêu diệt quân Mông hầu như toàn bộ.
Năm 1418 đang lúc dân Việt khổ nhục đến tột độ anh hùng Lê Lợi dấy quân ở Lam Sơn, tự xưng là Bình định Vương, đánh quân nhà Minh gần mười năm.Khoảng 1420 ông Nguyễn Trãi dâng Bình Định Vương một sách lược bình Ngô. Vua cho là hay và dùng Nguyễn Trãi làm tham mưu.Năm 1427 Bình Định Vương dẹp xong giặc Minh, sai Mguyễn Trãi làm bản báo cáo cho thiên hạ biết.Đó là tờ Bình Ngô Đại Cáo.


Năm 1788 vua Quang Trung đem đại quân ra Bắc đánh quân nhà Thanh, ra lệnh cho tướng sĩ ăn Tết sớm để đến hôm trừ tịch sẽ cất quân và đến ngày mồng Bảy Tết sẽ vào thành Thăng Long mở tiệc ăn mừng. Ba quân của Quang Trung tiến vào quá nhanh, các đồn của quân Thanh không kịp ứng phó.Tại bản doanh Thăng Long ba tướng tử trận, một tướng tự thắt cổ.Chính Tôn sĩ Nghị, tổng chỉ huy, nửa đêm chồm dậy chỉ kịp chạy thoát thân. Xong mọi việc vua Quang Trung sai sứ sang nhà Thanh cầu phong; nhưng mục đích chính thực là để có thời gian chuẩn bị một cuộc đòi lại Lưỡng Quảng. Ngoài các vấn đề chính trị, quan chế, đinh điền, vua chú trọng việc tuyển mộ và luyện tập binh sĩ.Vua cũng giao cho ba tướng là Trần Quang Diệu cùng vợ là Bùi Thị Xuân và Vũ Văn Dũng sứ mạng đem quân sang đóng bên Lào, chờ lúc vua dấy quân ở Lưỡng Quảng thì vào đánh phá ở Vân Nam không cho quân Tàu dồn toàn quân lực vào Lưỡng Quảng. Khi mọi sự đã sẵn sàng thì không may vua ngã bệnh và mất.
Sự nghiệp nhà binh và chiến công lừng lẫy của các vị lãnh đạo trên đây biểu lộ một tinh thần tự chủ tự quyết, kiên cường, tài trí, tức là mình làm chủ mình, có tài trí để tự quyết, không lệ thuộc không hề khuất phục lực lượng nào ở ngoài. Đó là những đặc tính của văn hóa Việt tộc.
Vì ảnh hưởng của thời Bắc thuộc người Việt đã phần nào lãng quên văn hóa nguyên thủy của mình.Nhưng thời nay nhờ công trình khảo cứu của triết gia Kim Định một số người đã biết nguồn gốc đích thực của dân tộc Việt và văn hóa Việt. Dân tộc Việt không phải là một chi nhánh của Hoa tộc.Việt tộc thiên di vào lục địa cách đây khoảng 7 nghìn năm, trước Hoa tộc khoảng một nghìn năm.Thời ấy Việt tộc đóng vai chính trong bước tiến từ thời đại thạch khí sang thời đại kim khí của các dân Đông Á. Đồng thời văn hóa của Việt tộc là cỗi rễ của các văn hóa sơ thủy ở Đông Á.
Văn hóa của Việt tộc, cũng gọi là Việt Nho được gói ghém trong quan niệm Tam tài Thiên Địa Nhân. Nhân là sự phối hợp giữa Thiên và Địa; trong Nhân có chất Thiên và chất Địa, dung hòa cân xứng với nhau.Mà vì Thiên Địa (quẻ càn, quẻ khôn) là tất cả càn khôn vũ trụ thì Nhân là chủ là vua mọi sự, không chịu sự chi phối của bất cứ lực lượng nào.Điều nầy nhắc ta về lá cờ nền vàng ba sọc đỏ. Vàng là màu vương giả, chức vị cao sang uy quyền nhất. Ba sọc đỏ chỉ ba miền Bắc Trung Nam; ba sọc đỏ cũng là quẻ càn, chỉ cái gì cao trọng đáng tôn kính như Trời, Vua.Nhưng ý nghĩa sâu sắc hơn cả là ba sọc đỏ chỉ Tam tài Thiên Địa Nhân, tức là văn hóa của Việt tộc.Hóa ra cờ vàng ba sọc đỏ tượng trưng Việt tộc từ khi Việt tộc có văn hóa Việt Nho và sống ở lưu vực sộng Dương Tử.


Văn hóa được lưu truyền qua ngôn ngữ.Việt Nam tất nhiên có ngôn ngữ, một ngôn ngữ, nhưng đây xin phép tạm gọi là hai.Một ngôn ngữ thông thường từ khi có Việt tộc tới nay; không có văn tự cho đến thời Hàn Thuyên chế ra chữ nôm và sau đó chữ nôm được thay thế bằng mẫu tự Rôma.Ngôn ngữ thứ hai có văn tự từ thời thượng cổ, cái mà bây giờ người Hoa gọi là Hán tự và người Việt gọi là chữ Nho.Đấy là ngôn ngữ chung của Việt và Hoa. Nói là chung vì ba lý do.Thứ nhất, người Việt đã dùng ngôn ngữ ấy suốt mấy nghìn năm, dùng như của mình để sáng tác, ghi chép lịch sử và mọi văn kiện quan thức. Thứ hai, một nhóm người Việt tiên khởi chế ra văn tự theo lời yêu cầu của vị hoàng thứ ba tên là Hoàng Đế, gốc Hoa.Kết quả là một hệ thống văn tự thô sơ đơn giản nhưng được cải tiến bổ túc dần dà về sau.Thứ ba, khi Hoàng Đế giao cho người Việt sáng chế văn tự thì ông muốn nói văn tự cho ngôn ngữ nào? Chẳng lẽ ông muốn người Việt sáng chế văn tự cho Hoa ngữ.Vậy ta phải kết luận là sáng chế cho ngôn ngữ chung, ngôn ngữ Hoa Việt. Hai dân tộc sống với nhau trên lục địa hàng ngàn năm, có lúc đụng độ quân sự, có thời kỳ sống chung hòa bình, hợp tác với nhau về nhiều phương diện; đặc biệt là Hoa tộc rất khâm phục và hăng say tiếp thụ văn hóa Việt tộc.Vậy không có gì lạ nếu hai tộc nói một ngôn ngữ chung gồm có những từ gốc Việt và những từ gốc Hoa.Vì thế hiện giờ ta thấy vô số (không kể xiết) những từ rất thông dụng trong đời sống hằng ngày của dân chúng Việt mà có trong Nho ngữ với phát âm y nguyên hoặc đổi khác tý chút.
Đấy, Việt tộc là như thế.Văn hóa, minh triết, tài ba, chiến pháp của Việt tộc xưa kia là như thế. Nay dừng chân ngảnh lại trời non nước, một khối tình thâm nước với ta (Bà huyện Thanh Quan).Quá khứ huy hoàng vinh hiển bao nhiêu thì hiện tại đen mờ tủi nhục bấy nhiêu. VN không còn là một dân tộc cao sang,một quốc gia độc lập. Dân Việt đang bị chà đạp dưới gót giầy CS, là bầy tôi của thế lực đàng sau CS, hoặc tản mác khắp năm châu bốn bể.Khi sao phong gấm rủ là, giờ sao tan tác như hoa giữa đường.
Và ta gậm một mối căm hờn trong cũi sắt, ta nằm dài trông ngày tháng dần qua (Thế Lữ).Đường đời đã đến đây thì bước sau phải theo hướng nào? Bước sau của con Rồng cháu Tiên không thể là gì khác ngoài việc dựng lại cơ đồ, giành lại đất nước độc lập tự do, ngoài việc hy sinh cố gắng, chung sức chung tài, ra công tìm hiểu để chọn đúng phương thức đấu tranh. Nhưng có một việc tối cần, nếu không có thì hãy quên xả mọi việc vừa kể.Đó là việc bảo trì tinh thần quốc gia dân tộc nơi thế hệ ngày nay và vun trồng tinh thần ấy nơi thế hệ ngày mai. Việc ấy càng cấp thiết nếu ta chú ý xem kẻ thù của tự do đang áp dụng mọi phương pháp để dần dà tiêu diệt tinh thần quốc gia dân tộc, chuẩn bị cho một thế giới đại đồng, vô quốc gia vô tổ quốc, tất cả đồng đều không những về kinh tế kỹ nghệ, mà cũng đồng đều về pháp luật, cưỡng hành pháp luật, về tiền tệ, thuế suất.Để phát huy tinh thần quốc gia dân tộc thì tất nhiên phải ý thức về nguồn gốc và quá khứ của dân tộc.Vô tri bất mộ là lẽ dĩ nhiên.


Nhắm mục đích truyền bá ý thức về dân tộc và lòng mộ mến dân tộc, Ban Phổ biến Văn hóa Cổ truyền Việt nam, do bà Trùng Quang cầm đầu, mới xuất bản sách Phụ Chú Bình Ngô Đại Cáo. Nửa đầu trình bày hai bản nguyên văn chữ Nho, có phần phiên âm và phần phiên dịch; một bản phiên dịch; một bản lược dịch bằng Anh ngữ; một bản lược dịch bằng thơ thất ngôn lục bát của bà Trùng Quang; và bài vận văn của Tản Đà về Bình Ngô Đại Cáo.Nửa sau gồm một số bài về đại danh nhân Nguyễn Trãi, tác giả của Bình Ngô Đại Cáo.
Trong văn kiện lịch sử nầy tác giả trình bày nỗ lực của toàn dân và cuộc chiến thắng quân Minh để nêu ra nững nguyên tắc căn bản về xã hội loài người; những nguyên tắc mà hiện giờ gần sáu thế kỷ sau các nhà lãnh đạo chính trị cần thấu hiểu và tuân giữ để khỏi gây ra hỗn loạn, binh đao, khổ cực. Thứ nhất là quan niệm quốc gia dân tộc và chủ quyền: nước ta xưng văn hiến đã lâu, sơn hà đã quy định; nước ta đã giành được độc lập và chủ quyền từ lâu; vi phạm là phá trật tự thiên nhiên trong xã hội loài người.Thứ hai, tàn ác, tham nhũng, bóc lột, chà đạp nhân quyền như quân Minh đối với dân Việt và nhiều trường hợp khác thời nay, rốt cuộc không thoát được lưới trời.Thứ ba, quan niệm dân chủ của Nguyễn Trãi là vua thay Trời trị nước, khác với quan niệm Thiên tử thường dẫn đến chuyên chế. Thay Trời tất nhiên chịu trách nhiệm với Trời về sứ mạng của mình, mà sứ mạng của mình là việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, không phạm đến quyền lợi của dân, mọi sự đều vì dân, cho dân và do dân.Như vậy quân chủ mà thực sự là dân chủ, thứ dân chủ đích thực. Thời nay cũng có những chính thể dân chủ hoặc dân chủ pháp trị (cộng hòa), nhưng đó chỉ là những quan niệm thuần túy chính trị nhân tạo, không căn cứ vào một quyền uy tối thượng như quan niệm cửa Nguyễn Trãi.


Phổ biến sự hiểu biết về quá khứ huy hoàng của dân tộc là điều kiện bất khả khuyết.Mong nỗ lực nầy vẫn tiến triển luôn mãi.Ngoài ra sống ở hải ngoại là cơ hội tốt để hiểu rõ tình hình của cuộc đấu tranh.Đại khái tình hình là kẻ thù có những vây cánh rất nhiều thế lực; bởi vậy người Việt cần có sự đồng tâm nhất trí. Nhưng đang lúc nước nhà tan hoang, đồng bào thống khổ, mộng tự do thanh bình còn xa vời thì đồng bào hải ngoại chia rẽ mà chi, xung khắc mà chi cho thêm đau lòng con quốc lưu vong, cho ta góc bể chân trời, trông vời cố quốc biết đâu là nhà.
Thực trạng bây giờ là các cộng đồng hải ngoại mang bệnh chia rẽ trầm trọng.Nếu các đoàn thể chỉ hoạt động riêng rẽ, ít nhịp nhàng với nhau thì cũng đủ cho đại cuộc thất bại. Phương chi là chia rẽ, xung khắc, cản trở nhau.
Thiết tưởng có bốn nguyên nhân chính gây ra chia rẽ.Một là thiếu sự hiểu biết đầy đủ và toàn diện về các vấn đề liên quan đến đại cuộc. Nếu mỗi người chỉ biết một bộ phận của con voi thì sẽ cãi nhau inh ỏi khi thảo luận về con voi.Hai là tự đắc,không cố mở rộng tầm nhìn của mình, cho quan điểm của mình hay hơn đúng hơn của kẻ khác.Ba là tham chức quyền danh lợi, đặt mình trên hết, trên cả chính nghĩa của quốc gia dân tộc, coi cuộc đấu tranh là môi trường cho cá nhân mình thăng tiến; một chính phủ, một tổ chức quản trị là chỗ cho mình tìm kiếm chức vụ, len lỏi, chạy chọt, giật dây, kể cả những hành vi tai hại cho quốc gia hay cho cuộc đấu tranh; chẳng hạn cộng tác với CS mong nó cho mình chức nọ chức kia. Bốn là thiếu ý thức về mưu đồ CS xâm nhập cộng đồng để phân hóa thao túng và phá hoại cộng đồng.


Tâm trạng ấy là nguyên do chính gây ra thảm họa mất Miền Nam và hiện giờ là trở ngại lớn cho cuộc đấu tranh giành lại đất nước, khiến cho triển vọng một VN tự do hạnh phúc vẫn mịt mờ.Trước tình trạng ấy kẻ xa quê sao khỏi bùi ngùi thổn thức:

Tấc lòng cố quốc tha hương, dường kia nỗi nọ ngổn ngang bời bời; xung quanh những nước non người, đau lòng lưu lạc nên vài bốn câu. /-

Saturday, January 30, 2010

Diễn tiến phiên tòa VC xử cô Phạm Thanh Nghiên
Thanh Trúc, phóng viên RFA
2010-01-29


Tòa án Hải Phòng hôm nay tuyên phạt cô Phạm Thanh Nghiên bốn năm tù giam và ba năm quản chế về tội tuyên truyền chống phá nhà nước, vi phạm điều 88 bộ luật hình sự.

RFA PHOTO
Tin tức về phiên tòa xử cô Phạm Thanh Nghiên ở Hải Phòng hôm 29-01-2010.

Phần âm thanh

Tải xuống âm thanh

Email bản tin này
Mẹ bị cáo không được đến tòa
Bà Nguyễn Thị Lợi, mẹ cô Phạm Thanh Nghiên, không được phép đến phiên xử sáng nay, nhà của bà bị công an bao vây canh gác từ chiều hôm qua.
Phiên tòa sơ thẩm xét xử cô Phạm Thanh Nghiên kết thúc vào buổi trưa nay với bản án 4 năm tù giam và 3 năm quản chế sau đó.
Vào buổi sáng khi phiên xử chưa bắt đầu, bà Nguyễn Thị Lợi mẹ cô Phạm Thanh Nghiên đã không được phép ra khỏi nhà.
Từ tư gia nói qua điện thoại, bà Lợi cho biết: “Người ta không mời tôi, người ta đang vây tôi đông lắm. Người ta canh tôi từ chiều hôm qua đến bây giờ, người ta không cho tôi đi.”
Thanh Trúc: Thành ra ngay bây giờ bà không thể ra khỏi nhà được?
Bà Nguyễn Thị Lợi: Tôi vẫn ra vườn, tôi đang hái rau.
Người ta đang vây tôi đông lắm. Người ta canh tôi từ chiều hôm qua đến bây giờ, người ta không cho tôi đi.
Bà Nguyễn Thị Lợi
Thanh Trúc: Nhưng ra khỏi nhà là không được?
Bà Nguyễn Thị Lợi: Thì đi đến đâu là người ta theo đến đấy. Người ta không cho tôi ra dự, không mời thì phải chịu vậy thôi.
Thanh Trúc: Bà có liên lạc với luật sư Trần Vũ Hải không?
Bà Nguyễn Thị Lợi: Có, hôm qua tôi có ra gặp ông. Tôi có hỏi về cáo trạng cái tội gì là chính thì ông ấy cũng nói tội tuyên truyền là chính.

Phạm thanh Nghiên
Thanh Trúc: Nếu bây giờ bà vẫn nhất quyết muốn đi ra ngoài, để theo dõi tình hình phiên tòa bà bản án của con gái, thì vẫn không đi được?
Bà Nguyễn Thị Lợi: Không, nghĩa là người ta không cho đi, không mời, đã không mời thì người ta phải quản thúc. Tức là người ta vây từ chiều hôm qua đến giờ tới… Nhà tôi giờ rất nhiều công an.
Thanh Trúc: Bà nói chuyện với Thanh Trúc thế này người ta có biết không?
Bà Nguyễn Thị Lợi: Biết đấy, các vị cũng thông cảm cho gia đình chúng tôi, bây giờ mà cứ gặp gỡ thì nó lại khó khăn thêm cho gia đình chúng tôi, xin thông cảm…
Bên ngoài phiên xử
Trong khi đó bên ngoài phiên tòa xử cô Phạm Thanh Nghiên hôm nay có hai người vợ của hai nhà bất đồng chính kiến trong nhóm cùng bị bắt với cô năm 2008. Bà Nguyễn Thị Nga vợ ông Nguyễn Xuân Nghĩa, bà Dương Thị Hài vợ ông Nguyễn Văn Tính.
Theo bà Nguyễn Thị Nga cho biết không ai được đến gần tòa án: “Tôi và chị Hài vợ anh Tính đang đứng đây. Tôi với chị Hài đứng cách xa tòa án đến một nửa cây số, họ không cho đứng gần đâu, rất là nhiều công an, đông công an lắm. Công an đang dứng ở gần, chỉ cách tôi mấy gang tay thôi. “
Thanh Trúc: Thưa bây giờ là 9 giờ 51 phút, phiên xử cô Phạm Thanh Nghiên bắt đầu chưa?
Bà Nguyễn Thị Nga: Bắt đầu hay không thì chúng tôi cũng không thể biết được. Vì ở trong tòa, còn chúng tôi thì đứng ở ngoài vì họ có cho loa phát thanh ra ngoài đâu. Chắc là bây giờ thì đang xử rồi. Theo như mọi khi là cứ tám giờ là xử. Thế sao hôm nay bác Lợi lại không đi được?
Thanh Trúc: Bác Lợi nói hiện bay giờ bác đang bị bao vây. Chung quanh nhà bác Lợi có rất nhiều công an, có thể nói là nhiều chục công an đứng đó. Người ta không cho bác ra khỏi nhà.
Bà Nguyễn Thị Nga: Thì qua truyền thông báo chí thì chị hiểu được cái cảnh ở Việt Nam đấy. Một phiên tòa mà nói xử công khai xử cho mọi người biết mà cả người thân trong gia đình cũng không đến được. Qua bác Lợi thì chị hiểu được cái tình cảnh những phiên tòa xử ở Việt Nam là như thế.
Những người đấu tranh mà bị đưa ra xét xử là đều như thế. Ai cũng có quyền công dân, thí dụ chúng tôi đi xem là quyền của chúng tôi làm sao ngăm cấm chúng tôi? Thế nhưng mà chúng tôi đi là cũng không phải đơn giản mà đến được tòa này đâu. Tôi biết trước cửa nhà tôi cũng có người theo dõi, tôi đi theo cách của tôi.
Thanh Trúc: Ngoài chị Nga và chị Hài thì còn có người nào nghe biết về phiên tòa này mà đến không?
Bà Nguyễn Thị Nga: Công an họ đông lắm, họ đẩy chúng tôi ra thật xa, bây giờ chúng tôi chỉ biết đứng đây thôi. Ngoài chị vợ anh Tính ra thì cũng có mấy người họ hàng bên chị ấy, mấy bác và một số người nữa thì chúng tôi đang đứng ở góc đường của tòa án đây ạ.
Luật sư: tôi cũng không hiểu nổi

Luật sư Trần Vũ Hải, trụ sở tại Hà Nội
Để tiếp tục theo dõi tình hình phiên tòa, đến 11 giờ 30 sáng đường dây viễn liên được nối lại với bà Nguyễn Thị Nga, và vợ nhà văn bất đồng chính kiến Nguyễn Xuân Nghĩa thông báo: “Chắc là vụ án vẫn chưa xong, cho nên chưa thấy xe chở cháu Nghiên đi ra ngoài.”
Vấn đề này rõ ràng là không hợp lý, vì cái quyền ấy là quyền công khai, nhưng mà họ lo ngại thế nào đó mà tôi cũng không hiểu nổi.
LS Trần Vũ Hải
Đến 12 giờ 45 phút thì phiên xử kết thúc. Trên đường ra khỏi tòa án, luật sư Trần Vũ Hải cho biết kết quả: “Tòa án sơ thẩm đã kết án chị Nghiên bốn năm tù giam và ba năm quản chế, theo điều 88 bộ luật hình sự, tôi tuyên truyền chống phá nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Việt Nam.”
Thanh Trúc: Trước tòa thì ông thấy tinh thần của cô Phạm Thanh Nghiên như thế nào?
LS Trần Vũ Hải: Trước tòa cô Nghiên vẫn bình tĩnh, tinh thần tốt.
Thanh Trúc: Mẹ cô Phạm Thanh Nghiêm không được giấy mời và cũng không được phép có mặt tại tòa, ông nghĩ như thế nào về điều đó.
LS Trần Vũ Hải: Hiện tôi đang đi cạnh hai chị của Phạm Thanh Nghiêm.. Tôi thấy cơ quan công an chắc là họ lo ngại gì đấy. Vấn đề này rõ ràng là không hợp lý, vì cái quyền ấy là quyền công khai, nhưng mà họ lo ngại thế nào đó mà tôi cũng không hiểu nổi.
Thanh Trúc: Cô Phạm Thanh Nghiên có dự định kháng án lên tòa trên không?
LS Trần Vũ Hải: Tôi đã trao đổi với người nhà rồi thì cô sẽ tự quyết định thôi. Tôi cũng nói rằng cơ hội kháng cáo là cũng có nhưng mà cũng nên xem xét là có cần thiết hay không. Đấy là tùy quyền của cô, và cô cũng nghĩ rằng cho dù nhẹ hay là nặng có lẽ cô không kháng cáo.
Tôi cũng đang trao đổi với cô ấy. Bởi vì với kinh nghiệm từ những phiên tòa trước thì không thấy có khả quan trong việc kháng cáo.
Em thấy xử Nghiên nhà em thế là quá nặng. Em nghĩ là những bài báo mà em Nghiên nó viết thì nó không có tội.
Phạm Thanh Yến
Thanh Trúc: Hiện bay giờ người ta đã giải cô Phạm Thanh Nghiên đi rồi phải không?
LS Trần Vũ Hải: Vâng
Thanh Trúc: Ông có thể cho Thanh Trúc nói chuyện với người nhà của cô Phạm Thanh Nghiên?
Phạm Thanh Yến: A lô, em là chị gái của Phạm Thanh Nghiên, em là Phạm Thanh Yến. Phiên tòa hôm nay mẹ em không được mời, tòa án không mời ai cả. Bên công an thì cho phép hai chị em em vào, hai chị em đi theo anh luật sư này. Vào trong đấy tòa xử Nghiên nhà em bốn năm, ba năm quản thúc.


Em là dân em ít hiểu thôi, nghe luật sư cãi và nghe bên kiểm sát nói thì em thấy xử Nghiên nhà em thế là quá nặng. Em nghĩ là những bài báo mà em Nghiên nó viết thì nó không có tội. Quan điểm của em là như thế.
Vẫn theo lời chị ruột cô Phạm Thanh Nghiên, dù biết hy vọng mỏng manh nhưng gia đình sẽ hội ý cùng luật sư để nộp đơn kháng cáo bản án bốn năm tù giam ba năm quản chế mà tòa sơ thẩm tuyên phạt cô hôm nay.
(Thanh Trúc tường trình từ Bangkok, Thái Lan)

“Thượng Tôn Pháp Luật”
Phạm Hồng Sơn


Nguyên tắc “Thượng tôn pháp luật” (Rule of law) thường được hiểu với nghĩa sơ khai là: “pháp luật có quyền lực cao nhất, trên tất cả mọi người và mọi người đều phải tuân thủ pháp luật”. Ý nghĩa này, về mặt lịch sử, xuất phát từ mơ ước của con người từ thời cổ đại mong được sống một cuộc đời không phụ thuộc vào sự thất thường, lắm khi tàn ác, của những kẻ có quyền. Aristotle của Hy lạp thế kỷ thứ IV trước CN đã viết “xã hội phải được quản lý bằng pháp luật và những người có quyền lực chỉ là người phục vụ pháp luật ”. Hàn Phi Tử của Trung quốc thế kỷ thứ III trước CN cũng mong muốn “pháp luật chứ không phải kẻ có quyền được điều khiển nhà nước.”


Tuy nhiên “Thượng tôn pháp luật” (với ý nghĩa sơ khai vừa nêu) không những chưa đủ để con người tránh được sự tàn ác, xảo trá của kẻ cầm quyền, mà, như lịch sử và thực tại cho thấy, còn trở thành vỏ bọc “hợp pháp” cho sự thống trị, đàn áp của những kẻ cầm quyền độc đoán. Adolf Hitler đã dùng luật để tiễu trừ người Do thái, các lãnh đạo cộng sản trong thế kỷ XX đã tạo ra luật để cướp đoạt tài sản, “ngăn sông cấm chợ” và nẫng đi những tự do vốn đã ít ỏi của dân chúng và ngay gần đây, Taliban đã dùng luật để phá tan hai pho tượng Phật độc nhất vô nhị của loài người!
“Thượng tôn pháp luật” với ý nghĩa đầy đủ và hiện đại phải được gắn kết một cách hữu cơ với sự tổ chức, vận hành của các cơ quan quyền lực của nhà nước, xã hội và có mục đích tối hậu nhằm bảo vệ quyền con người. Để “Thượng tôn pháp luật” đáp ứng được đúng ước mơ nguyên thủy của con người, các học giả hiện đại đã chỉ rõ “Thượng tôn pháp luật” phải được đặt trên bốn nền tảng sau đây:


1. Pháp luật phải có khả năng dễ dàng buộc các cơ quan nhà nước và mọi nhân viên của nó phải có trách nhiệm, phải trả giá thích đáng cho mọi hành vi sai phạm.
2. Pháp luật phải rõ ràng, công khai, ổn định và công bằng và phải nhằm mục đích bảo vệ các quyền cơ bản của con người.
3. Qui trình phê chuẩn pháp luật, thực thi pháp luật và bảo vệ pháp luật phải đảm bảo tính hiệu lực, công bằng và tính sẵn sàng chịu sự giám sát và chấp nhận nhu cầu thay đổi của dân chúng.
4. Quá trình phán xử (bảo vệ công lý) phải do những thẩm phán, luật sư có đạo đức, độc lập và đủ năng lực thực thi. Các viên chức tư pháp phải có đủ về số lượng, được đảm bảo thích đáng về nguồn lực, phương tiện khi thi hành công vụ và họ phải thể hiện được tính đa nguyên trong cấu trúc xã hội.


“Thượng tôn pháp luật” cũng như “Nhà nước pháp quyền” ngày nay đã trở thành những tiêu chuẩn, nền tảng của một xã hội văn minh. Những nguyên tắc này đã phổ quát và đúng đắn đến mức mọi chính quyền độc đoán đều không thể từ chối tán thành, bất chấp cả nguồn gốc phương Tây. Chỉ khác là những chính quyền độc đoán luôn trắng trợn giấu diếm và ngang ngược biện bạch cho sự thiếu vắng bốn nền tảng kể trên.


Cách nay hơn 250 năm Montesquieu đã có một nhận định bất hủ ”Kẻ cầm quyền độc đoán chả có pháp luật gì ngoài sự tùy tiện tai hại cho toàn xã hội.” (le despote n'a aucune règle, et ses caprices détruisent tous les autres). Điều đó cũng có nghĩa là nhân dân chẳng cần phải tôn trọng pháp luật, nếu pháp luật đó chỉ do những kẻ độc đoán quyền lực và thuộc hạ của chúng tạo ra. /-

Phạm Hồng Sơn
27/01/2010

Bài Lên Tiếng
VỀ TRƯỜNG HỢP MỘT BÀI VIẾT CỦA DU TỬ LÊ
Nguyễn Thị Minh Thủy

Cách đây không lâu, một người bạn có kể cho tôi nghe là nhà thơ Du Tử Lê đã tuyên bố ở đâu đó rằng bút hiệu Nguyễn Tất Nhiên của tác giả “Thà Như Giọt Mưa” là do ông đặt ra cho người thi sĩ quá cố này. Tuy sự kiện này tôi chưa bao giờ được nghe chính anh Nguyễn Tất Nhiên kể lại trong suốt thời gian chung sống, tôi cũng không lấy gì làm bận lòng về tính khả tín của nó. Tôi nghĩ chẳng qua đây chỉ là một trong số những giai thoại văn chương nào đó mà ông Du Tử Lê, bậc thầy của chữ nghĩa, cha đẻ của nhiều thuật ngữ thi ca độc đáo như “tan theo ngày nắng vội,” “khi tôi chết hãy mang tôi ra biển,” “ở chỗ nhân gian không thể hiểu,” kể lại trong lúc trà dư tửu hậu để, hoặc lý thú hóa một mối duyên thi văn, hoặc phong phú hóa kho tàng đào tạo tên tuổi của ông, vân vân. Tính thật hư của sự kiện dù sao cũng chỉ trong vòng tương đối mà thôi, hơn nữa chấp làm gì một việc đặt tên trong quá khứ khi cuộc sống trước mặt có quá nhiều chuyện để đối phó và suy tư.


Thế nhưng sau khi đọc bài viết của ông Du Tử Lê đăng trên giai phẩm Xuân Canh Dần của Nhật Báo Người Việt, dưới tựa đề “Trường Hợp Nguyễn Tất Nhiên, Những Ngày Tháng Cũ,” tôi thật sự ngạc nhiên và cảm thấy cần phải xét lại thái độ im lặng trước giờ. Một cái gì đó thôi thúc tôi lên tiếng, một lần này thôi, dù biết rằng “lời thật” của tôi có thể sẽ làm “mất lòng” một bậc đàn anh văn nghệ vĩ đại của người chồng cũ đã khuất của mình.
Tại sao có sự thôi thúc này? Phải chăng bởi vì nội dung của bài viết có liên quan đến một người đã chết, nghĩa là một kẻ không thể tự mình lên tiếng để công nhận hoặc phủ nhận, hay bổ túc những phần trăm sự thật mà tác giả đã vô tình (hoặc cố ý) bỏ sót? Cho dù tôi không biết hết một trăm phần trăm sự thật, ít ra sự trình bày của tôi hôm nay cũng thắp lên được một ánh lửa khiêm tốn giữa bóng đêm dày đặc kín bưng. Tôi cũng xin khẳng định rằng việc lên tiếng này không hề xuất phát từ tình cảm bất bình khi thấy suốt một bài viết dài, thi sĩ Du Tử Lê chẳng ghi nhận nét độc đáo nào đó trong sự nghiệp thi ca của một nhà thơ khác được lấy nửa dòng. Chuyện ông khen hay không khen thơ Nguyễn Tất Nhiên thật sự không quan trọng đối với tôi, cho dù không ai không biết Du Tử Lê là một tên tuổi nổi tiếng trên văn đàn hiện nay.


Để tránh làm mất thì giờ, tôi xin đi thẳng vào vấn đề. Trong bài viết vừa dẫn, ông Du Tử Lê cho rằng chính ông đã đặt bút hiệu Nguyễn Tất Nhiên cho chàng “thi sĩ tỉnh lẻ” này ngay ngày đầu tiên gặp gỡ vào một buổi sáng cuối năm 1970 tại quán cà phê La Pagode Sài Gòn, khi cậu học trò nhà quê lặn lội lên thành diện kiến đàn anh để tặng cuốn “Thiên Tai,” một tập thơ mà cậu ta vừa mới in ra.
Theo nguyên văn lời kể của ông Du Tử Lê, “Nhan đề của cuốn thơ in dạng copy đó là “Thiên Tai.” Chữ lớn, đậm. Tên tác giả “Hoài Thi Yên Thy” chữ nhỏ, mảnh.” (sic) Vì thấy Hải (tên thật của Nguyễn Tất Nhiên) tha thiết với chuyện được đăng thơ trên tạp chí Văn (lúc ấy do ông Trần Phong Giao trông coi) nhưng gửi hoài không được toại nguyện, nhà thơ Du Tử Lê, vốn lão luyện trong chốn trường văn trận bút, đã thấy ngay vấn đề: “Cầm lên tập thơ mỏng của Hải, lật vài trang, tôi nghĩ, ngay cái bút hiệu “Hoài Thi Yên Thy” của cậu, đã tố cáo tính cách văn nghệ học sinh, thành viên thi văn đoàn tỉnh lẻ rồi! Ngay cái tên, tự nó cũng đủ khiến những người phụ trách việc chọn thơ cho Văn, không tin tưởng!” (sic)
Và ông, với thiện ý giúp đỡ, đã không nề hà “nói ra ý nghĩ của mình với Hải. Tôi bảo, tốt nhất Hải nên chọn tên thật. Vì cái tên Hoài Thi Yên Thy nghe cải lương, học trò. Không ổn.” (sic)


Ngoài sự chờ đợi của ông Du Tử Lê, cậu Hải không chút gì cảm thấy khó chịu. Và sau khi được ông thuyết giảng về yếu tính để thành công trong việc chọn bút hiệu, như “việc đầu tiên, bút hiệu đó phải lạ, dù vô nghĩa,” vân vân, “Hải nói ngay: Vậy anh nghĩ cho em một cái tên… lạ đi. Không có nghĩa cũng được.” (sic) Và cậu ta còn nài nỉ ông Du Tử Lê phải làm điều đó ngay lập tức chứ không thể chờ, cho dù chỉ vài bữa, vì “em ở tuốt Biên Hòa. Lại không có xe, đâu có thể chạy lên chạy xuống thường xuyên được.” Thế rồi, như một chuyện thần thoại, hai chữ “tất nhiên” thành hình trong đầu ông và ông “mượn Hải cây bút, viết ba chữ xuống bìa sau tập “Thiên Tai”: Nguyễn-Tất-Nhiên.” (sic)
Đọc tới đây thì tôi thấy ngay một điều gì đó không ổn. Vào khoảng gần cuối năm 1970, lúc tôi đang học lớp Đệ Tam (lớp 10 bây giờ) thì anh Nhiên có xin phép thầy hiệu trưởng mang tập thơ Thiên Tai, với bút hiệu Nguyễn Tất Nhiên hẳn hòi, vào từng lớp để bán vì tập thơ in xong mà tác giả chưa chạy đủ tiền để trả cho nhà in. Chi tiết này cũng được nhà báo Hà Tường Cát, vốn là thầy dạy của chúng tôi tại trường Trung Học Ngô Quyền, kể lại trên một bài viết được đăng báo vài ngày sau khi anh lìa đời. Cũng qua bài “Vài Kỷ Niệm Về Nguyễn Tất Nhiên” (nhật báo Người Việt, số 2481 ngày 8 tháng 8 năm 1992), tôi mới biết thêm là hình bìa tập Thiên Tai do Đinh Cường vẽ chính là “công” của thầy Cát (vì đối với giới học trò làm thơ như chúng tôi lúc đó, có hình bìa Đinh Cường là một điều rất đáng nể, rất “ngầu,” nghĩa là một ấn tượng rất khó quên!). Vì thời cuộc, tập Thiên Tai đến nay hầu như không còn nữa nhưng không hẳn đã tuyệt bản. Nhà thơ Nguyễn Hoàng Nam, em trai của anh Nhiên, đã may mắn còn giữ được một bản và giúp tôi gửi đến độc giả bản sao bìa trước và bìa sau của cuốn thơ này, như một di vật của người quá cố. Nếu vì một lý do nào đó, độc giả không coi được hình bìa thì xin mời vào trang nhà của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Ngô Quyền để tham khảo (
ngo-quyen.org).


Sự thật đã rõ ràng như thế, thì chỉ có một cách để bào chữa cho ông Du Tử Lê là: Rất có thể thời điểm gặp gỡ là một buổi sáng định mệnh nào đó vào cuối năm 1969 hay đầu năm 1970 (chứ không thể nào là cuối năm 1970) và tập thơ mà cậu học trò tên Hải tặng cho nhà thơ Du Tử Lê lúc ấy chỉ là… bản nháp! (Nói là nói cho vui vậy thôi, chứ ai cũng biết, vào thời gian ấy tại Việt Nam, kỹ thuật in ấn dĩ nhiên rất khác xa so với bây giờ.)
Và cũng rõ ràng như thế, thì một câu hỏi phải được đặt ra: Tại sao ông Du Tử Lê lại hạ bút viết như đinh đóng cột về một sự kiện mà ông không nhớ rõ như vậy?
Như tôi đã thưa, đối với tôi việc ai đặt tên không quan trọng. Bên cạnh đó, tôi cũng không để tâm phiền giận những tác giả trong lúc viết bài về Nguyễn Tất Nhiên đã vô tình phóng bút quá đà (tôi từng đọc qua một số bài viết không sát sự thật về nhà thơ yểu mệnh này). Với tôi, viết với một tấm lòng như thế nào mới là điều đáng kể. Mới đây, khi tìm tài liệu trên internet để viết bài này, tôi vừa biết có một Blog viết về một “nguồn gốc” khác của bút hiệu Nguyễn Tất Nhiên. Đó là bài của Trần Thuận Văn đề ngày 3-7-2009, viết trên Blog của chính mình. Là một người bạn cũ thời còn đi học và cùng làm thơ với Hoài Thi Yên Thi/Nguyễn Tất Nhiên, anh viết về những kỷ niệm hồn nhiên cười ra nước mắt của thuở học trò giữa ba người bạn thân thiết, trong đó có một đoạn như sau: “Bắt đầu năm vào học thì Nhiên tâm sự với tôi (Trần Thuận, bút hiệu Trần Thuận Văn) và Lưu (Hồ Văn Lưu, bút hiệu Hồ Triều): “Tau muốn tìm bút hiệu khác, vì tau làm xong tập thơ Thiên Tai này chuẩn bị in.” Tôi và Lưu suy nghĩ rồi góp ý đổi bút hiệu cho Nhiên là Nguyễn Tất Nhiên liền được hắn chấp nhận ngay.” (sic)
Trong lòng không gợn một nghi vấn gì, tôi tiếp nhận những mẩu chuyện buồn vui kể trên với một tâm trạng bùi ngùi vì hai trong ba nhân vật (tôi quen biết cả ba anh) trong lời kể trên đã ra người thiên cổ. Âu cũng là một câu chuyện chung quanh một sự thật mà chỉ có anh Nhiên mới có thể trả lời. Mà anh lại qua đời sớm quá, hay ít nhất là đủ sớm để những huyền thoại về anh cứ thế mà sản sinh.


Thành thật mà nói, trong thời gian chung sống, anh Nhiên đã kể cho tôi biết, trước khi có bút hiệu Nguyễn Tất Nhiên, anh dùng tên Hoài Thi Yên Thi khi ra tập thơ “Dấu Mưa Qua Đất” (1966) và “Nàng Thơ Trong Mắt” (1968). Tôi từng cười ngặt nghẽo về bút danh quá con gái, khác nhau một trời một vực với bút hiệu hiện thời này của anh, và anh cũng vui vẻ công nhận rằng từ lúc anh nghe theo lời khuyên của đàn anh Du Tử Lê đổi bút hiệu thì sự nghiệp thi ca “lên” rõ ràng. Hỏi tại sao là Tất Nhiên thì anh cười ha hả, bảo tất nhiên phải là Tất Nhiên thôi.
Tôi ngờ rằng cái tên Hoài Thi Yên Thi đã để lại một dấu ấn nào đó khó quên trong lòng thi sĩ đàn anh khiến ông không còn sự minh mẫn cần thiết chăng? Bởi vì, nếu tôi nhớ không lầm, trong mớ thư từ giấy má mà anh Nhiên ky cóp mang theo lúc vượt biên và đem ra cho tôi xem, có cả một bức thư của nhà thơ Du Tử Lê “thân gửi Cô Hoài Thi Yên Thi” vì ông lầm tưởng đây là một nhà thơ… nữ. Tiếc là tất cả những thứ giấy tờ nói trên nay không còn nữa. Nhưng, giấy tờ dù mất, ký ức vẫn còn. Cho nên, vì lương tâm đối với một người đã mất không thể tự lên tiếng, tôi mới phải chẳng đặng đừng tiết lộ điều này chỉ vì muốn nói lên một sự thật mà tôi may mắn được thấy qua lá thư ấy (ngoài hai đương sự), rằng ông Du Tử Lê đã liên lạc thư từ với (cô) Hoài Thi Yên Thi từ trước chứ không phải đợi đến buổi sáng ở quán La Pagode ông mới gặp cái tên này lần đầu, như ông đã đặt bút thuật lại như thuật một câu chuyện vừa mới xảy ra.
Vậy thì, tại sao ông Du Tử Lê chọn một sự kiện mà ông không nhớ rõ để viết thành một bài có bố cục hẳn hoi để dẫn dắt người đọc đi từ ngạc nhiên này tới bất ngờ khác, rồi đi đến một bất ngờ gây sốc cuối cùng cho ông mà cũng là cho độc giả, như lối dựng phim Hollywood là “gặp lại Nhiên, với chiếc xe Honda mới” (sic) (ý hẳn ông muốn bảo rằng Nguyễn Tất Nhiên đã đạt được điều mà anh ta đòi, là thưa Phạm Duy để lấy tiền mua xe Honda, vì ban đầu cậu học trò này không có xe)? Thắc mắc này cứ lởn vởn trong óc tôi từ khi đọc xong bài báo ấy. Tôi có cảm tưởng (và mong rằng mình lầm) ông Du Tử Lê muốn trình bày cho mọi người thấy, rằng “trường hợp” Nguyễn Tất Nhiên chẳng qua như thế này đây: một tên tuổi hữu danh vô thực, nhờ vận may mà nổi tiếng (Phạm Duy bắt mạch thị trường, tung ra bài nhạc phổ thơ dựa trên “triết lý nôm na có còn hơn không”) như lời ông viết, “một sớm một chiều, Nguyễn Tất Nhiên nổi tiếng khắp nơi – Như một hiện tượng, chưa từng xảy ra. Ngược hẳn với sự “yên ắng” của các diễn đàn văn học: Không một bài thơ nào của Nhiên, xuất hiện” (sic); và rằng Nguyễn Tất Nhiên trơ trẽn bon chen, sau đó lại vô ơn bạc nghĩa đối với nhạc sĩ Phạm Duy, thẳng tay thưa nhạc sĩ này ra tòa để đòi chia chác tiền bạc khi cần.
Kỹ thuật trình bày điêu luyện của Du Tử Lê cho thấy ông kể lại “trường hợp” Nguyễn Tất Nhiên một cách thật tự nhiên, bởi câu chuyện khởi đi là từ lòng hào hiệp tận tụy giúp đỡ đàn em của chính ông. Tuy nhiên, cũng chính vì kỹ thuật này mà ông quên để một chút tình dành cho kẻ đàn em văn nghệ của mình. Ông kể, qua lời “mắng vốn” của ông xếp Trung Tá Nguyễn Đạt Thịnh, có vẻ như khơi khơi tự nhiên “Nguyễn Tất Nhiên đòi Phạm Duy phải đưa cho Nhiên một triệu đồng. Nhiên cần tiền mua một chiếc xe Honda, đi học” (sic) mà không trình bày nguyên do, hoàn cảnh đẩy đưa khiến câu chuyện “đòi chia bản quyền trở thành ồn ào”.


Tưởng cũng nên nhớ Nguyễn Tất Nhiên sinh năm 1952. Năm tập Thiên Tai ra đời (1970) anh chỉ là một cậu học trò 18 tuổi và năm anh được cây đại thụ Phạm Duy phổ nhạc, tuổi anh mới vừa quá 20, còn trong vòng bảo bọc của gia đình (cũng khá giả), nghĩa là không phải túng thiếu hay ham tiền đến nỗi phải thưa kiện như thế. Điều bận tâm duy nhất của anh lúc đó (và muôn đời) vẫn là thơ và thơ, kèm theo việc muốn cho người ta biết đến tài làm thơ của mình. Theo chỗ tôi được biết, anh (và nhất là cha mẹ anh) rất bực bội khi thấy những bài nhạc được in bán dưới hình thức từng bài lẻ đề tên người sáng tác là Phạm Duy, không hề nhắc tới tên Nguyễn Tất Nhiên. Ngay cả lúc bài Thà Như Giọt Mưa được nhạc sĩ Phạm Duy bán bản quyền cho hãng dĩa Việt Nam để soạn thành ca khúc tân cổ giao duyên (dường như do các nghệ sĩ Chí Tâm và Lệ Thủy trình bày) cũng vậy. Tên tuổi thi sĩ hoàn toàn bị gạt ra ngoài… hư vô. Với tính tình nóng nảy, anh Nhiên tức tối nhưng không làm gì được. Anh chạy đi cầu cứu với giới báo chí thì đúng lúc thiên hạ đang bất mãn dùm cho thi sĩ Linh Phương (được nhạc sĩ Phạm Duy phổ thơ bài Kỷ Vật Cho Em mà không nêu tên tác giả). Cùng với báo Sống của nhà văn Chu Tử, một số báo khác cũng đứng về phía những người làm thơ bị sang đoạt tên tuổi, phát động phong trào đặt lại vấn đề tác quyền cho người làm thơ và gây áp lực với giới nhạc sĩ. Theo lời kể của cha mẹ anh Nhiên, ông Phạm Duy cũng tìm lên nhà anh ở Biên Hòa và gặp họ, nhưng gặp theo kiểu “ghé qua nhà cho biết” chứ không hề đề cập đến vấn đề. Vẫn theo lời ông bà, chờ đợi mãi “một lời phải quấy” nhưng không được đáp ứng, cuối cùng họ mới giao cho một luật sư bà con đứng ra can thiệp và luật sư này đâm đơn kiện một số cơ sở thương mại (như hãng dĩa Việt Nam) đã mua nhạc của ông Phạm Duy. Nội vụ sau đó được điều đình để tránh việc đem ra tòa xét xử hầu cứu vãn thanh thế cho nhạc sĩ này. Bên nguyên cáo bãi nại và nhận một số tiền bồi thường do những nhà thương mại nói trên đứng ra chi trả.


Nhìn qua về chuyện thưa kiện giành lại một phần tác quyền, kể ra bài viết của ông Du Tử Lê không hẳn là sai sự thực, chỉ tiếc rằng ông không (chịu) trình bày toàn cảnh bức tranh sự thực đó mà thôi.
Còn về bề ngoài lôi thôi, cư xử cổ quái, tính tình bừa bãi của anh Nhiên, thì tôi không có ý kiến. Vả lại, những chi tiết này cũng đâu có mới mẻ gì. Chúng đã được nhà báo Hoàng Dược Thảo (người bạn đời lúc đó của ông Du Tử Lê) kể lại với tấm lòng cảm thông khoan thứ qua một bài viết dài rất cảm động, thương tiếc người em văn nghệ tài hoa nhưng bất toàn, bất hạnh của chồng mình. Bài được đăng trên tuần báo Sài Gòn Nhỏ của bà ngay sau khi anh Nhiên qua đời (tháng 8, 1992) và sau đó có đăng lại trên tạp chí Tân Văn (số 3, tháng 10, 2007) dưới tựa đề “Nguyễn Tất Nhiên (1952-1992), Buồn Hơn Trước Nhiều.” (“Buồn hơn trước nhiều” là lời thơ của Nguyễn Tất Nhiên).
Ngoài ra, chuyện trước khi nổi tiếng, Nguyễn Tất Nhiên phải cạy cục bon chen chỗ này chỗ nọ để đăng thơ mà không được toại nguyện, tôi cũng không lấy gì làm thắc mắc. Sự kiện Nguyễn Tất Nhiên có được các ngài ngự sử văn học thời đó thừa nhận hay không, bây giờ điều này không thành vấn đề bởi những phán đoán ấy không làm cho thơ anh hay hơn hay dở hơn, trường tồn hay mất dấu. Tôi còn phải cám ơn ông Du Tử Lê vì khi được đọc những gì thi sĩ này vô tình hé mở đôi chút về không khí văn nghệ đầu thập niên 70 tại Sài Gòn (một không khí nặng phần kỳ thị vùng miền, tỉnh lẻ, thủ đô), tôi mới hiểu hơn và thương cảm những lời thơ tự thán của người chồng cũ của mình:

“Mới ngoài hai mươi mà trầm trọng chứng đau lưng
Bởi luồn cúi mỗi ngày dăm bảy bận!
Đời chẳng khác tay ma đầu biển lận
Keo kiệt từng phần danh lợi sớt chia
Bước ra đường ai cũng đội mão mang hia
Ai cũng cố ngụy trang cũng nặng phần trình diễn!”
(1974, Lần Cuối, trích tập Thơ Nguyễn Tất Nhiên)
Thôi thì tạm gạt bỏ cái nhìn tiêu cực cho rằng ông Du Tử Lê có hậu ý nào đó khi đặt bút, tôi thấy tội nghiệp cho ông vì thế kẹt mà ông tự dấn thân vào.
Một đằng ông muốn bài viết lôi cuốn nên phải chọn lựa, và nếu cần, dàn dựng nên những chi tiết thật đậm nét, thật độc đáo lồng trong một bố cục thật chặt chẽ theo kiểu một truyện ngắn có tính cách hư cấu. Một mặt ông cũng biết rõ rằng nếu viết về một nhân vật có thật, một tên tuổi nhiều người biết tới, thì bài viết lại càng “ăn khách” gấp bội. Tuy nhiên, chọn lựa đề tài này ông chạm phải một điều mà một người cầm bút chân chính có lòng, có lương tâm, rất cần phải cân nhắc, suy nghĩ chín chắn trước khi làm. Đó là viết về một người đã chết.


Tôi từng nghe các cụ ta hay dạy: Nghĩa tử là nghĩa tận. Chết là hết. Trừ trường hợp cùng cực chẳng đã, thường thì người ta tránh nói những điều không hay về một người đã mất cho dù điều đó là sự thật đi nữa. Đằng này ông Du Tử Lê viết về một Nguyễn Tất Nhiên qua đời đã gần 18 năm bằng một bài viết bới tung quá khứ với những hình ảnh phiến diện, chắp vá và, đôi chỗ không đúng sự thật. Tại sao như vậy? Và đau lòng hơn nữa là tại sao ông lại chọn đăng trên một tờ báo Xuân, nơi người ta chờ đợi đọc được những điều đẹp đẽ tốt lành để khởi đầu một năm tinh nguyên trước mặt?
Về vấn đề thưa kiện Phạm Duy của Nguyễn Tất Nhiên, chính cha mẹ anh, vào những năm tháng gần đây, mỗi khi được hỏi đến, họ đều bùi ngùi trả lời: “Thôi, thằng Nhiên nó chết rồi. Hãy để cho nó siêu thoát. Chuyện qua lâu rồi, thôi để cho nó qua đi mà…”
Mười tám năm trước, năm anh vừa chẵn 40, chúng ta đã vô tình ngó lơ để cho con dao định mệnh có dịp ứng vào lời thơ tiên tri thống thiết mà anh làm năm 20 tuổi:
“Ta phải khổ cho đời ta chết trẻ
Phải ê chề cho tóc bạc với thời gian
Phải đau theo từng hớp rượu tàn
Phải khép mắt sớm hơn giờ thiên định!”
(1972, Giữa Trần Gian Tuyệt Vọng, trích tập Thơ Nguyễn Tất Nhiên)


Mười tám năm sau, người chết đã chết, ngàn năm im bặt, mang theo sự thật xuống dưới đáy mồ, tôi không thể cam tâm ngó lơ để cho một lần nữa những lời thơ tiên tri của anh viết năm 21 tuổi lại trở thành linh nghiệm:
“Đời, vốn không nương người thất thế
Thì thôi, ô nhục cũng là danh!”
(1973, Hai Hàng Me Đường Gia Long, trích tập Thơ Nguyễn Tất Nhiên)
Trong bối cảnh “nhiễu nhương” như bây giờ, tôi ngậm ngùi hiểu thêm được một định nghĩa khác của thuật ngữ “thất thế” mà anh dùng. Đó là cái “thất thế” của những Bùi Giáng, Nguyễn Ngu Í, Nguyễn Tất Nhiên, của những con người tài hoa nhưng đầu óc, cách suy tưởng, thái độ ứng xử, không được bình thường. Bất hạnh hơn, Nguyễn Tất Nhiên còn “thất thế” gấp hai lần vì anh vừa bất thường lại vừa mất sớm. Mỗi khi nhắc tới thi hay văn tài của họ, người ta thường kèm theo những giai thoại lạ đời mà người viết có dịp chứng kiến hoặc thậm chí chỉ nghe kể lại. Tệ hơn nữa, có kẻ quá đỗi thường tình, chỉ thích chí khai thác những chuyện tư riêng eo xèo đời mọn của những nhân tài này thay vì thưởng ngoạn những tinh hoa mà họ đã chắt lọc từ phía con người bất toàn kia để cống hiến cho đời.


Nhà thơ Ngu Yên, trong một lần mạn đàm văn học, có dí dỏm ví dòng thơ tài tình của một thi sĩ không khác chi bộ xương của loài khủng long. Vài ngàn năm sau, mọi thứ rã tan tàn lụi, nhờ khai quật được những bộ xương này mà nhân loại biết có một thời kỳ trên mặt đất có loài thú đó. Vậy khi một nhà thơ, nhà văn nào đã qua đời, thì, làm ơn, nếu không vì nhu cầu nghiên cứu tiểu sử để tìm hiểu cặn kẽ về bối cảnh và điều kiện sáng tác của họ, xin đừng khai thác đời tư của họ để phục vụ cho bất kỳ một mục đích nào khác hơn là góp phần cống hiến cho đời ba điều thật đơn giản, nghe rất nhàm tai, nhưng vô cùng cao quý, đó là: Chân, Thiện và Mỹ.

Xin gắng bảo tồn bộ-xương-thi-ca-tinh- túy của họ để thế hệ mai sau biết được, có một thời, cuộc sống nhân loại cũng văn minh, dù ở mấy ngàn năm trước./-

Nguyễn Thị Minh Thủy
Westminster, cuối tháng Giêng, 2010

Friday, January 29, 2010

Thông Cáo Báo Chí
Dân Biểu Loretta Sanchez
Địa Hạt Liên Bang 47th, California

www.house.gov/ sanchez

XIN PHỔ BIẾN GẤP
Mọi Chi Tiết Xin Liên Lạc: Caroline Hogan
Ngày 28 tháng 1, 2010 714-621-0102
Lilly Ngọc Hiếu Nguyễn
714-621-0102
Sau giờ làm việc: 202-306-1440
DÂN BIỂU LORETTA SANCHEZ, THƯỢNG NGHỊ SĨ BARBARA BOXER, DÂN BIỂU LOFGRENLÊN ÁN VIỆT NAM ĐÃ GIAM GIỮ CÁC NHÀ DÂN CHỦ TẠI VIỆT NAM

Các vị Dân Cử Liên Bang Kêu Gọi Chủ tịch Việt Nam trả tự do cho các nhà bất đồng chính kiến và tôn trọng nhân quyền

WASHINGTON, D.C. – Vào ngày 28 tháng Giêng, 2010, Dân biểu liên bang Loretta Sanchez, Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ Barbara Boxer, và dân biểu Zoe Logren đã gửi một lá thư đúng lúc đến Chủ tịch Việt Nam, Nguyễn Minh Triết, yêu cầu nhà cầm quyền Việt Nam trả tự do và hũy bỏ tất cả các cáo trạng đối với nhà văn Trần Khải Thanh Thủy và cô Phạm Thanh Nghiên. Cả hai nhà dân chủ đang đối đầu với những tội danh chống phá nhà nước vì đã lên tiếng kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam tôn trọng các nhân quyền căn bản và có thể sẽ bị kết án tù trong những ngày sắp tới.

“Hôm nay, phái đoàn dân cử liên bang kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam hãy tôn trọng các quyền tự do ngôn luận, tự do biểu đạt tư tưởng và trả tự do cho hai nhà đấu tranh dân chủ đã bị tù đầy trong nhiều tháng vừa qua,” Dân biểu Sanchez nói. “Nhà cầm quyền Việt Nam sẽ không bao giờ được cộng đồng quốc tế, kể cả người dân Việt Nam tôn trọng nếu họ không cải thiện tình trạng nhân quyền của họ. Chúng tôi đang tạo cho họ một cơ hội để làm điều đó, và tự họ phải hũy bỏ các cáo trạng vô lý đối với cô Phạm Thanh Nghiên, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy và tất cả các nhà bất đồng chính kiến khác.”

Dưới đây là lá thư đã được gửi đi ngày hôm nay:
His Excellency Nguyen Minh Triet
President of the Socialist Republic of Vietnam
c/o Embassy of the Socialist Republic of Vietnam
1233 20 Street NW, Suite 400
Washington, DC 20036

Dear President Triet:

We are writing to convey our serious concern regarding the detention and upcoming trials of Ms. Pham Thanh Nghien and Ms. Tran Khai Thanh Thuy, two prominent human rights activists. We request that the Vietnamese government act in a manner consistent with its own legal obligations and international law, and release these individuals immediately and without prejudice.

Based on information from the U.S. Department of State and international human rights organizations, it appears that the charges against Ms. Pham Thanh Nghien and Ms. Tran Khai Thanh Thuy are seriously flawed. Both women have consistently championed human rights in Vietnam, including freedom of expression and association. For those activities, they are now facing possible prison sentences.

Our understanding is that Ms. Pham Thanh Nghien is scheduled to go on trial this Friday, January 29, 2010 for “propagandizing against the state.” She was reportedly arrested by Vietnamese security officials in September 2008 and we have been told that her family has not been allowed to visit her in prison since her arrest.

We understand that writer and activist Ms. Tran Khai Thanh Thuy, who attempted to attend the trials of other democracy activists, is facing trial on February 5, 2010. She has reportedly had no contact with her family since her detention in October 2009. In addition, there has been no confirmation that medications supplied to the police to treat her diabetes and tuberculosis have been delivered.

According to the Constitution of the Socialist Republic of Vietnam and the International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR), to which Vietnam is a party, all citizens enjoy freedom of opinion, freedom of speech, freedom of religion and the right of association. Both your Constitution and the ICCPR also guarantee criminal defendants the presumption of innocence, the right to present a defense and the right to counsel. The imminent trials of Ms. Pham Thanh Nghien and Ms. Tran Khai Thanh Thuy appear to starkly contradict these principles.

We therefore respectfully request that the Vietnamese government immediately and unconditionally release Ms. Pham Thanh Nghien and Ms. Tran Khai Thanh Thuy and that while in detention, authorities take all measures to guarantee their physical and psychological security and well being, including access to medication and independent medical assistance and visits from family and friends.

Universal rights must be upheld for all people. It is time for Vietnam to allow its citizens to fully exercise the internationally recognized rights of freedom of assembly, expression, association and religion without fear of retribution from their government.

We thank you in advance for your assistance with this important and time sensitive matter.

# # #
Lilly Ngoc Hieu Nguyen
Field Representative
Office of Congresswoman Loretta Sanchez
12397 Lewis Street, Suite 101
Garden Grove, CA 92840
714-621-0102 (O)
714-621-0401 (F)
lilly.nguyen@ mail.house. gov
Subscribe to our email newsletter:
http://www.lorettas anchez.house. gov/forms/ newsletter. html

VC THẨM VẤN GS. NGUYỄN HUỆ CHI MỖI NGÀY

Tin Hà Nội - Theo hãng tin DPA của Ðức công an thẩm vấn giáo sư Nguyễn Huệ Chi, người chủ trương mạng Bauxite Việt Nam. Giáo sư Chi cho biết kể từ ngày 13 tháng giêng ông đã bị thẩm vấn mỗi ngày. Công an cũng đã khám xét nhà ông và tịch thu máy vi tính. Một sĩ quan Cục A-24 thuộc Bộ Công An Cộng sản Việt Nam đã xác nhận việc thẩm vấn giáo sư Chi. Theo lời nhà giáo Phạm Toàn, một trong ba người khởi xướng trang Bauxite Việt Nam, cuộc thẩm vấn của công an là nhằm thuyết phục giáo sư Nguyễn Huệ Chi đóng trang Bauxite Việt Nam. Ông cho biết là công an cố tìm ra bằng cớ cho thấy những người đóng góp bài vở cho trang thông tin này là có những hoạt động chính trị. Một số nhà trí thức ở Hà Nội đã cảnh báo là giáo sư Chi có thể bị bắt trong những ngày tới, nhưng bản thân ông cho rằng chuyện này không thể xảy ra.

Hãng tin DPA nhắc lại rằng khám xét nhà và tịch thu máy tính thường là việc mà công an thường hay làm khi điều tra về những nhà hoạt động chính trị. Ra đời từ bản kiến nghị yêu cầu dừng các dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên, trang Bauxite Việt Nam đã nhanh chóng trở thành diẽn đàn để giới trí thức trong nước đề cập đến những chủ đề nhạy cảm ở Việt Nam. Cách đây khoảng hai tháng, trang thông tin này đã bị tin tặc không biết từ đâu đánh sập nhiều lần. Một trong những người tham gia tích cực vào trang Bauxite Việt Nam là tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ gần đây cũng gặp rắc rối.

Hôm qua Hà Nội đã huy động một lực lượng gồm cả công an và dân phòng đến đập phá một tường rào của nhà ông Cù Huy Hà Vũ. Ông đã viết đơn tố cáo khẩn cấp gởi chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết và Tổng Bí thư Ðảng Nông Ðức Mạnh. Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ là người vào tháng 6 năm ngoái đã đệ đơn kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về quyết định khai thác
Posted on 28 Jan 2010


TNS. JIM WEBB LÊN ÁN VC KẾT ÁN TÙ BỐN NHÀ BẤT ÐỒNG CHÍNH KIẾN

Tin Hoa Thịnh Ðốn
- Chủ tịch tiểu ban châu Á của Uỷ ban Ngoại giao Thượng viện Hoa Kỳ, coi việc nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam xử bốn nhà bất đồng chính kiến từ 5 đến 16 năm trong tuần qua là thể hiện áp lực ngày càng tăng tại châu Á theo hướng kiểm duyệt của chính quyền. Bốn nhà bất đồng chính kiến gồm luật sư Lê Công Ðịnh, Thạc sĩ Nguyễn Tiến Trung, nhà doanh nghiệp Trần Huỳnh Duy Thức và ông Lê Thăng Long đã bị kết án từ 5 đến 16 năm tù phiên xử ngày 20 tháng giêng vừa qua với tội danh hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Tuyên bố hôm qua tại thủ đô Washington, ông Jim Webb chủ tịch tiểu ban châu Á của Uỷ ban Ngoại giao Thượng viện nói vụ bắt giữ và xét xử những người nói trên cho thấy áp lực ngày càng tăng tại châu Á theo hướng kiểm duyệt của nhà cầm quyền và kiểm soát độc đoán.

Nhưng thay vì cô lập Việt Nam, ông Jim Webb kêu gọi chính quyền Tổng thống Obama tiếp tục nêu vấn đề các quyền tự do và Nhà nước pháp quyền với Hà Nội. Thượng nghị sĩ đảng Dân Chủ Jim Webb nguyên là sĩ quan thủy quân lục chiến và là một nhà báo nói rành tiếng Việt, vẫn là nhân vật chủ trương Hoa Kỳ đối thoại với những quốc gia phi dân chủ ở châu Á.(SBTN)
Posted on 28 Jan 2010

Bấm chữ "Older Posts" trên đây để xem tiếp .... Dưới Là Bài Cũ Theo Từng Tháng.

 
*** Nếu Thích QUẢNG BA, Thích Phước Tấn bất chấp dư luận can ngăn mà về VN tham dự Phât Đản do Việt Cộng tổ chức tại Hà Nội vào tháng 5/2008. Thì đương nhiên 2 Cộng Sư nầy đã đứng ra khiêu khích và tuyên chiến với cả Cộng Đồng Tự Do Hải Ngoại chúng ta ...