BÌNH DƯƠNG và NHỮNG NƠI CHỐN KHÓ QUÊN.
Thu Lâm
Lúc còn nhỏ, thế giới của tôi là mấy ao rau muống trước nhà cùng cái "phông - tên" nước trước nhà ông bà Phán Thấy ở xóm Hủ Tiếu Cây Dừa. Tôi thích đi dọc bờ ruộng rau muống để bắt các con bọ rùa, cá, và tôm tép. Tối lại tôi thường theo chị hai tôi ra phông tên nước công cộng ngồi nghe hùn chuyện ma. Trời tối và ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn đường khiến tôi càng thêm sợ hãi. Sau đó dọn nhà lên chợ, tôi thích đi vòng công viên trước nhà nhìn hoa kiểng do Ty Canh Nông chăm sóc và trồng trọt.
Đẹp thì đẹp thật nhưng lại thiếu tính chất huyền bí linh hoạt của cây cảnh thiên nhiên, do đó tôi thích đến nhà bạn sau bữa ăn trưa và trước giờ học buổi chiều - hồi đó ngày học hai buổi - thích nhất là đi đến xóm chùa Đức Sơn, đến nhà cô giáo dạy lớp tư, cô Tố, để được cô cho đi dạo trong vườn tìm mận, khế, mừng quân. Khi không có trái cây cũng được cô cho bánh tráng nhai cho đỡ buồn miệng. Rồi cô gọi xe ngựa để thầy trò cùng đến trường. Khi lập gia đình, quê chồng tôi ở Bến Thế và Tương Bình Hiệp. Tôi di chuyển từ Phước Tuy về Bình Dương và năm đầu ở tỉnh tôi dạy ở Bến Thế. Cứ lên xe từ nhà đến Bến Thế là tôi say mê nhìn hai bên đường nhất là khi xe đến Suối Giữa. Ruộng lúa mênh mông xanh rì. Thỉnh thoảng dọc bờ ruộng có một dòng suối con với các cây dại , nhiều nhất là cây dứa gai. Xa xa sau các ruộng lúa là nhà lẫn trong cây cối um tùm. Tôi thường bâng khuâng không biết sau đó nữa là gì. Hồi nhỏ tôi thường nghĩ sau đó không còn gì nữa, mà là khỏang trống không, là chân trời ... Qua Suối Giữa một đoạn ngắn, xe rẻ vào đường đất.
Bây giờ thì một bên là ruộng, một bên là nhà cửa, cây cối. Lòng trẻ thơ của tôi bổng sống dậy, tôi mong ước được xuống xe lội xuống ruộng để xem có cá bảy trào hoặc bèo và lục bình không. Xe đến lò lu, lò đường. Nơi nào đối với tôi đều là một kỳ quan. Con gái của bạn tôi có lần nói với tôi: "Bác dễ xúc động khi thấy bất luận thứ gì." { Nguyên văn: "You are so easily gotten amazed at everything you see"}. Tôi nghĩ đây là một đặc ân mà Thượng Đế đã ban riêng cho tôi. Do tính nhạy cảm nầy mà tôi rất dễ tìm thấy hạnh phúc và dễ quên đi ưu phiền. Trở lại Bến Thế và Trường Tiểu Học Tân An Xã. Tên "trong giấy tờ" là Tân An Xã, nhưng dân địa phương thích gọi đó là Bến Thế hay Bến "Khế" cũng vậy. Bà con gốc Bến Thế, xin đừng giận tôi. Khi tôi học ở Sài Gòn cũng đã bị bà chủ nhà trọ chọc tôi là dân ở "Khủ'. Cũng xin nói nhỏ và nói lạc đề, dân Tương Bình Hiệp gọi củ tỏi là "củ toả'. Vị trí trường thật là lý tưởng đối với tôi. Phía sau trường là vườn đình với một rừng cây cổ thụ. Ngày hôm sau lớp tôi có giờ học ngoàiụ trời vào giờ tập đọc. Đây là một việc mới đối với các em học sinh, do đó thỉnh thoảng tôi phải hò hét để giữ trật tự. Vườn đình Bến Thế, người ta gọi như thế, thật đẹp, thật mát và u tịch nữa.
Do đó mà trong vài tuồng cải lương, các đoàn hát đã mượn để làm bối cảnh quay phim. Nhà ông nội chồng tôi, ông Hội Đồng Chứa, cũng đã được mượn quay phim do lối kiến trúc và trang trí theo lối xưa - bàn thờ ở một bậc cao hơn bàn cho khách ngồi cùng với các câu đối, liểng, sơn son thếp vàng. Quê ngoại của chồng tôi ở Chợ Cũ, Tương Bình Hiệp, nên tôi cũng có nhiều dịp về vào các dịp giỗ Tết, hoặc chỉ về đểâ ... ăn trái cây. Nếu đi xe lam thì khách phải xuống xe ở chợ. Tại đây có một cái sạp như một cái chợ nhỏ với đầy đủ thịt cá rau cải... Nếu đi xe ngựa thì được đưa đi một đoạn đường nữa, và rồi chúng tôi đi bộ vào nhà người cậu. Tôi thích đi chầm chậm để nhìn các cây cối hai bên đường, các bụi nhãn lồng và các cây hoa trang rừng. Lúc đi ngang qua nhà cô Hai Nghĩa, má chồng tôi giới thiệu như vậy, tôi nhìn vườn chôm chôm Java mê mệt. Trước khi đến nhà chúng tôi lại lội trên bờ đê, lúa xanh mướt như tấm thảm nhung, lòng tôi thấy phơi phới lạ thường. Đến nhà cậu, chúng tôi được phép ra vườn khám phá. Cậu chồng tôi thủ cựu, thích giữ kỷ niệm của ông bà nên chưa chịu đổi cây chôm chôm trong vườn thành cây Java bán được nhiều tiền hơn. Thật ra thấy cũng tiếc vì mấy cây chôm chôm son, vỏ đỏ như tên, ngọt lịm, cơm dầy và nước thật nhiều mặc dù không tróc. Vườn có mấy cây chôm chôm tróc, ngọt hơn cả chôm chôm Java nhưng vì trái nhỏ nên phải bán từng trăm. Một trăm là 130 trái. Mợ tôi bó rất khéo và gọn.
Trong vườn cũng có một vài cây sầu riêng. Hôm đó, chúng tôi may mắn lượm được một trái có lẽ rụng tối hôm qua. Chúng tôi ngồi xuống khui ăn tại chỗ khiến thằng bé cháu nội cậu tôi nhìn chăm chăm băn khoăn không hiểu sao mấy ngươiụ nầy không đem vào nhà cho bà nội. Trong vườn còn có chanh, ổi, khế, nhãn ... Tôi nghĩ là tôi có thể sống ở đây được nhưng khi nghĩ đến lúc trời tối lại, xung quanh vắng vẻ tối om, với ngọn đèn dầu leo lét, chắc tôi không chịu nổi. Bên hông nhà là một mội nước thiên nhiên. Cậu tôi xây một bể vuông có bờ cao khoảng bốn tấc, mình chỉ cần ngồi bên cạnh, cầm gáo múc nước thật là dễ dàng. Nước trong, mát và ngọt ngào, uống ngon mà không cần nghĩ đến vô số vi khuẩn trong đó. Nhiều năm đã trôi qua, thấm thoát tôi rời quê hương đã gần 20 năm. tôi cứ tương tư những nơi đó, lúc nào cũng mơ ước được về thăm lại hai nơi nầy một lần. tôi cũng nhớ Bến Súc, tên trong "giấy tờ" là Thanh Tuyền. Thật ra tôi không biết gì nhiều về nơi nầy vì tôi chỉ ở đó có một tuần lễ trong năm 1956 khi tôi dạy ở đó trước khi đậu vào Trường Sư Phạm Quốc Gia. Tôi ở trọ nhà một cô y tá gần bên trường. Tôi thích ngồi trước nhà nhìn qua bên kia đường. Đó là một khu rừng có vẻ kỳ bí rùng rợn. Dân địa phương bảo là tối lại heo rừng thường về đào phá khoai sắn. Ở đây tôi có một kỷ niệm khó quên.
Tôi vào dạy lớp nhì nửa chừng nên chưa biết học trò. Giờ tập đọc, tôi giở sổ điểm gọi học sinh đọc... Khi em học sinh đứng lên tôi giựt mình sửng sốt. Nó cao và lớn hơn tôi rất nhiều. Hôm sau nó vắng mặt. Một giáo viên nói với tôi là cậu ta nghỉ học luôn. Nó nói: " Tôi như vầy mà cổ gọi tôi là "em"". Tôi rất thấp và còn quá trẻ, 18 tuổi. Tôi cười và nói :"Thầy cứ bảo nó đi học lại đi, đừng vì tôi mà học hành dở dang". Thật ra tôi cũng không hiểu ai già hơn. Vì thời bấy giờ trẻ ở nhà quê đi học không đều vì họ phải ở nhà phụ với cha mẹ trong việc đồng áng. Cuối tuần đó, tôi hí hửng mua củi trên đường về nhà, lòng vui vẻ lạ thường vì chắc là má tôi sẽ rất hoan nghinh. Hôm đó ba tôi ở Sài Gòn về, ông bắt tôi xin nghỉ dạy vì bấy giờ tình hình ở Bến Súc đã bắt đầu bất an. Ở đó một tuần, tôi chỉ đi thẳng một đường từ nhà trọ đến trường và sau đó từ nhà ra chợ lên xe về, nên không biết gì về Bến Súc. Nghe đâu ở đó có một con suối rất thơ mộng như tên. Tuy nhiên tôi không sao quên được ngôi nhà tranh ở trọ và ngôi trường mái tranh nền đất. Có dịp về quê, chắc tôi phải đi thăm Bến Súc một lần và có lẽ sẽ thất vọng vì không nhận được gì quen thuộc cả. Có ai về được quê hương lần thứ hai đâu !
Và Trường Trung Học Nông Lâm Súc ở Búng (An Thạnh) nữa. Tôi dạy ở đó bốn năm từ 1970 đến 1974. Trường toạ lạc giữa các ruộng lúa. Có hôm đứng trong lớp trên tầng lầu nhìn đồng lúa chín, lòng tôi cảm thấy nhẹ nhàng quên hết các ưu tư. Có lần một đàn chim két xanh đáp xuống cá ruộng lúa. Tôi nhìn đàn két say mê quên là các chủ ruộng phải chịu thiệt thòi. Đến chết chắc tôi không bỏ tính vô tư nầy ... Các học sinh tôi thường đi bộ vào xóm trường Nữ Trịnh hoài Đức đểũ mua và đích thân nhổ sắn. Củ sắn mới đào tươi rất dòn nhưng ăn không ngọt bằng để lại vài ngày sau hãy ăn. Ở đây tôi gần gũi các em học sinh hơn cả ở Trường Nữõ Châu Thành là trường tôi dạy lâu nhất. Học trò trung học đã lớn, dạn dĩ hơn học trò tiểu học nên thầy trò thường hàn huyên hơn. Có em kể cả chuyện tình của mình cho tôi nghe.
Nhiều năm đã trôi qua. Tôi xa quê lúc nào cũng thương nhớ quê cũ. Nhớ Việt Nam, nhớ Bình Dương, nhưng nhớ nhất là đường về Tương Bình Hiệp, Bến Thế cây cao bóng mát, nhớ Suối Giữa thơ mộng. Tôi cũng không quên dòng sông Sài Gòn êm đềm mà cũng rất rộn rịp vào buổi sáng khi chợ nhóm.
Nhớ các em học sinh nay đã trưởng thành, có đứa chắc đã lên chức ông bà nội ngoại. Nhớ bà con, người lối xóm, bạn bè, bạn đồng nghiệp. Nhớ từng ngọn rau tấc đất. Có lẽ tôi sẽ hát khúc trường tương tư trọn đời./-
(4/2002)
Friday, February 26, 2010
Chiến lược "Hoa đào 5 cánh" của VIỆT CỘNG.
Nguyễn Ðạt Thịnh
Trong cuộc hội thảo về văn hoá Việt Nam tổ chức tại Hà Nội, ông Phạm Sanh Châu, nguyên đại sứ Việt Cộng tại UNESCO, hiện là Vụ trưởng Vụ Văn hóa đối ngoại, nói:
“… về chức năng của ngoại giao văn hóa thì trong năm 2009 đã được công nhận là năm ngoại giao văn hóa của Bộ ngoại giao và của Đảng nhà nước nói chung. Chúng tôi đã hoàn thành chiến lược ‘bông hoa đào 5 cánh’ thực hiện đúng 5 chức năng của ngoại giao văn hóa.”
Trên tiêu đề bài báo và trong câu nói vừa trích dẫn, tôi giữ nguyên văn chữ nghĩa của ông nguyên đại sứ Việt Cộng tại UNESCO, và đương kim vụ trưởng “văn hoá đối ngoại” để đùa với ông Châu là đóa “bông hoa đào” của ông thừa một chữ, gẫy một cánh, và không có nhụy.
Chữ thừa là chữ “bông”, và cánh của nụ đào “ngoại giao văn hoá” bị gẫy là cánh hoa thứ nhất mà ông mô tả:
“Chức năng thứ nhất là dùng văn hóa để khai thông, mở đường các mối quan hệ. Giống như tất cả chúng ta khi vào cuộc gặp nhau phải chào hỏi thời tiết hôm nay, ngoài kia chiếu phim gì chứ không thể nói ngay hợp đồng năm nay là hợp đồng gì, tỉ lệ(?) phần trăm bao nhiêu... Trong ngoại giao văn hóa cũng như vậy, nó có chức năng mở đường.
Vừa rồi chúng tôi làm chương trình mở đường với Myanmar, hay chương trình Miss Việt Nam ở San Francisco, nơi có những lực lượng không thuận lắm với VN với mong muốn dùng văn hóa thì con đường đi sẽ dễ hơn...”
Thì ra ông đã đem một cánh của “bông ‘hoa’ ngoại giao văn hoá” đến San Francisco, với chương trình “Miss Việt Nam” và cánh hoa đó đã bị “những lực lượng không thuận lắm” với Việt Cộng bẻ gẫy.
Tôi muốn mách để ông biết, nếu ông và bọn boss của ông hiểu cái khác biệt giữa những chữ ông dùng (những lực lượng không thuận lắm với VN) và những chữ tôi dùng (những lực lượng không thuận lắm với Việt Cộng) thì cuộc vận động của ông đã không mang danh xưng “ngoại giao văn hoá” và đã có căn bản thực tế hơn.
Tôi còn muốn mách ông thêm là “những lực lượng không thuận lắm”, không chỉ hiện diện tại San Francisco thôi mà họ có mặt khắp nơi trên thế giới; ông có thể hỏi bọn lãnh tụ Việt Cộng về kinh nghiệm hãi hùng của chúng trong những chuyến chúng xuất ngoại và phải đối diện với người Việt hải ngoại.
Tôi còn muốn ông biết về nguyên nhân khiến người Việt hải ngoại San Francisco bẻ gẫy cánh hoa đào Miss Việt Nam của ông: họ không thích đòn phép, mầu mè của ông, họ muốn gặp ông và đồng đảng của ông trên mảnh đất “sự thật” chứ không môi miếng chào đón như ông mô tả.
Nói cách khác, đến San Francisco ông không cần đem “cô Việt Nam” ra chào hàng, mà chỉ cần loan báo với họ là kể từ hôm nay Việt Cộng cho tầu “cảnh sát biển” ra Biển Ðông bảo vệ ngư trường Việt Nam, bắt giam ngư dân Tầu xâm phạm ngư trường Việt Nam, như tầu Ngư Chính của Tầu đã bắt giam ngư dân Việt Nam, dù họ chỉ đánh cá trong ngư trường Việt Nam.
Chỉ cần loan báo bản tin ngắn đó thôi là lập tức ông sẽ bị phóng viên Việt Nam vây kín để hỏi thêm chi tiết, vì họ khao khát nghe loại tin mà họ ngày đêm cầu mong sẽ đến. Là vụ trưởng văn hoá ngoại giao, ông cần hiểu chúng tôi quan niệm như thế nào về văn hoá của chúng ta.
Ông Phạm Sanh Châu
Trong bài báo ngắn này tôi không phân tách được từng chi tiết của 5 cánh “ ‘bông hoa’ văn hoá ngoại giao” của ông Châu, mà chỉ vắn tắt trao đổi quan điểm với ông về chủ điểm: văn hóa Việt Nam là gì? Ðịnh nghĩa đúng hai chữ văn hoá là tìm được cái nhụy của đóa hoa ông Châu đề cập đến.
Ông không hiểu chữ “văn hoá” khi ông coi văn hoá là việc trinh diễn văn công tại San Francisco, việc giới thiệu danh lam thắng cảnh Việt Nam với du khách ngoại quốc, việc tổ chức festival Việt - Nhật, lễ hội hoa anh đào, hay việc quảng bá hình ảnh VN, việc trình bầy ca trù, hát quan họ Bắc Ninh, giới thiệu bãi biển đẹp, hoặc ca tụng chuyến thăm VN của nữ hoàng Đan Mạch là thú vị.
Ðịnh nghĩa văn hoá là việc làm khá phức tạp, nhất là đối với ông Sanh Châu, người đang ngộ nhận về văn hoá. Nhưng vì ông đã từng làm đại sứ Việt Cộng tại cơ quan văn hoá Liên Hiệp Quốc UNESCO, tôi đề nghị ông chấp nhận câu định nghĩa của UNESCO về văn hoá:
“Văn hóa nên được hiểu như một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và ngoài văn học và nghệ thuật, văn hoá còn chứa đựng cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin.”
Cách sống tự lập, vươn lên và yêu quê hương của người Việt hải ngoại là văn hóa Việt Nam, xúc động căm phẫn của ngư dân Việt Nam đối với những biển lận và áp bức của người Tầu ngoài Biển Ðông là văn hoá Việt Nam, can đảm và hy sinh của những chiến sĩ tự do đang chấp nhận chết rục trong ngục tù Việt Cộng là văn hoá Việt Nam
Tìm hiểu chu đáo về “cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin.”của người dân Việt Nam quốc nội và hải ngoại ông Sanh Châu sẽ thấy văn hóa Việt Nam không liên quan gì đến công tác Kiều Vận và vận động người ngoại quốc đến Việt Nam du lịch,” công tác mà ông đang phụ trách./-
Nguyễn Ðạt Thịnh
THÔNG BÁO & THƯ MỜI HỌP KHẨN CỦA CĐNVTD-VIC
V/v: Trang Trải Án Phí Cho Trạng Sư và Luật Sư Ra Tòa Trung Thẩm.
Kính thưa:
- Quý vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo,
- Quý vị đại diện các hội đoàn đoàn thể,
- Quý vị đại diện các cơ quan truyền thông báo chí,
- Toàn thể đồng hương CÐNVTD-Victoria.
Vào ngày 10-3-2010 sắp tới đây tòa Trung Thẩm sẽ xét xử: vụ một cá nhân trong cộng đồng đệ đơn kiện ông Chủ Tịch CÐNVTD-VIC Nguyễn Thế Phong (nhiệm kỳ 2007-2009) tại tòa Trung Thẩm Victoria (County Court) với lời cáo buộc rằng trong phiên họp ngày 15-3-2009 ông Chủ tịch CÐNVTD-VIC đã tuyên bố cá nhân này là cộng sản và đánh phá cộng đồng.
Ngày 25-2-2010, ban chấp hành CĐNVTD-VIC đã được luật sư Cộng Đồng cho biết số tiền cho đợt đầu của vụ kiện này là $40,000 Úc Kim và số tiền này cần được đóng vào “Trust Account” của luật sư trước ngày 10-3-2010.
Với số tiền to lớn này ban chấp hành CĐNVTD-VIC không có khả năng để trang trải, nhưng nếu chúng ta không có số tiền này thì Trạng Sư của chúng ta sẽ không ra tòa và chúng ta sẽ bị mất đi cơ hội chứng minh trước những lời cáo buộc của nguyên đơn trong phiên tòa này. Vì lý do trên chúng tôi kêu gọi một phiên họp khẩn và kính mời toàn thể quý vị xin dành chút thời giờ quý báu đến tham dự phiên họp quan trọng này.
Ngày: Thứ Bảy, 6-3-2010.
Giờ: 4:00 chiều.
Địa Điểm: Văn Phòng Cộng Đồng số 214 Nicholson st, Footscray 3011
Trân trọng kính mời.
TM. BCH-CÐNVTD-VIC
Nguyễn Văn Bon
Chủ tịch.
25 – 02- 2010.
CUỘC ĐUA QUYẾT LIỆT GIỮA MỸ VÀ TẦU TẠI VIỆT NAM
LÝ ĐẠI NGUYÊN
Từ đầu năm nay, cuộc bang giao thuận thảo giữa Hoakỳ và Trungcộng bắt đầu rẽ sang khúc ngoặt mới đầy sóng gió. Từ việc chính quyền Mỹ, Obama chính thức ủng hộ quyết định của tập đoàn Google, ngày 12/01/2010. lên án tin tặc của Trungcộng tấn công vào những tài khoản Gmail của các nhà hoạt động nhân quyền ở Trungcộng, và Google để dọa ‘chấm dứt hoạt động tại Trungcộng’. Qua việc chính phủ Mỹ quyết định tái tục bán vũ khí cho Đàiloan. Ngày 30/01/2010, bộ Ngoại Giao Mỹ ra thông báo: “Việc bán vũ khí sẽ góp phần cho an ninh và ổn định giữa Đàiloan và Trungquốc”. Bắckinh lập tức phản pháo: “Sẽ ngưng trao đổi quốc phòng với Washington, xem xét lại việc hợp tác trên nhiều lãnh vực quan trọng, và cấm vận các công ty vũ khí của Mỹ”. Đến việc tổng thống Mỹ, Barack Obama tiếp Đức Đạt Lai Lại Ma lãnh tụ tinh thần Tây Tạng tại Toà Bạch Ốc, ngày 18/02/2010. Mặc dù trước đó giới chức Trungcộng đã cảnh báo tổng thống Mỹ rằng: “Nếu ông gặp Đalai Lama thì sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền tảng chính trị của quan hệ giữa Trungquốc và Hoakỳ”.
Bắckinh tỏ thái độ hết sức phẫn nộ về việc Mỹ bán vũ khí cho Đàiloan và tổng thống Mỹ chính thức tiếp Lãnh Tụ Tinh Thần Quốc Dân Tây Tạng, họ xem đó là Mỹ trắng trợn can thiệp vào nội bộ của họ. Ngày 23/02/10, phát ngôn viên bộ Ngoaị Giao Trungcộng, Tần Cương tái khẳng định rằng: “Các biện pháp trừng phạt những công ty Mỹ sẽ được xúc tiến, vì vụ Hoakỳ bán vũ khí cho Đàiloan. Ngoài ra Trungquốc còn tức giận về các lập trường với một số vấn đề, trong đó có thương mại, nhân quyền và các cáo buộc tin tặc của Trungquốc nhằm vào các tổ chức của Hoakỳ”. Trong khi, Hoakỳ, Liên Âu, và Nga đang cứu xét việc áp đặt biện pháp chế tài mới lên Iran, vì chương trình hạt nhân của họ thì Trungcộng đã phản đối các biện pháp chế tài đó. Tần Cương nói: “Bắckinh, một đồng minh thân cận của Iran với các quyền lợi dầu khí tại nước này. Đã ghi chú về báo cáo của Cơ Quan Nguyên Tử Năng Quốc Tế nói rằng Tehran có thể đang chế tạo một đầu đạn hạt nhân”. Tuy nhiên, Tần Cương vẫn cho rằng: “Trungquốc, một trong 5 nước có quyền phủ quyết trong Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, hy vọng vấn đề hạt nhân của Iran sẽ được giải quyết qua đường lối ngoại giao”.
Nghĩa là trên chính trường quốc tế, Trungcộng đã khẳng định vị thế “Đối Lập Chính Trị” với Hoakỳ. Liên Âu và Nga trong vấn đề nguyên tử của Iran. Từ đó chỉ còn một bước nhỏ là rơi vào vị thế “Đối Trọng Chiến Lược” với Liên Minh Dân Chủ trên toàn cầu. Tuy nhiên phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao TrungCộng, Mã Tiêu Húc đã lên tiếng bác bỏ lập luận của một ký giả cho rằng: Đường lối cứng rắn của Trungquốc trên trường quốc tế có thể phản ánh mưu tính đảm nhận vai trò lãnh đạo nhiều hơn trong các vấn đề thế giới. Ông Húc nói: “Trungquốc không hề tìm cách đóng vai trò lãnh đạo thế giới, hiện tại hay trong tương lai cũng vậy”… “Trungquốc không muốn can thiệp vào các vấn đề nội bộ của nước khác, và cũng không cho phép nước nào phá hoại an ninh và toàn vẹn lãnh thổ của mình”.
Thế nhưng trong thực tế phũ phàng bỉ ổi thì Trungcộng đang ráo riết thao túng nội bộ của Cộngđảng, nhà cầm quyền Hànội và đe dọa phá hoại an ninh và toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải, tài nguyên, thị trường, và văn hóa của Việtnam. Mặc cho uất khí ngất trời, rợp đất của toàn dân, toàn quân và những đảng viên cộng sản còn lương tri và tình tự dân tộc, trước cuộc tàm thực xâm lăng toàn diện của Trungcộng. Bắckinh vẫn ngang nhiên ra lệnh cho nhóm tay sai Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng, Tô Huy Rứa, Nguyễn Chí Vịnh… và bọn côn đồ Công An lưu manh, công khai đánh phá các Tôn Giáo, tiếp tục đàn áp Dân Oan, khóa miệng Truyền Thông, dùng tòa án phi pháp để kết án những người đòi Tự Do Dân Chủ. Chúng không cần che dấu chủ trương “Đồng Hóa Việtnam vào với Trunghoa”. Giữa ngày Tết Canh Dần linh thiêng của dân tộc, chúng bắt dân ta phải hát lên bài ca mất nước: “Việtnam Trunghoa, núi liền núi, sông liền sông, chung một biển Đông với tình hữu nghị sáng như rạng đông…Chung một ý, chung một lòng, đường ta đi hồng màu cờ thắng lợi. Nhân dân ta ca muôn năm Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông”… Thôi hết rồi! Bớ, Tô Huy Rứa! Bớ, Cộng Đảng! Còn đâu nữa Dân Tộc Việt Nam Độc Lập ngàn đời anh hùng?
Trong khi đó, Hoakỳ vẫn lừng lững tiếp tục tiến vào Việtnam. Năm 2009, Hoakỳ trở thành nhà đầu tư lớn nhất tại Việtnam, với số vốn đăng ký 9,8 tỷ USD, chiếm 45.6 % tổng số vốn đầu tư quốc tế vào Việtnam. Hoakỳ và Việtnam đã bắt đầu thảo luận một Hiệp Định Đầu Tư Song Phương sẽ kết thúc trong năm nay. Như vậy vốn đầu tư của Hoakỳ vào Việtnam sẽ càng vững mạnh thêm. Biết rằng, trên nguyên tắc bảo hiểm của nước Mỹ. Vốn đầu tư của Hoakỳ đặt ở đâu thì trách nhiệm an ninh của chính phủ Mỹ phải bảo vệ ở đó. Chính vì vậy mà từ nhiền năm nay, Mỹ đã đặt liên hệ quốc phòng với Việtnam song song với đối tác kinh tế. Quốc phòng tiến vững tới đâu thì vốn đầu tư Mỹ tăng trưởng tới đó. Khi Mỹ trở thành nhà đầu tư số một tại Việtnam thì về mặt quốc phòng cũng phải ở ngang tầm mức đó. Trước sức mạnh quân sự của Trungcộng luôn đe dọa Việtnam, giới quân sự Việtnam rất muốn có vũ khí tối tân vượt trội của Mỹ để phòng thủ, nhưng giới cầm đầu và cơ quan tình báo của Việtcộng vẫn còn nằm trong tay Trungcộng khống chế. Nên Mỹ không dại gì để các loại vũ khí tối tân bí mật của mình bị Việtcộng hiến dâng cho
Trungcộng, do đó chỉ hứa cung cấp những khí tài không sát thương, nhường cho Nga việc cung cấp tàu ngầm, máy bay và Ấnđộ giúp việc huấn luyện chuyên môn cho Việtcộng. Điều quan trọng là Mỹ đã mua ngay 1 tỷ USD công khố phiếu của Việtcộng, để họ có đô la chi trả cho Nga. Làm vậy Việtnam có lý do duy trì được mối quan hệ quốc phòng với Mỹ-Nga-Ấn-ASEAN và cả Trungcộng, trong lúc Trungcộng chưa trở thành “Đối Trọng Chiến Lược”với tất cả.
Xem vậy, cuộc đua giữa Mỹ, Tầu tại Việtnam, tuy bây giờ còn rất êm đềm về mặt nổi, nhưng vẫn quyết liệt trên thực tế về mặt chìm. Trong khi toàn dân, toàn quân quyết chống Trungcộng xâm lăng, thì Trungcộng ra sức dùng tay sai nắm quyền lực đảng, nhân danh đảng cộng sản lãnh đạo Việtnam, để thi hành kế hoạch tàm thực của Trungcộng. Còn Mỹ thì dựa vào sức mạnh đầu tư và khuynh hướng dân chủ hóa của Việtnam, để duy trì phát triển ảnh hưởng. Nếu xu hướng chống Tầu xâm lăng của đảng viên cộng sản lên cao, thì trong kỳ Đại Hội Đảng sắp tới, những kẻ thân Tầu sẽ thất thế.
Còn nếu họ vẫn duy trì nổi điạ vị, thì Việtnam sẽ lâm nguy. Đây là việc buộc chính quyền Obama phải tìm ra đáp số cho bài toán “Hoakỳ trở lại Á châu”./-
Little Saigon- ngày 23/02/2010.
PHE "TUẤN DŨ" ĐANG BỊ BẮC VIỆT TẤN CÔNG.
***Mt68: Nhiều người trong và ngoài nước hiện nay hay gọi đùa Nguyễn Tấn Dũng thành "Tuấn Dũ", na ná như ca sĩ Tuấn Vũ .../- mt68
Phe ông Nguyễn Tấn Dũng đang bị tấn công?
Trung Điền
Sau gần mấy tháng “hưu chiến” sau vụ tham ô PCI ở Sài Gòn, các phe nhóm trong đảng Cộng sản Việt Nam lại bắt đầu tấn công lẫn nhau để giành thế chủ đạo về nhân sự trong đại hội đảng lần thứ XI diễn ra vào tháng 1 năm 2011. Trận chiến đang nhắm vào phe ông Nguyễn Tấn Dũng qua vụ tham nhũng hàng triệu Mỹ Kim liên quan đến công ty Securency của Úc. Công ty này đã hối lộ một số quan chức được coi là đàn em của ông Dũng để được in tiền trên giấy nhựa Polymer cho Ngân hàng nhà nước Việt Nam.
Vụ tham nhũng này đã được báo chí Úc phanh phui từ năm 2007 nhưng bị chìm xuồng vì lúc đó uy thế của ông Nguyễn Tấn Dũng quá mạnh. Bắt đầu từ cuối năm ngoái (2009) vụ tham nhũng nói trên được nhắc trở lại với một số tình tiết khá phức tạp. Báo The Age của Úc cho biết Securency là một công ty do Ngân hàng dự trữ Úc (Reserve Bank of Australia = RBA) sáng lập đã trả 10 triệu Mỹ kim (tương đương 12 triệu Úc Kim) cho con trai ông Lê Đức Thúy, giám đốc công ty Bank Tech, và Lương Ngọc Anh, tổng giám đốc công ty phát triển công nghệ (CFTD) tại Việt Nam, để hối lộ những quan chức trong Ngân hàng nhà nước Việt Nam do ông Lê Đức Thúy làm thống đốc, hầu trúng thầu cung cấp vật liệu in tiền Polymer Việt Nam.
Công ty phát triển công nghệ do Lương Ngọc Anh làm tổng giám đốc có 200 người góp vốn lên đến 400 tỉ đồng và doanh thu mỗi năm là 30 triệu Mỹ Kim. Trong 200 cổ đông của công ty CFTD, người ta phát hiện có rất nhiều nhân vật cao cấp trong chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, gia đình Nguyễn Tấn Dũng và Lê Đức Thúy tham gia góp vốn. Lê Đức Thúy được đưa lên làm Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam thay thế vai trò thống đốc của ông Nguyễn Tấn Dũng từ năm 1999. Ông Thúy và cả ông Lương Ngọc Anh được coi là đàn em cật ruột của ông Dũng. Theo nhiều nguồn tin tại Hà Nội, Lương Ngọc Anh chỉ làm bình phong cho phe nhóm Nguyễn Tấn Dũng và công ty phát triển công nghệ (CFTD) được coi là nơi rửa tiền và tẩu tán tài sản ra hải ngoại của nhiều quan chức trong chính phủ Nguyễn Tấn Dũng.
Hiện nay cảnh sát liên bang Úc đã chính thức điều tra công ty Securency về những tố giác hối lộ ở Việt Nam và Nigeria. Cơ quan điều tra của Cộng sản Việt Nam chưa có động tĩnh gì đến vụ hối lộ của công ty Securency và Lương Ngọc Anh; nhưng những tin tức này được coi là đòn trả thù của nhóm ông Nông Đức Mạnh nhằm phá sập uy tín của ông Dũng trong đại hội đảng lần thứ XI. Tại sao?
Vài tháng trước khi khai mạc đại hội đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X vào trung tuần tháng 4 năm 2006, công an đã bắt giữ hàng loạt cán bộ liên quan đến vụ tham nhũng PMU 18 thuộc Bộ giao thông. Ba nhân vật cầm đầu vụ tham nhũng này là Nguyễn Việt Tiến, thứ trưởng bộ giao thông; Bùi Tiến Dũng, tổng giám đốc công trình PMU 18; và Phạm Tiến Dũng, trưởng phòng kế hoạch công trình PMU 18. Nguyễn Việt Tiến được coi làm “suôi gia’ với ông Nông Đức Mạnh, tổng bí thư đảng nên có một thế lực khá mạnh và có nhiều hy vọng trở thành Ủy viên Trung ương đảng nhiệm kỳ X và được chuẩn bị đưa lên thay thế ông Đào Đình Binh trong vai trò Bộ trưởng Bộ giao thông.
Sau khi vụ án PMU 18 bị khui, ông Nguyễn Tấn Dũng đã cho phép Tổng cục cảnh sát điều tra (C14) do Thiếu tướng Phạm Xuân Quắc cầm đầu, phanh phui các đường dây tham nhũng, hối lộ, cá độ, chạy án của vụ án PMU 18. Vụ điều tra và bắt giữ Bùi Tiến Dũng, và nhất là Thứ Trưởng Bộ Giao Thông Nguyễn Việt Tiến đã tạo một chấn động lớn trong dư luận vào lúc đó. Vụ án này tuy mang dấu vết là vụ án tham ô, hối lộ; nhưng đã được các phe nhóm khai thác biến thành vụ án chính trị mà cho đến ngày hôm nay việc điều tra của vụ án vẫn chưa có kết luận.
Do những quan hệ “suôi gia”, ông Nông Đức Mạnh đã tìm cách giúp đỡ và “chạy án” cho Thứ trưởng Nguyễn Việt Tiến, nhưng ông Mạnh đã bó tay khi ông Nguyễn Tấn Dũng đã vận động Hội nghị lần thứ 9 của Trung ương đảng khóa 9 ra Nghị Quyết làm sạch đảng với chỉ thị: “xử lý nghiêm minh theo pháp luật và kỷ luật Đảng đối với những người có hành vi tham nhũng, tiêu cực, bất cứ người đó là ai, ở cương vị nào, xử lý cả những người bao che hành vi tham nhũng”. Nắm trong tay Nghị Quyết này, ông Nguyễn Tấn Dũng đã loại khá nhiều cán bộ thuộc phe nhóm của ông Mạnh, và cà ông Đỗ Mười ra khỏi Trung Ương đảng trong đại hội đảng lần thứ X vào tháng 4 năm 2006. Cuộc đấu đá này đã đưa đến hệ quả là lần đầu tiên trong lịch sử đảng Cộng sản Việt Nam, 4 bộ quan trọng là Bộ giáo dục, Bộ Y tế, Bộ giao thông và Bô ngoại giao đã không có một nhân sự nào được bầu vào Trung ương Đảng.
Phe ông Mạnh đã phải nín thở để cho ông Thứ trưởng Nguyễn Việt Tiến ngồi tù gần 2 năm. Nhưng từ cuối năm 2007 bước sang năm 2008, tình hình kinh tế Việt Nam bắt đầu suy thoái với hàng trăm ngàn công nhân đình công, biểu tình đòi tăng lương. Uy tín của ông Nguyễn Tấn Dũng đã xuống một cách thê thảm. Phe ông Mạnh đã khai thác sự giảm sút uy tín của ông Dũng ở trong đảng để áp lực đóng lại vụ án PMU 18. Tháng 3 năm 2008, Viện kiểm sát tuyên bố Thứ trưởng Nguyễn Việt Tiến vô tội và ra lệnh đình chỉ mọi cuộc điều tra. Ông Tiến được ra khỏi tù và đến tháng 4 năm 2008 thì được phục hồi đảng tịch nhưng không được ông Dũng tái bổ nhiệm chức vụ thứ trưởng. Sau khi ông Nguyễn Việt Tiến ra khỏi tù, phe ông Mạnh đã “trừng phạt” một loạt cán bộ thừa hành ông Nguyễn Tấn Dũng làm rùm beng vụ điều tra PMU 18.
Ngày 13 tháng 5 năm 2008, cơ quan an ninh điều tra đã bắt hai nhà báo Nguyễn Việt Chiến (báo Thanh Niên), Nguyễn Văn Hải (báo Tuổi Trẻ), Thượng tá Đinh Văn Huynh (nguyên Trưởng phòng cảnh sát điều tra tội phạm), đồng thời khởi tố Thiếu tướng Phạm Xuân Quắc (Cục trưởng cục cảnh sát điều tra tội phạm) về cái gọi là tội lợi dụng chức quyền trong khi thi hành công vụ”. Đây là 4 nhân vật được coi là trung tâm điểm điều tra và phổ biến các tin tức liên quan đến vụ án PMU 18 trong dư luận vào lúc đó. Tháng 10 năm 2008, tòa án Cộng sản Việt Nam đã kết án Thiếu tướng Phạm Xuân Quắc 1 năm tù treo, nhà báo Nguyễn Văn Hải (báo Tuổi Trẻ) 2 năm tù treo, Thượng tá Đinh Xuân Huynh và nhà báo Nguyễn Việt Chiến (báo thanh niên) bị xử 2 năm tù giam. Do những áp lực của dư luận, ông Nguyễn Việt Chiến đã được Hà Nội ân xá vào tháng 2 năm 2009.
Vụ án PMU 18 được dư luận đánh giá là vụ án tham nhũng “đầu voi đuôi chuột” vì cho đến nay 2 thủ phạm chính là Thứ trưởng Nguyễn Việt Tiến đã ra khỏi tù (trắng án), riêng Bùi Tiến Dũng tuy còn bị giam giữ trong tù nhưng chưa đủ “dữ kiện’ để xét xử. Trong khi đó, những người tin theo ông Nguyễn Tấn Dũng để “đánh tham nhũng” như Thiếu tướng Quắc, Thượng tá Huynh và hai nhà báo thì bị đi tù vì tội “lợi dụng chức quyền”. Nói cách khác, phe ông Mạnh đã quật ngược lại thế cờ, không những đã cứu được ông Nguyễn Việt Tiến mà còn trừng phạt cả đàn em của ông Dũng qua vụ án PMU 18.
Bây giờ ông Mạnh đã dùng vụ án Securency để tấn công lại phe nhóm ông Nguyễn Tấn Dũng để trả thù. Trên nguyên tắc, ông Mạnh không còn đủ tư cách để tiếp tục ghế Tổng bí thư vì đã quá hạn tuổi 65 và phải về hưu. Nhưng ông Mạnh muốn nhường ghế này cho ông Trương Tấn Sang đang là thường trực ban bí thư, nên đã phải ra tay tấn công phe ông Nguyễn Tấn Dũng để bảo bọc cho ông Sang. Hiện nay có 6 nhân sự muốn ngắm nghé ghế của ông Mạnh là Nguyễn Tấn Dũng (Thủ tướng), Trương Tấn Sang (Thường trực ban bí thư), Hồ Đức Việt (Trưởng ban Tổ chức), Phạm Quang Nghị (Bí Thư Hà Nội), Tô Huy Rứa (Trưởng ban tuyên giáo), Phùng Quang Thanh (Bộ trưởng quốc phòng). Trong 6 nhân vật này, Nguyễn Tấn Dũng và Trương Tấn Sang là sáng giá nhất và có nhiều triển vọng thay thế Nông Đức Mạnh.
Cứ mỗi lần đại hội, đảng Cộng sản Việt Nam như lên cơn sốt vì những tranh giành quyền lực giữa các phe nhóm. Các phe đã dùng chiêu bài đánh tham nhũng để triệt hạ uy tín chính trị lẫn nhau chứ không nhằm làm trong sạch đảng. Chính vì thế mà trong nhiều năm qua, Cộng sản Việt Nam đã nói rất nhiều đến chống tham nhũng, nhưng căn bệnh vẫn càng ngày càng thêm trầm kha. Thực tâm chống tham nhũng đã không có, mà chính tệ nạn này còn là môi trường cộng sinh cho hàng ngũ lãnh đạo CSVN để tồn tại. Hệ quả tất yếu là cái chân rết tham nhũng - đâm tủa dầy đặc, chằng chịt khắp guồng máy đảng và nhà nước – đang là nguyên ủy của những tranh chấp, thanh toán nội bộ và những bất mãn sâu xa trong quần chúng, chỉ trực chờ giây phút bùng nổ để kết liễu một chế độ toàn trị vô lại./-
Trung Điền
Ngày 25/2/2010.
BÁO ĐỘNG
VIỆT CỘNG TUYÊN VẬN HẢI NGOẠI
Trần Khải
Nhà nước CSVN lúc nào cũng “quan tâm” tới người dân. Thế cho nên, chỗ nào cũng thấy công an. Và với Việt Kiều thì chỗ nào cũng thấy các mặt trận kiều vận - hoặc nhen nhúm sắp nổ ra, hoặc đang bùng nổ lớn. Nghĩa là, chân đi xin cẩn trọng, kẻo đạp nhằm mìn bẫy ngoại giao của nhà nước.
Thực sự, lòng dân Việt hải ngoaị lúc nào cũng hướng về quê nhà, vì người thân làm sao mà bỏ được. Đó là lý do có những con số đã làm Bộ Ngoạị Giao CSVN hài lòng. Như, “trong dịp tết năm nay số lượng kiều bào về quê ăn tết dự kiến đạt hơn 500.000 người,” theo tin từ Bộ Ngoại Giao CSVN. Đếm tiền thì, “theo số liệu của cơ quan chức năng, năm 2009 lượng kiều hối về Việt Nam ước đạt 6,283 tỉ USD, giảm 12,8% so với năm 2008.” Nhưng như thế cũng là thành công rồi, bởi vì Hoa Kỳ và Châu Âu đang suy thoáí kinh tế, mà tiền Việt Kiều vẫn gửi về như thế, còn đòi hỏi gì hơn?
Thông tấn Thế Giới & Việt Nam đã duyệt lại chính sách ngoaị giao, và qua lời ông Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn cho biết là sẽ không buông lơi mặt trận kiều vận. Bản tin báo này hôm Thứ Hai 22-2-2010 có nhan đề “Cần phát huy tâm huyết của kiều bào” là cuộc phỏng vấn ông Nguyễn Thanh Sơn, cho biết Nghị Quyết 36 đã thành công lớn trong năm 2009, và sẽ được liên tục tổng tấn công trong năm 2010 :
“...Năm 2010, chúng tôi tiếp tục triển khai sâu rộng và toàn diện công tác về NVNONN trên cả 3 lĩnh vực: xây dựng chính sách, vận động và thông tin tuyên truyền. Ủy ban sẽ tổ chức Hội nghị tổng kết 06 năm thực hiện Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị; phối hợp với các cơ quan liên quan tiếp tục thúc đẩy việc ban hành và triển khai các văn bản pháp quy hướng dẫn việc thực hiện các chính sách mới về quốc tịch, mua và sở hữu nhà ở tại VN của NVNONN và chính sách thu hút chuyên gia trí thức kiều bào đóng góp cho đất nước. Bên cạnh việc đề xuất các biện pháp tháo gỡ vướng mắc trong việc thực hiện Nghị quyết của Thường vụ Quốc hội về việc giải quyết giao dịch nhà ở của NVNONN được xác lập từ ngày 1/7/1991, chúng tôi cũng sẽ tổ chức lấy ý kiến của kiều bào đóng góp vào Dự thảo văn kiện trình Đại hội XI của Đảng.
Cùng với chương trình "Xuân Quê hương 2010", Ủy ban dự kiến tổ chức đoàn kiều bào tiêu biểu về dự Quốc giỗ Vua Hùng (dự kiến kết hợp thăm đảo Trường Sa), Quốc khánh 2/9, "Trại hè VN", Festival thanh niên, sinh viên VN toàn thế giới tại Đức, tổ chức lớp học tiếng Việt, cuộc thi tiếng hát dành cho kiều bào "Tôi yêu tiếng nước tôi" và các hoạt động hướng về Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội... Ngoài ra, chúng tôi cũng sẽ phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam xúc tiến việc đưa kênh VTV4 vào hệ thống truyền hình cáp tại một số địa bàn; phối hợp với các cơ quan truyền thông khác trong nước để mở rộng phạm vi hoạt động, tăng cường thông tin hơn nữa cho bà con ta.”(hết trích)
Như thế, nhiều mặt trận kiều vận : Xuân quê hương (đã hoàn tất), Quốc giỗ Vua Hùng, thăm Trường Sa, Quốc Khánh 2/9, trại hè VN, Festival thanh niên tại Đức, và vân vân...
Xin đọc kỹ lời ông Thứ Trưởng Nguyễn Thanh Sơn : có một chi tiết cho thấy, nhà nước CSVN sẽ xuất hiện sớm ngay trên các màn ảnh truyền hình, đưa đài truyền hình VTV4 “vào hệ thống truyền hình cáp tại một số địa bàn; phối hợp với các cơ quan truyền thông khác trong nước để mở rộng phạm vi hoạt động, tăng cường thông tin hơn nữa cho bà con ta.”
Như thế, các đàì truyền hình hải ngoại sẽ cạnh tranh tha hồ mệt mỏi.
Chưa hết, sắp tới sẽ còn một cuộc thi hát. Đúng vậy. Nếu bạn đã thấy người Việt hải ngoạị ưa hát karaoke thế nào, bạn sẽ có thể hình dung rằng nhà nước CSVN biết ra chiêu mời gọi... Bản tin báo Tiền Phong ngaỳ Thứ Hai 22-2-2010 với nhan đề “Thanh Hoa với Thi hát cho người Việt ở nước ngoài'” đã cho biết, rằng một số nghệ sĩ quốc nội sẽ kết hợp cùng Đài Truyền Hình VTV4 mời gọi Việt kiều về VN thi hát. Gì chứ, làm ca sĩ thì nhiều người thích lắm.
Bản tin báo Tiền Phong viết : “Nhiều dự định lớn của NSND Thanh Hoa được hiện thực hóa vào năm tuổi của chị. Trước tiên phải kể dự án thi hát cho người Việt ở nước ngoài.
- Chị đã lượng sức mình cho cuộc thi quy mô này ?
- Ít nhất cũng có ba năm chuẩn bị rồi. Suốt bảy năm cùng công ty tổ chức biểu diễn nghệ thuật, Thanh Hoa đi phục vụ bà con Việt kiều các nước, tôi nhận thấy khao khát, gọi là thèm khát văn hóa thì đúng hơn. Mấy năm nay đỡ hơn, vì nhiều đoàn trong nước sang biểu diễn. Tôi nhận thấy Việt kiều các nước không giao lưu văn hóa với nhau. Cộng đồng người Việt ở nước ngoài đều muốn một sân chơi nhất là cho thế hệ thứ ba - nhiều cháu nói tiếng Việt không sõi. Chúng tôi sẽ cùng VTV4 xây dựng sân chơi này. Ngoài việc tổ chức thi hát chắc tôi không làm được gì hơn. Đây cũng là lời cảm ơn tôi dành cho bà con sống xa quê. Cũng là một hoạt động hòa cùng chủ trương năm ngoại giao văn hóa (2009) của Chính phủ. Muốn qua tiếng hát để người ta ôn lại tiếng mẹ đẻ, cho nên tôi lấy tên cuộc thi là "Tôi yêu tiếng nước tôi".Từ tháng bảy năm ngoái đến giờ, công ty Thanh Hoa cử người sang liên lạc với các sứ quán, hội đoàn người VN ở các nước. Các sứ quán đều ủng hộ...”(hết trích)
Như thế. Việt Kiều khỏi cần về nước. Đích thân nhà nước CSVN qua đàì truyền hình VTV4 sẽ vào tận phòng khách các gia đình Việt kiều, mời gọi đủ thứ, kể cả mời thi hát.
Ai dám bảo Nghị quyết 36 thất bại ?
Lần này, không chỉ các đàì truyền hình hải ngoạị bị cạnh tranh, mà ngay cả các quán nhạc karaoke cũng sẽ bị lấn ép.
Trần Khải
Thursday, February 25, 2010
Vượt Biển Một Mình
Nguyễn Trần Diệu Hương
Tác giả, hiện cư trú và làm việc tại vùng San Jose, kể chuyện một mình vượt biển giữa thập niên 80’ và trở thành cô giáo cho những thiếu niên không thân nhân tại trại tị nạn.
Ngày 30 tháng Tư 1975, Saigon sụp đổ. Những gia đình đang ở trong các cư xá sĩ quan, cư xá công chức bị đuổi ra khỏi nhà. Cùng chung số phận, gia đình chúng tôi bị đuổi khỏi mái nhà thân yêu trong cư xá, nơi chúng tôi có một thời nhỏ dại êm ả. Mẹ đưa chúng tôi về căn nhà riêng Ba Mẹ đã xây nên bằng công sức của Ba Mẹ, nhưng nhà này cũng bị tịch thu. Sau hai lần mất nhà, chúng tôi lớn lên như câu ca dao "Còn cha gót đỏ như son, mất cha lăn lóc như lon sữa bò." Ba chúng tôi còn sống, nhưng đang bị đầy ải trong trại cải tạo ở núi rừng âm u đầy chướng khí của miền Bắc. Những ngày u ám đó in hằn vào đầu óc của chúng tôi, khiến chúng tôi trưởng thành sớm hơn tuổi của mình, vì chỉ được xã hội cho nếm mùi cay đắng.
Đầu thập niên tám mươi, trước những bế tắc không lối thoát, Mẹ thu xếp gởi anh chị em chúng tôi, từng đứa, vượt đại dương để đến một vùng đất tự do, ở đó không có khủng bố tinh thần, ở đó không có trại cải tạo giam giữ những người hoàn toàn lương thiện, và ở đó chúng tôi sẽ được học hành thành người. Cũng như rất nhiều người vợ lính khác, Mẹ đảm đang, xuôi ngược nuôi chúng tôi, nuôi Ba trong các trại tù cải tạo từ Bắc vào Nam. Tất cả những điều đó đẩy chúng tôi đến đường cùng, không còn lựa chọn nào khác hơn là phải đưa chính mạng sống của mình đánh cuộc với định mệnh, với đại dương. Còn nhớ thời đó, người dân miền Nam Việt Nam vẫn truyền miệng một câu ngạn ngữ của thời đại "Một là con nuôi mẹ, hai là mẹ nuôi con, ba là con nuôi cá." Cứ thế một hai ba Mẹ lo cho con một mình vượt biển. Khả năng vượt thoát chỉ là một phần ba. Ròng rã gần mười lăm năm dài, từ cuối năm 1975 đến đầu năm 1990, hàng trăm ngàn thuyền nhân (hay theo như cách gọi của UNHCR United Nations High Commissions for Refugees, Cao Uỷ Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc là "Boat People") đã đến được bờ bến tự do. Cùng lúc, hàng trăm ngàn thuyền nhân khác gởi thân vào lòng đại dương.
Chưa qua khỏi tuổi thơ, nước mất, nhà tan, chúng tôi, không có thời mới lớn, tự động bước vào tuổi trưởng thành trước những khó khăn của Mẹ, vượt quá nỗi khổ của bà Tú Xương ở thế kỷ mười chín, vừa nuôi chồng trong tù cải tạo, vừa nuôi một bầy con dại còn ở Tiểu học hoặc ở những năm đầu Trung học. Từng đứa một, khi có điều kiện, Mẹ gởi chúng tôi ra đi.
Đến phiên tôi, Mẹ chỉ đưa được tôi ra bến xe liên tỉnh để đi Vũng Tàu. Cả hai mẹ con đều đội nón lá rộng vành để che những giọt nước mắt lã chã rơi không ngừng. Mẹ khóc nhiều hơn những lần đưa các anh em trai của tôi ra đi, vì tôi là con gái duy nhất trong nhà, thân gái dậm trường. Ngồi trên xe đò từ Saigon về Vũng Tàu, trong một góc xe đò, tôi úp nón lên mặt, để che đôi mắt sưng đỏ vì khóc của mình.
Gần một tuần lênh đênh trên đại dương, chỉ có trời và nước, xanh thẫm ban ngày, đen kịt ban đêm, không có cả một cánh chim, tôi nhớ Ba, nhớ Mẹ quay quắt, nhưng vẫn hài lòng với chọn lựa của mình. Hai ngày đầu, như mọi người trong lòng thuyền, tôi bị say sóng, nôn ra cả mật xanh, mật vàng. Đó là lần đầu tiên trong đời, tôi hiểu thế nào là "mửa mật". Vậy mà chỉ hai ngày sau, quen dần với cảm giác bập bềnh của con thuyền nhỏ trước lực đẩy của nước ở đại dương, tôi tỉnh táo lại hoàn toàn với đầy đủ sinh lực của "tuổi mười bảy bẻ gãy sừng trâu" mặc dù đã hai ngày không ăn uống. Khi thuyền ra hải phận quốc tế, chúng tôi được lên khoang thuyền hít thở không khí trong lành đầy vị mặn của đại dương, hình như có thoang thoảng mùi vị của tự do.
May mắn hơn những người tỵ nạn khác, chúng tôi đi bình yên, không gặp một thuyền nào khác. Trời êm biển lặng vào tháng sáu đầu mùa hè đưa chúng tôi đến thẳng đất liền của Mã Lai sau năm ngày sáu đêm lênh đênh trên biến.
Lên tới đất liền, cùng với chú lái tàu, tôi phải vận dụng vốn liếng tiếng Anh hạn chế đã tích lũy trong những tháng năm chuẩn bị vượt biên để giải thích cho nhân viên Cảnh sát Mã Lai biết chúng tôi là ai, tại sao chúng tôi đặt chân đến đây. Đó chỉ là lần đầu, một khởi đầu kéo dài mãi cho đến bây giờ, phải giải thích tương tự cho rất nhiều người khác nhau thuộc nhiều chủng tộc hiểu tại sao chúng tôi phải bỏ quê hương ra đi để sống đời lưu vong.
Những giờ phút đầu tiên trên đất liền, chúng tôi lại bị "say đất". Quen với trạng thái bồng bềnh, trôi nổi trên mặt nước; khi trở lại mặt đất bằng phẳng, mỗi lần đặt bước chân xuống, tôi có cảm giác mặt đất chao đảo như còn trên mặt sóng nhấp nhô. Sau hai ngày bận rộn với đủ thứ giấy tờ khai báo với cảnh sát địa phương Mã Lai, chúng tôi được đưa ra trại Pulau Bidong, trại tỵ nạn chính thức của Cao ủy tỵ nạn Liên Hiệp quốc đặt trên lãnh thổ Malaysia để thành một người tỵ nạn chính thức có số căn cước thuyền nhân, chờ được phỏng vấn định cư ở một nước thứ ba. Lần này, hành trình từ đất liền ra đảo Pulau Bidong vững chắc hơn trên một thuyền khá lớn của UNHCR, có tên là "Blue Dart", khoảng cách lại ngắn, nên chúng tôi không bị say sóng.
Trại tỵ nạn Pulau Bidong đã dược xây dựng tương đối đầy đủ khi chúng tôi đến đảo vào giữa thập niên 80, có đủ trường Tiểu học, Trung học cho trẻ em, trường huấn nghệ (Vocational School) cho người lớn, có thư viện, có cả Chùa, Nhà thờ trên "đồi tôn giáo", có Bệnh viện với cái tên khá ngộ nghĩnh và dễ nhớ là "Sick Bay". Chúng tôi được đón tiếp với những thùng mì ăn liền vĩ đại hãy còn bốc khói, giống hệt như những thùng mì Liên Hiệp Quốc phân phàt cho nạn nhân của thiên tai Tsunami ở South Asia cuối năm 2004.
Lần đầu tiên ăn đồ cứu trợ, sống bằng lòng nhân đạo của người khác, một thân một mình ở trại tỵ nạn của một đất nước khác, nước mắt tôi lăn dài, nghĩ đến Ba vẫn đang mỏi mòn trong ngục tù cải tạo ở núi rừng âm u đầy chướng khí của miền Bắc vẫn thiếu ăn, thiếu mặc; nghĩ đến Mẹ đang vò võ một mình ở nhà, chắc là vẫn đang cầu nguyện cho bầy con đã tứ tán mỗi đứa một quốc gia, một phương trời khác nhau, ở tuổi chưa đến hai mươi.
Tưởng là mình đã rất can đảm khi dám chấp nhận cảnh "thân gái dặm trường", không ngờ, ở trại tỵ nạn Pulau Bidong, đến khu vực Cô nhi (Minor Refugees Residential Section), dành cho các em dưới mười sáu tuổi đến trại tỵ nạn một mình, tôi thấy em nhỏ nhất chỉ mới sáu tuổi.
Ở đó, có Hanh, chỉ mới mười một tuổi, thông minh, đầy cương nghị, có Bố đang bị "học tập cải tạo" - như Ba tôi - được Mẹ gởi đi vượt biển một mình trên một thuyền bị hải tặc, mọi người đói lả gần ba ngày trước khi đến được trại tỵ nạn. Ở trại tỵ nạn, cậu bé tuy mới mười một tuổi nhưng có sự khôn ngoan và nét chửng chạc cúa một người ngoài hai mươi học hành chăm chỉ, hết học Anh Văn lại quay qua học Toán, quanh quẩn cả ngày ở trường Trung học trên đảo Pulau Bidong.
Ở đó, có Huyên, một em gái mới mười ba tuổi, cả gia đình mất tích trên biển khi thuyền bị lật. Như một phép màu, Huyên bám được một thùng plastic rỗng, trôi nổi bồng bềnh giữa đại dương gần nửa ngày, trước khi được một tàu tỵ nạn khác đi ngang vớt lên. Người ta đã thấy cô bé Việt Nam nhỏ bé mắt nhắm nghiền, gần như hôn mê bất tĩnh. thân xác mỏng manh như chiếc lá khô, hai tay vẫn còn bám chặt cái thùng nhựa rỗng bồng bềnh trên đại dương.
Ở đó, có Việt, rất thâm trầm, dù mới mười lăm tuổi, nhà cửa bị tịch thu, Ba bị giam ở khám Chí Hòa vì "tội nhà giàu", Mẹ gởi em ra đi với nhà hàng xóm để thoát khỏi tương lai đen tối của giai cấp "tư sản mại bản".
Còn biết bao các em khác nữa. Mười một tháng sau đó ở Pulau Bidong, với vốn liếng Anh ngữ từ những năm ở trường Trung học, và những sách vở của thư viện trên đảo, tôi đã có cơ hội giúp cho UNHCR và cả các phái đoàn Mỹ, Canada, Úc trong việc thông dịch mỗi khi họ đến phỏng vấn thuyền nhân.
Mãi đến bây giờ, tôi vẫn còn cảm giác xót xa khi nhớ lại những lần thông dịch cho những ngưồi đàn bà, con gái Việt Nam bị làm nhục bởi hải tặc trên đường vượt biển, em nhỏ nhất chỉ mới mười hai tuổi. Hồi đó, Cao ủy trưởng Alan ở Pulau Bidong chỉ định tôi chuyên làm công việc thông dịch đàn bà con gái trong các cuộc phỏng vấn các thuyền vượt biển bị hài tặc. Đó là một công việc rất tế nhị và đầy xót xa. Đến một độ nào đó, nỗi đau vượt quá sức chịu đựng, người ta mất cảm giác. Nhiều người nữ thuyền nhân, mặt còn đầy nỗi kinh hoàng nhưng kể lại từng chi tiết ô nhục mà chính mình phải gánh chịu với giọng đều đều, thản nhiên, lạnh lùng như nói chuyện trời mưa, trời nắng, trong khi chính tôi và cô May, Cao ủy của UNHCR đã giọt ngắn giọt dài. Mỗi lần dịch hay viết xong một hồ sơ tàu tỵ nạn bị cướp, tay áo tôi ướt đẫm vì nước mắt. Tôi vẫn tự hỏi thủ phạm trực tiếp cho nỗi đau này là hải tặc Thái Lan, thủ phạm gián tiếp thực sự là ai?
Đó là khoảng thời gian rất bận rộn với công việc thông dịch ban ngày giúp cho nhân viên Cao ủy Tỵ nạn. Ban đêm, tôi còn dạy thiện nguyện cho các em , chỉ nhỏ hơn tôi vài tuổi, ở trường Trung học trên trại Tỵ nạn. Trường chỉ dạy hai môn Anh văn và Toán. Sách học là những quyển sách đơn giản tương đương trình độ của bộ "English for Today" quyển I đến quyển III. Trước ngày ra đi, tôi chỉ mới học xong quyển IV ở Việt Nam , nhưng nhờ làm việc, tiếp xúc nhiều với các nhân viên UNHCR, và bằng long thương yêu các em chân thành như em ruột của chính mình, tôi mang hết kiến thức và hiểu biết của mình truyền lại cho các em, mặc dù tôi chưa hề được qua một trường lớp nào về Sư phạm. Chúng tôi, những người dạy thiện nguyện ở trường Trung hoc, vẫn đùa với nhau là mình đã theo một "trường phái sư phạm mới", lối dạy "mèo nhỏ tha chuột lớn".
Có lần, giải nghiã cho các em một từ mới, "dignity" - có nghĩa là phẩm giá - tôi không biết làm thế nào để giảng cho các em hiểu, đành viết lên bằng câu thí dụ "We lost everything, but never lose our dignity". Viết đến đó, tự dưng nước mắt tôi lăn dài, các em ở tuổi mười bốn, mười lăm lúc đó cũng khóc theo. Những giọt nước mắt đó vẫn còn đọng trong tâm khảm tôi cho đến bây giờ, cùng có niềm tin ở một thế hệ trẻ lưu vong có đầy đủ đầu óc và trái tim Chắc chắn, các em học sinh lúc đó, trên bước đường tha hương sau này, sẽ nhớ và hiểu nghiã chữ "dignity" hơn ai hết, và các em sẽ sống xứng đáng với lòng kỳ vọng của thân sinh các em, khi Ba Mẹ các em đã phải đứt ruột gởi con ra biển một mình.
Mỗi tuần hai lần, tàu "Blue Dart" của UNHCR cho nước ngọt, mì gói, gạo và thực phẩm tươi gồm gà và rau cải, đôi khi còn có dưa hấu hay thơm, vào cho thuyền nhân. Hầu hết chúng tôi đến trại tỵ nạn chỉ với một bộ quần áo dính trên người. Chúng tôi được phát áo quần từ một kho áo quần "second hand", tương tự như áo quần cũ bán trong Goods Will ở Mỹ. Áo quần thường rộng thùng thình, quá khổ, nhưng chúng tôi tự sửa lại đúng với kích thước của mình. Cao ủy tỵ nạn Liên Hiệp quốc đã rất là chu toàn trong việc bảo vệ và chăm lo cho những người tỵ nạn chính trị, Đến lúc được chuyển qua trại chuyển tiếp Bataan ở Philippines để được hướng dẫn về đời sống văn minh của Mỹ trước khi chính thức đến Mỹ như một người tỵ nạn, chúng tôi được huấn luyện chương trình buổi sáng, buổi chiều làm "Teacher Aid" cho các giảng viên người Phi. Ở đó, đời sống đầy đủ hơn, và lạc quan hơn vì chúng tôi biết chắc chắn ngày mình được định cư ở Mỹ. Và cũng ở đó, tôi có thì giờ tự học nhiều hơn cho chính mình, chuẩn bị một thời kỳ gian nan khác, một khởi đầu từ con số không ở quê hương thứ hai. Một vài lần được về chơi ở Manila (thủ đô của Philippines) , những chuyến du lịch đặc biệt bằng xe bus dành riêng cho các "Teacher Aid", chúng tôi vẫn ngậm ngùi thương cho sự lạc hậu của đất nước mình ngay cả khi so sánh với các nước Á châu khác như Philippines.
"Nỗi buồn nhược tiểu" đó càng tăng cao khi trên đường bay qua Mỹ, tôi được dừng chân hai ngày ở Tokyo - Nhật, thủ đô của nước Á châu giàu mạnh nhất sau khi nếm bài học xương máu với hai cột khói trắng hình nấm khổng lồ ở Hiroshima và Nagasaki cuối thế chiến thứ hai. Tokyo văn minh sáng rực ánh đèn ban đêm tương phản với Saigon lạc hậu tranh tối, tranh sáng, Nước mắt tôi lại chảy xuống cho sự thụt lùi của quê hương đã bị bỏ lại sau lưng.
Tôi đến Mỹ một tuần trước lễ Giáng sinh, cùng một thuyền nhân Việt Nam khác, hoàn thành nhiệm vụ cuối cùng được giao từ UNHCR, giúp đoàn người tỵ nạn gồm 85 người kể cả một vài người Lào và Cambodia cũng trốn chạy khỏi quê hương như chúng tôi. Giữa những hành khách Mỹ tự tin, cao to, với nhiều hành lý cồng kềnh về nước đoàn tụ với gia đình nhân dịp Giáng sinh và Tết dương lịch, rất dễ nhận ra những người tỵ nạn nhỏ bé, mảnh mai mắt mở to vui mừng lẫn ngơ ngác, chỉ có hai bàn tay trắng với những túi xách của UNHCR và IOM (International Organization for Migration), chỉ có giấy tờ nhập cư vào Mỹ và giấy tờ tùy thân .
Được chuẩn bị đầy đủ với gần 6 tháng học về "American Culture Orientation" ở trại chuyển tiếp Bataan, Philippines, với trình độ Anh văn tương đối sau một năm tiếp xúc và làm thông dịch viên cho nhân viên Cao ủy Tỵ nạn LHQ, tôi không đến nỗi bị lâm vào cảnh "mán về thành", nhưng thật sự đời sống ở Mỹ khác xa với đời sống ở quê nhà như mặt trời với mặt trăng, như ngày với đêm.
Hình ảnh của Ba với mái tóc bạc trắng ở tuổi năm mươi trong lao tù cải tạo, hình ảnh Mẹ với đôi mắt buồn trong những ngày chuẩn bị gởi chúng tôi ra đi là nguồn nghị lực không bao giờ cạn, tiếp sức cho chúng tôi trong thời gian chân ướt chân ráo ở quê hương thứ hai.
Từ nhiều trại tỵ nạn ở nhiều nước khác nhau: Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philippines, anh chị em chúng tôi đến Mỹ trong nhiều thời gian khác nhau, được trùng phùng, như trăm sông đổ về biển, và mang sức sống của tuổi hai mươi lao vào đất nước của tự do và cơ hội. Một người bạn cũ của Ba, qua Mỹ từ năm 1975, đang làm ở tổ chức thiện nguyện USCC, giúp tôi có được trợ cấp một lần là 650 dollars dành cho người tỵ nạn mới đến , bác viết cho tôi một reference letter và từ đó " I'm on my own way". Bác cũng giới thiệu cho tôi đến tìm việc làm ở một vài nơi. Trời thương, "thánh nhân đãi kẻ khù khờ", tôi được nhận vào làm full time ở một công ty lớn chỉ hai tuần sau ngày đến Mỹ. Lúc đó là đầu tháng giêng, giữa mùa Đông ở Mỹ, trời lạnh buốt, buổi sáng tôi thức dậy từ sáu giờ ba mươi, trời còn tối, ra đứng chỗ xe bus ở đầu đường, trời lạnh cóng, dưới 40 độ Fahrenheit, tôi phải mặc ba bốn lớp áo, nhưng áo quần cũ chị em chúng tôi đã mua từ Goods Will để vừa với túi tiền của mấy chị em lưu lạc quê người, chỉ có hai bàn tay trắng, với lòng tin của Ba Mẹ đặt ở mỗi chúng tôi. Một tuần sau, chịu không nổi cái lạnh gần đông đá , từ 32 đến 39 độ Fahrenheit của mùa đông thứ nhất ở Mỹ, tôi dùng cái paycheck đầu tiên của mình thuê người dạy lái xe và dốc hết tiền trợ cấp một lần cho người mới đến mua một cái Toyota Celica đã mười bốn tuổi, để đi học và đi làm. Đời sống lúc đó, còn nhỏ, là một hình tam giác với ba đỉnh là nhà, trường học và sở làm không hề có giải trí, không có cả thời gian để buồn và nhớ nhà. Đến Mỹ muộn màng, sau gần mười năm miền Nam sụp đổ, biết thân phận mình là "trâu chậm", chúng tôi lao đầu vào học, không dám để phí thêm một giờ phút nào. Mùa hè, học phí cao hơn, tôi chỉ ghi danh theo học một lớp, và làm part time cho một trạm bán xăng ở gần nhà Nghĩa là lúc đó, tôi đi làm full time, đi học full time quanh năm. Nhiều lúc quá mệt mỏi, tôi lại tự nâng đỡ tinh thần mình bằng câu nói cửa miệng của người Mỹ "No pain, no gain", và nhớ đến kỳ vọng của Ba Mẹ đã đặt ra cho chúng tôi. Buồn nhất là những lần bất chợt nghe được những câu hát rất đúng với tâm trạng của mình: "Ai trở về xứ Việt, nhắn giùm tôi người ấy ở trong tù .....", nghĩ đến Ba, nước mắt tôi vẫn lăn dài, và tự bảo lòng mình phải cố gắng học giỏi hơn để Ba Mẹ vui hơn, đủ nghị lực sống trong đời sống bị khủng bố tinh thần thường xuyên ở quê nhà.
Có lần được phát biểu cảm tưởng với thời gian ba phút trong một lần nhận học bổng, tưởng là sẽ cảm ơn đủ tất cả mọi người và hứa với "scholarship foundation" sẽ cố gắng nhiều hơn, nhưng tôi chỉ nói được gần hai phút: - Xin cảm ơn tất cả thầy cô đã có công dạy dỗ tôi, xin cảm ơn Hội đồng trao tặng học bổng cho tôi. Xin tri ân đất nước Hoa Kỳ đã cưu mang và cung cấp một đời sống tự do, no đủ cho tất cả những người tỵ nan, lưu vong. Vinh dự hôm nay xin được dành riêng cho tất cả những người đã nằm xuống cho chúng tôi có được ngày hôm nay, và xin đặc biệt danh riêng cho Ba tôi, người vẫn còn đang bị đày ải trong lao tù Cộng sản vì đã ở trong một quân đội bảo vệ tự do, xin được dành riêng cho Mẹ tôi, người đã rất chu toàn trong việc nuôi dậy con cái một mình.
Một phút còn lại, tôi không nói được vì cử tọa trước mặt đã mờ đi sau màn nước mắt, mùi vị đắng cay sau năm 75 ở quê nhà vẫn kéo về với đầy nỗi xót xa, ngay cả trong giờ phút ngọt ngào nhất. Một thầy giáo người Mỹ gốc Ba Lan đã tỵ nạn Cộng sản từ cuối thập niên 60, dạy tôi từ năm đầu Đại học, hiểu rất rõ tâm trạng của một người tỵ nạn, đã lên diễn đàn giúp tôi hoàn tất lời phát biểu. Lần đó, tôi được đặc cách đề cử trực tiếp cho học bổng niên khoá kế tiếp, mà không phải qua những thủ tục bình thường. Món tiền tuy không lớn, cũng đủ để trang trải chi phí sách vở, học phí, ăn ở cho một năm học, là một yểm trợ vật chất lớn lao cho tôi trong ba năm đầu chân ướt chân ráo ở quê người. Có những điều hằn sâu trong ký ức, lúc nào cũng tưởng như mới vừa xẩy ra, như chuyện say sóng đến độ "mửa mật" của những ngày lênh đênh trên đại dương vẫn ám ảnh tôi không nguôi. Cho nên, có lần được chọn là "Employee of the year" được tặng vé cho một chuyến đi cruise trên biển một tuần cho hai người, nhớ lại cảm giác đắng nghét ở miệng, cảm giác mất thăng bằng của những ngày mới đặt chân lên đất liền, tôi đã nhường lại phần thưởng đó cho "the runner up" trước con mắt ngạc nhiên của mọi người làm cùng chỗ. Đó không phải là điều duy nhất người bản xứ không hiểu những người tỵ nạn, những người Mỹ gốc Việt lưu vong. Họ cũng không hiểu tại sao rất nhiều người Việt Nam nhỏ bé ốm yếu vẫn đội mưa đội gió hàng giờ giương cao những tấm biểu ngữ "Human Right for VietNam", "Freedom for VietNam" ở một góc đường nào đó trong đời sống lạnh lùng, đầy tất bật của đất nước Hoa kỳ.
Sau khi đã ổn định, - đã có một "career" đàng hoàng thay cho cái "job" để kiếm sống - có thời tôi đi dạy thiện nguyện cho một trường Việt ngữ ở điạ phương, học sinh là các em teenagers. Dù cùng tuổi nhưng học trò của tôi bây giờ vô tư, ngây thơ, khác xa các em trong trại tỵ nạn chững chạc, trưởng thành trước tuổi. Ở trường Việt ngữ, ngoài bài giảng từ sách của trường, thì giờ còn dư, chúng tôi giảng trích đoạn từ tác phẩm "Mùa hè đỏ lửa" của nhà văn Phan Nhật Nam, từ bài thơ bất khuất "Nếu ai hỏi" của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện để các em hiểu rõ hơn giá trị của tự do, và biết yêu thương cha mẹ hơn, biết ơn cha mẹ các em đã hy sinh rất nhiều để các em có được ngày hôm nay.
Đời sống ở Mỹ vốn tất bật, nhưng một phút bình lặng nào đó của tâm hồn, dù đang bị kẹt xe trên một xa lộ xe cộ tất tả ngược xuôi hay đang ở trong một cuộc họp ở sở, đầu óc tôi vẫn lang thang về với quê nhà, và buồn thay, bao giờ cũng vậy, mùi vị đắng nghét như đang bị "mửa mật", mùi vị chua cay của một thời vẫn hiện về, rõ ràng, mồn một như chuyện hôm qua.
Và có một lần "chuyện hôm qua" càng rõ nét hơn. Đến thăm Massachusetts Institute of Technology (MIT) nổi tiếng về chuyên ngành Toán và Kỹ thuật, đang ngồi chờ người bạn ở cafeteria của trường, bỗng một sinh viên người Á châu đi qua, đi lại trước mặt tôi nhiều lần. Sau cùng, anh ta dừng lại, lịch sự hỏi bằng tiếng Mỹ: - Xin lỗi, chị có phải là cô Thuyên ở trường Trung học Pulau Bidong năm 1988 không?
Tôi trả lời bằng tiếng Việt:
- Đúng rồi, em có thể nhắc cho tôi nhớ em là ai không?
Người thanh niên vui mừng, rồi bằng một thứ tiếng Việt rõ ràng và lễ độ, anh ta trả lời:
- Em là Hanh đây chị, em học cùng lớp với Huyên và Việt ở Pulau Bidong. Chị nhớ em không?
Hanh vẫn nhận ra tôi sau mười lăm năm không gặp, nhưng tôi thì không thể nhìn ra được anh thanh niên cao lớn chững chạc trước mặt mình là cậu bé đen nhẻm, chững chạc, chăm học ở trại tỵ nạn năm xưa, Hanh lúc đó đang ở năm cuối của chương trình Tiến sĩ Toán, như ước mong ngày nào em đã trình bày trong một giờ thực tập nói tiếng Anh ở lớp học nhỏ xíu, mái lợp tôn thô sơ giữa đảo Pulau Bidong. Hanh kể cho tôi nghe về chuyện em đến Mỹ một mình ở tuổi mười hai, cùng với một nhóm ngườI Việt Nam tỵ nạn đặt chân đến Mỹ ở phi trường San Francisco, Hanh đổi máy bay về Massachusetts. Đi một mình, dưới mười lăm tuổi, nên Hanh được một cô Stewardess đích thân dắt lên máy bay trước.
Ra đón cậu bé tỵ nạn Việt Nam ở phi trường Logan Boston - là đại diện của một tổ chức thiện nguyện và cha mẹ nuôi của Hanh. Đó là một gia đình ngươi Mỹ gốc Tiệp Khắc, qua Mỹ tỵ nạn từ thập niên 60s. Dù chưa bao giờ có ý định xin con nuôi, nhưng thấy Hanh là một cậu bé mới mười một tuổi vượt biển một mình, không có thân nhân, nên họ muốn đưa Hanh về nuôi. Cả hai ông bà đều dạy Trung học. Ông dạy Toán, bà dạy Home Economics (tương tự như môn Nữ công gia chánh ở Việt Nam). Người con duy nhất đi học xa, ông bà vẫn làm việc thiện nguyện ở một Nhà thờ Tin lành vào cuối tuần. Khi thấy tên Hanh, một em nhỏ tỵ nạn Việt Nam mới mười một tuổi, không có thân nhân ở Mỹ, được nhà thờ tìm người bảo trợ, họ xin nhận Hanh làm con nuôi. Vẻ chín chắn cùng sự khôn ngoan trước tuổi của Hanh đã chinh phục được lòng thương yêu của bố mẹ nuôi người Mỹ từ lúc đầu. Vì cả hai ông bà đều là nhà giáo, Hanh lại có căn bản về cả tiếng Anh lẫn học lực, lại chăm chỉ học hành nền em được vào thẳng lớp bảy như các học sinh bản xứ mà không gặp trở ngại nào.
Lên Trung học, Hanh tốt nghiệp thủ khoa Trung học. Với sự hướng dẫn quý báu của cha mẹ nuôi, với thành tích học tập xuất sắc trong bốn năm Trung học, cậu bé Hanh tỵ nạn năm xưa nhận được học bỗng toàn phần của MIT, trong niềm hãnh diện của cha mẹ nuôi ở Mỹ lẫn cha mẹ ruột ở Việt Nam. Giữa thập niên 90s của thế kỷ hai mươi, ba mẹ sinh thành cùng hai em của Hanh được qua Mỹ theo chương trình nhân đạo HO. Vậy là Hanh có đến hai ông bố, hai bà mẹ, và hai gia đình cùng ở tiểu bang Massachusetts, trong hai thành phố kế cận nhau. Không muốn làm mất lòng gia đình nào, và để được tập trung học tập, Hanh vào nội trú trong MIT. Mổi thứ bảy về với cha mẹ ruột, ăn món ăn Việt Nam do mẹ nấu, nghe ba kể về những đọa đày ông phải gánh chịu trong các trại "cải tạo". Và mỗi chủ nhật, về lại căn phòng thân thuộc mà cha mẹ nuôi đã dành cho Hanh từ ngày cậu bé Việt Nam, da còn đậm màu nắng gió của trại tỵ nạn, chân ướt, chân ráo đến Mỹ. Căn phòng dù không còn được dùng thường xuyên, nhưng trong closet vẫn còn treo hai bộ áo quần kỷ niệm của Hanh, một bộ Hanh mặc khi mới đến Mỹ được người bảo trợ ra đón, và bộ kia là bộ áo quần đầu tiên Hanh được bố mẹ nuôi mua cho. Ở một góc bàn học, vẫn còn cái lọ thủy tinh có cắm hai lá cờ nhỏ, một sọc trắng đỏ với năm mươi ngôi sao của Mỹ, một màu vàng với ba sọc đỏ của Việt Nam. Trên tường vẫn còn hình Hanh năm mười tám tuổi, chững chạc trong áo mũ và dây choàng thủ khoa (valedictorian) ngày tốt nghiệp Trung học.
Một chi tiết rất cảm động trong câu chuyện của cậu bé tỵ nạn ở Pulau Bidong năm xưa là hồi mới đến Mỹ, mỗi lần được cho kẹo chocolate, Hanh chỉ ăn một phần nhỏ và để dành hầu hết kẹo để gởi về Việt Nam cho hai em và cho các bạn. Điều "bí mật" đó bị phát hiện khi hai ông bà Mỹ thấy cậu con nuôi ăn uống rất chừng mực từ tốn nhưng luôn luôn xin được mua thêm chocolate. Kẹo "để dành" thường được Hanh gói cẩn thận trong những túi nylon dán kín để trong một góc tủ áo quần. Halloween đầu tiên ở Mỹ, đi học về, làm xong bài vở, trời vừa sụp tối, Hanh xin phép ba mẹ nuôi cho đi xin kẹo. Cậu bé miệt mài đi bộ một mình trong thời tiết se lạnh đầu mùa thu ở miền Đông Bắc trên bốn năm con đường, gõ cửa từng nhà xin kẹo. Kêt quả rất khả quan, sáng hôm sau Hanh gởi được một thủng kẹo mười hai lbs (khoảng 5kg) về Việt Nam mà cước phí còn cao hơn cả tiền mua kẹo. Có nguồn gốc là người Tiệp Khắc, một thời đã phải sống dưới chế độ Cộng sản, bố mẹ nuôi của Hanh hiểu ngay mọi chuyện. Và ông bà càng quý Hanh, cậu bé Việt Nam tuổi còn nhỏ nhưng tấm lòng đã rất lớn.
Đến phiên tôi, tôi cũng kể cho Hanh nghe giòng đời đã đẩy đưa tôi từ trại tỵ nạn năm xưa đến California như thế nảo. Có nằm mơ, tôi cũng không tưởng tượng nổi mình gặp lại được cậu học trò đen nhẻm vì vị mặn của gió biển ở Mã Lai, có đôi mắt sáng nhưng lúc nào cũng buồn ở trường Trung học trên đảo Bidong ngày nào. Ước gì tôi cũng gặp được Huyên và Việt, cũng như đã hội ngộ rất bất ngờ với Hanh ở một góc trường MIT ở miền Đông Bắc nước Mỹ. Nhưng dù chưa hay không có dịp tái ngộ với Huyên và Việt, tôi vẫn tin hai em đã rất thành công như Hanh, chứng minh mình có thể làm được nhiều điều, chẳng hạn như chuyện học hành, mà có một thời ở trong nước , sau tháng 4/75, nhà cầm quyền không cho phép mình làm.
Tất cả chúng tôi dều giống nhau ở chỗ phải xa nhà, bỏ đất nước ra đi một mình, dù lúc nào trong tâm tưởng của chúng tôi cũng có một vị trí trang trọng cho quê hương chôn nhau cắt rốn đã phải bỏ lại sau lưng. Chúng tôi đã phải mang cả sinh mạng của mình ra đánh cuộc với định mệnh, với đại dương; một cái giá không một khoản tiền nào, dù lớn đến đâu có thể mua được. Những được mất với cuộc đời hãy còn ở trước mặt, nhưng chắc chắn chúng tôi sẽ cố gắng không ngừng để xứng đáng với cái giá mình phải đánh đổi.
Chia tay Hanh hôm đó, tôi mang theo câu nói của Hanh với khuôn mặt rất nghiêm trang, già trước tuổi, và vẫn với đôi mắt buồn xa vắng như lần đầu tiên tôi gặp em ở trường Trung học trên đảo tỵ nạn:
- Điều em vui nhất là đã đền đáp được phần nào ơn nghĩa sinh thành của cha mẹ ruột và ân tình cưu mang của bố mẹ nuôi. Em vẫn cố gắng hết mình, cố gắng đến hết cuộc đời để luôn làm cho cả Ba Mẹ lẫn Mommy, Daddy của em vui Điều duy nhất không chắc em có làm được hay không, là "gánh sơn hà" mà đôi lúc Ba em và các bác, các chú cùng thời vẫn nửa đùa nửa thật là đã trao lại cho thế hệ của mình.
Hanh dừng một chút rồi hỏi một câu mà đến bây giờ tôi vẫn chưa biết cách trả lời:
- Gánh sơn hà nặng lắm một mình em hay cả hai chị em mình không thể nào gánh nổi! Chị ơi, làm thế nào để cả thế hệ của mình đủ sức gánh nổi sơn hà hả chị?
Câu hỏi đó cứ quanh quẩn trong tôi và chắc là phải còn lâu, lâu lắm, tôi mới biết được câu trả lời chính xác Nhưng tôi tin là chỉ cần một phần mười của một thế hệ Việt Nam (cả ở hải ngọai lẫn trong nước) biết đoàn kết, có nhiệt tâm gánh vác non sông với chí khí của Trần Quốc Toản, với lòng yêu nước của Nguyễn Thái Học và với đầu óc của Lê Quý Đôn thì gánh sơn hà sẽ nhẹ nhàng như cái cặp đi học rất thân thuộc của một thời đèn sách./-
(Viết cho Lan Hương, Tiến, Tuấn và những thuyền nhân "đi biển" một mình).
Anh hùng tử, khí hùng bất tử !!!
Views : 213
LĐ81BCND Và Những Ngày Tháng Tư
Những chi tiết trong bài này được tóm tắt theo ký ức của các quân nhân thuộc Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhẩy Dù (*) nhằm vẽ lại một góc độ nhỏ nhoi của chung cuộc đau thương bức tử mà những người lính LĐ81/BCND nói riêng, và của toàn thể Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nói chung đã phải gánh chịu vào những ngày tháng Tư năm 1975 và những năm sau đó...
Suốt năm 1974 cho đến ngày 30/4/75, Liên Đoàn 81/BCND tăng phái cho Quân Đoàn III để hoạt động trong các chiến khu Dương Minh Châu, chiến khu D, và các vùng rừng núi thuộc các tỉnh Tây Ninh, Bình Dương, Bình Long, Phước Long, Bình Tuy, Phước Tuy, Long Khánh, và Biên Hòa.
Nhiệm vụ của Liên Đoàn 81 là thả các toán thám sát vào hoạt động những nơi mà những đơn vị khác ít khi hành quân vào vì lực lượng địch quá đông, vì điạ thế hiểm trở, vì ngoài tầm hoạt động của pháo binh, vì xa nơi hoạt động của các đơn vị bạn, v.v. Các toán thám sát có cái lợi điểm là quân số ít (mỗi toán chỉ có 6 người), dễ dàng lẫn tránh khi gặp địch, dễ dàng thoát hiểm khi bị địch truy kích vì đã được huấn luyện kỹ về mưu sinh thoát hiểm. Nhiệm vụ các toán là thu lượm tin tức hoạt động của địch để báo cáo lên cấp trên, tùy theo mục tiêu, các toán có thể tổ chức đột kích, phục kích bắt tù binh khai thác tin tức. Có những mục tiêu ngoài khả năng của toán và theo yêu cầu của Quân Đoàn, Liên Đoàn 81 thỉnh thoảng cũng mở những cuộc đột kích vào hậu tuyến địch như trận phục kích tiêu diệt đoàn xe tiếp tế của địch ở thung lũng Ashau thuộc tỉnh Thừa Thiên năm 1968 và ở vùng tam biên ( biên giới Việt, Miên, Lào) thuộc tỉnh Kontum năm 1972. Ngoài nhiệm vụ phục kích, đột kích nói trên, tùy theo tình hình Liên Đoàn 81 còn có thể tập trung lại để hành quân phối hợp với các đơn vị khác như ở tại thành phố An Lộc năm 72, Quảng Trị năm 73, và Phước Long năm 75.
LĐ81/BCND trong trận Phước Long
Ngày 3 tháng 1 năm 75, Liên Đoàn 81 được lệnh tăng viện cho tỉnh lỵ Phước Long, trung tá Vũ xuân Thông và thiếu tá Nguyễn Sơn chỉ huy 300 quân chuẩn bị nhảy vào Phước Long. Cuộc đổ quân được chia ra làm hai đợt, nhưng ngày hôm đó không thực hiện được vì phi trường Biên Hòa bị pháo kích khá nặng, một số trực thăng bị hư hại, một số phi công có nhà ở ngoài không vào phi trường sớm được. Giờ xuất quân ấn định là 9 giờ sáng nhưng mãi đến chiều, số trực thăng tập trung ở phi trường Long Bình để đưa BCD nhẩy vào chiến trận Phước Long mới đủ túc số ấn định. Đúng 2 giờ chiều, 30 trực thăng cùng cất cánh. Sau một giờ bay, chiến trận Phước Long hiện ra trước mắt vị CHT/LĐ81. Đỉnh núi Bà Rá đã lọt vào tay Việt Cộng. Từ đó, pháo địch rót vào quân ta không một viên nào ra ngoài mục tiêu, tất cả thành phố như chìm trong biển lửa. Có thể thả BCD xuống được nhưng sao giờ đổ quân đó, các phi tuần oanh tạc vẫn chưa thấy xuất hiện để làm tê liệt địch quân ở núi Bà Rá? Qua hai vòng bay ngoài thành phố Phước Long để tránh cao xạ phòng không, vẫn không thấy phi tuần đến, lại thêm trời chiều Phước Long với khói súng mù mịt khắp thành phố, với núi rừng âm u bao quanh Phước Long, màn đêm kéo đến những nơi này sớm hơn ở đồng bằng. Nếu thả BCD xuống vào khoảng 3 giờ 30 chiều thì với khoảng cách từ sân bay Long Bình đến Phước Long là gần 100 cây số, sớm nhất là phải 5 giờ 30 chiều đợt đổ quân thứ hai mới đến kịp. Giờ đó, màn đêm đã hoàn toàn phủ kín Phước Long, trực thăng và phi cơ oanh kích đành bó tay, chắc chắn anh em BCD đã thả xuống đợt đầu không thể nào đương đầu với làn sóng người "sinh Bắc tử Nam" được. Không thể hy sinh BCD ngu xuẩn như thế, CHT/LĐ81 quyết định không thả quân BCD và sẵn sàng lãnh nhận trách nhiệm và mọi hậu quả.
Ngày 4/1/75, trước 9 giờ đã có đầy đủ số trực thăng như dự định nên 300 quân đã vào được Phước Long với một số tổn thất tương đối. 300 quân nhảy vào một chiến trường mà hết 90% vị trí phòng thủ đã lọt vào tay địch quân cộng với tinh thần quân trú phòng quá suy sụp, hàng ngũ chiến đấu không còn nguyên vẹn thì giờ phút khai tử Phước Long chẳng còn bao lâu nếu không được tiếp tục đưa thêm quân tăng viện vào. Phần lực lượng còn laị của Liên Đoàn 81 đã sẵn sàng để vào tiếp viện nhưng lệnh trên không cho nên ngày 6/1/75, Phước Long đã hoàn toàn lọt vào tay Cộng quân. Liên Đoàn 81 đã xử dụng trực thăng cứu thoát được trên 100 quân ở xung quanh rừng Phước Long, trong số này có 7 quân nhân thuộc đơn vị bạn, số còn lại kể như bị chết, bị bắt hay mất tích.
Trớ trêu thay, sau khi Phước Long thất thủ, Không quân đã phải ra tòa vì tội "mất Phước Long", đó là một quyết định bất công. Đúng ra là BTL/QĐIII, BTL/KQ và chính CHT/LĐ81 phải ra tòa mới đúng. Đúng hơn nữa, người đã quyết định đưa BCD vào "biển lửa" khi đã có ý định bỏ rơi Phước Long mới là kẻ có tội. Khi KĐ43 Chiến Thuật phải ra điều trần trước hội đồng tướng lãnh, CHT/LĐ81 đã đến buổi họp, ông xin được phát biểu trước và sau đó vội vã ra về vì Phước Long mất, bộ chỉ huy BCD chỉ mới cứu ra được trên 100 quân, trong đó có trung tá Vũ Xuân Thông, CHT Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật, thiếu tá Nguyễn Sơn (CHP/BCH/CT) , đại úy Trương Việt Lâm (biệt đôi trưởng BĐ 811), và đại úy Lê Đắc Lực (biệt đội trưởng BĐ 814), (những vị này hiện đang ở Hoa Kỳ), còn trên 100 BCD khác nữa đang cần có CHT/LĐ81 trên các phi vụ tìm kiếm. Gần 9 năm liên tục lặn lội trên các chiến trường với anh em BCD, CHT/LĐ81 nhận thấy Không Quân, nhất là anh em trực thăng đã thường cùng chết chung với BCD, do đó CHT/LĐ81 đã xin sẵn sàng nhận tội làm mất Phước Long trước tòa án binh chứ không phải Không Đoàn 43 Chiến thuật.
Xin được trích đăng một đoạn do Không Quân Đào Vũ Anh Hùng đã viết trên đặc san Lý Tưởng của Không Quân liên quan đến "sự kiện Phước Long":
Đại tá Triệu, xước danh "pilot Thái Bình" mà Dương Hùng Cường mô tả là "lái máy bay trước khi biết lái xe đạp", Không Đoàn Trưởng KĐ43 Chiến Thuật yêu cầu tôi đại diện Không Đoàn, làm "luật sư" trong buổi điều trần trước hội đồng tướng lãnh. Đại tá Phan Văn Huấn, Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn 81 Biệt Kích Dù có một thiếu úy tùy viên đi theo, vào phòng họp sau cùng. Ông xin được nói trước với lời lẽ hiên ngang đầy khí phách:
- "Mất Phước Long, lý do tại sao, quý vị đều biết nhưng không ai nói ra. Phần BCD 81, chúng tôi vào chỗ chết đã đành, bởi nghề nghiệp chúng tôi là chọn chỗ chết để đi vào. Riêng với anh em Không Quân, các phi hành đoàn trực thăng đã làm quá bổn phận của họ, chết lây với chúng tôi thật tội nghiệp. Nay đưa họ ra tòa là điều tôi cho là vô lý. Nếu có lỗi làm mất Phước Long, tôi nhận lỗi. Xin quý vị ở lại tiếp tục họp và cho tôi biết kết quả. Tôi xin phép ra về vì còn nhiều việc phải làm".
Đại tá Huấn đứng nghiêm chào và quay ngắt đi ra. Ong đến như một cơn gió và ông đi cũng như cơn gió. Ông xuất hiện chưa đầy năm phút, nói một lời ngắn ngủi nhưng tôi ghi nhớ mãi cái giây phút lịch sử và hình ảnh đó của ông.
Hội đồng tướng lãnh ra về, giao việc điều tra cho Đại tá Nguyễn Huy Lợi, Nha Quân Pháp, ở lại làm việc. Tôi đã làm trọn vẹn vai trò "luật sư", biện hộ cho Không Đoàn 43 Chiến Thuật. Ngày di tản, gặp lại Đại tá Nguyễn Huy Lợi trên boong tầu Mỹ, trước đông anh em, ông đã khen tôi không tiếc lời về việc tôi dám nói ra sự thật vụ mất Phước Long.
Bộ Chỉ Huy 3 Chiến Thuật của LĐ81/BCND tại bộ Tổng Tham Mưu
Công việc thả các toán thám sát vào sâu trong các vùng hoạt động của Cộng quân để thu thập tin tức vẫn được tiếp tục như trước. Đến ngày 26 tháng 4 năm 75, Liên Đoàn 81 được lệnh đưa một bộ chỉ huy chiến thuật khoảng 1000 quân về tăng cường phòng thủ bộ Tổng Tham Mưu. Bộ chỉ huy 3 chiến thuật do thiếu tá Phạm châu Tài nhận lãnh trách nhiệm này. Thiếu tá Phạm châu Tài đặt bộ chỉ huy ở cao ốc trước cổng bộ Tổng Tham Mưu và chia quân bố trí những điểm trọng yếu xung quanh bộ Tổng Tham Mưu như sân banh quân đội, nghĩa trang Bắc Việt, ngã năm quân khuyển, sân golf, v.v. Riêng việc bố phòng bên trong hàng rào bộ Tổng Tham Mưu thì do quân sĩ cơ hữu của bộ Tổng Tham Mưu đảm trách.
Ngày 30 tháng 4 năm 75, Cộng quân từ hướng ngã ba ông Tạ tiến về ngã tư Bảy Hiền thì bị chận đánh bởi hậu cứ Sư đoàn Nhảy Dù, từ lăng Cha Cả đến cổng bộ Tổng Tham Mưu thì gặp sự chống trả của LĐ81 Biệt Cách Dù và Nha Kỹ Thuật. Lực lượng địch gồm có bộ binh và chiến xa được pháo binh yểm trợ, tuy địch đông và mạnh như thế nhưng địch vẫn không dập tắt được sức kháng cự của Nhảy Dù, Biệt Cách Dù, và Nha Kỹ Thuật. Mặc dầu lệnh tổng thống Dương văn Minh đã phát đi từ sáng sớm, kêu gọi QLVNCH ngưng chiến và giao nạp vũ khí cho Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam . Cuộc điện đàm giữa thiếu tá Phạm châu Tài với chuẩn tướng Nguyễn hữu Hạnh và tổng thống Dương văn Minh sau này đã được thiếu tá Phạm châu Tài vắn tắt lại như sau:
9:00 giờ sáng ngày 30-4-75 Bộ chỉ huy 3 chiến thuật của LĐ81/BCND đang quần thảo với Việt Cộng trước cổng bộ Tổng Tham Mưu ở Lăng Cha Cả thì lệnh đầu hàng của tổng thống Dương văn Minh đã ban ra. Tôi chạy vào văn phòng trong bộ TTM mà đêm hôm trước tôi đã họp với tướng Vĩnh Lộc, nhưng những người lính cơ hữu gác ở đó cho biết tướng Vĩnh Lộc đã rời bộ Tổng Tham Mưu từ 6:00 giờ sáng. Tất cả các tướng lãnh và các sĩ quan mang cấp bậc đại tá đã họp trong phòng này với tôi vào đêm 29 tháng 4 đều vắng mặt. Tôi bốc điện thoại lên quay số của văn phòng Phủ Tổng Thống để được đàm thoại với tổng thống Dương văn Minh, tôi hết sức ngạc nhiên khi người trả lời xưng danh là chuẩn tướng Nguyễn hữu Hạnh. Tôi nói muốn được nói chuyện với tổng thống Dương văn Minh, tướng Hạnh hỏi lại tôi là ai?
Tôi trả lời:" Tôi là Th/tá Phạm châu Tài, chỉ huy trưởng bộ chỉ huy 3 chiến thuật của Liên Đoàn 81/ Biệt Cách Dù đang đóng quân ở Bộ Tổng Tham Mưu, tướng Hạnh đã biết tôi vì tướng Hạnh cũng có mặt trong buổi họp ở BTTM vào đêm 29/4/75 nên khoảng vài giây đồng hồ sau tướng Hạnh đưa diện thoại cho tổng thống Dương văn Minh. T/t Minh nói:
-Đại tướng Dương văn Minh tôi nghe đây, có chuyện gì đó?
Tôi mới trình bày với T/t Minh:" Tôi là chỉ huy trưởng cánh quân đang tử chiến với Việt Cộng ở bộ Tổng Tham Mưu, tôi đang cố liên lạc với bộ TTM thì lệnh ngưng chiến đã ban ra và quân của Việt Cộng vẫn còn đang tiến về thủ đô. Tôi vào trong bộ Tổng Tham Mưu thì không còn một tướng lãnh nào ở đây, họ đã bỏ chạy hết do đó tôi muốn nói chuyện với tổng thống để xin quyết định." T/t Minh trả lời rằng:
-Các em chuẩn bị bàn giao đi.
-Có phải là đầu hàng không? Tôi hỏi lại.
-Đúng vậy, ngay bây giờ xe tăng của Việt Cộng đang tiến vào dinh Độc Lập. T/t Minh trả lời.
Tôi mới nói rằng:" Nếu xe tăng của Việt Cộng tiến về dinh Độc Lập thì chúng tôi sẽ đến cứu tổng thống, nếu tổng thống ra lệnh đầu hàng thì tổng thống có chịu trách nhiệm với hơn 1000 quân đang tử chiến ở Bộ Tổng Tham Mưu hay không?".
T/t Minh trả lời:" Tuỳ ý các anh em." xong cúp máy....
Mặc dù đã có lệnh đầu hàng của tổng thống Dương văn Minh nhưng sự chiến đấu của nhiều đơn vị thuộc QLVNCH vẫn tiếp tục. Diễn tiến của bộ chỉ huy 3 chiến thuật thuộc LĐ81/BCND kể từ ngày 29/4/75 được đúc kết như sau:
12:30 giờ trưa ngày 29/4/75, trung đội 1 do th.úy Nguyễn công Danh thuộc biệt đội 819 đã giải vây và bảo vệ 2 chuyến xe buýt đang bị cướp có võ trang uy hiếp tại cổng phi trường Tân Sơn Nhất. Sau khi ổn định tình hình trung đội 1 đã hộ tống 2 chuyến xe này vào phi trường. Hành khách lên phi cơ, và phi cơ cất cánh lúc 2:45 phút chiều. Đây cũng là chuyến phi cơ cuối cùng cất cánh tại phi trường Tân Sơn Nhất vào thời điểm đó. Sau đó trung đội 1 trở về phối trí với biệt đội 819 do Đại úy Trương việt Lâm chỉ huy đang rải quân ở trường Sinh Ngữ Quân Đội và Lục Quân Công Xưởng. Đại úy Lâm đã cho các quân nhân biết xử dụng thiết giáp M113 lái 3 thiết giáp M113 còn mới tinh chạy ra khỏi công xưởng để lập tuyến phòng thủ bên ngoài.
Trong đêm 29/4/75 Đại úy Nguyễn Hiền nhận lệnh chỉ huy đoàn quân xa chuyên chở những quân dụng nặng, và tải thương binh của LĐ81/BCND từ Biên Hoà trở về trại hậu cứ của LĐ81/BCND là trại Bắc Tiến ở Trung Chánh. lúc 3 giờ sáng ngày 30/4/75. Khi đoàn quân xa đến cầu Bình Phước thì Địa Phương Quân gác đầu cầu cho biết trại Bắc Tiến và các cơ sở quân sự trong vùng đó đã bị VC chiếm đóng. Đ/úy Hiền liền cho đoàn quân xa đổi hướng tiến đến cầu Bình Triệu và tìm đường về bộ Tổng Tham Mưu để sát nhập lại với bộ chỉ huy 3 chiến thuật của LĐ81/BCND đang cố thủ tại đó. Đ/úy Hiền bắt tay liên lạc với BCH/3/CT của LĐ81/BCND lúc 5:30 sáng.
Cùng ngày 30/4/75 lúc 2 giờ sáng, trận chiến tại cổng phi trường Tân Sơn Nhất, bộ Tổng Tham Mưu vẫn tiếp tục giữa VC và các đơn vị của LĐ81/BCND. Các chốt của LĐ81/BCND phía sau cổng bộ Tổng Tham Mưu đã dùng lựu đạn mini để ngăn chặn các toán đặc công của Việt Cộng đang tìm cách đột nhập. Lựu đạn và chất nổ được xử dụng tối đa, sau 1 giờ rưỡi giao tranh VC không tiến được đành rút lui khỏi cổng sau của bộ Tổng Tham Mưu.
Đến 6 giờ sáng 5 chiến xa T54 và đoàn quân tùng thiết của VC trên đường tiến vào Sài Gòn đã bị lực lượng của Sư Đoàn Nhẩy Dù và Liên Đoàn 81/BCND chận đánh trước cổng phi trường Tân Sơn Nhất, 4 chiến xa của VC bị phá huỷ, chiếc sau cùng quay trở lại chạy thoát.
Các biệt đội của LĐ81/BCND trấn thủ trước cổng bộ TTM là biệt đội 817 do trung úy Lê văn Lợi chỉ huy, và biệt đội 818 do đại úy Nguyễn Ánh chỉ huy.
7 giờ sáng một đoàn chiến xa khác của Việt Cộng hướng vào cổng chính bộ Tổng Tham Mưu.. Một toán của LĐ81/BCND phòng thủ trên cao ốc đã dùng M72 bắn cháy chiếc đầu tiên, chiếc thứ 2 đã dùng súng đại pháo trên pháo tháp bắn vào cao ốc làm tê liệt tuyến phòng thủ đó, nhưng chiến xa này cũng bị bắn cháy trước cổng bộ Tổng Tham Mưu do quân nhân thuộc biệt đội 817 của trung úy Lê văn Lợi.
Sau 10 giờ sáng VC đã tràn ngập vào phi trường Tân Sơn Nhất, có một xe Toyota Corona dân sự chạy đến cổng bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà bị quân nhân LĐ81/BCND chận lại không cho vào. Trên xe có hai người đàn ông, một người tên Quân mặc quân phục của Quân Vận mang cấp bậc thiếu tá, người kia mặc thường phục xưng là nhà báo muốn vào bộ TTM để treo cờ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Đại úy Nguyễn Hiền đã cho binh sĩ tịch thu cờ và bắt giữ 2 nhân vật đó. Sau khi hỏi cung được biết họ chỉ là thành phần đón gió trở cờ nên BCH 3 chiến thuật đã thả 2 người đó trước cổng bộ TTM.
10:30 sáng đại úy Nguyễn hữu Hưng chỉ huy phó bộ chỉ huy 3 chiến thuật của LĐ81/BCND và đại úy Nguyễn Hiền đi đến quyết định rút đơn vị khỏi bộ TTM, trở về Biên-Hoà để tái hợp với bộ chỉ huy hành quân của LĐ81/BCND. Trên đoàn quân xa gồm những quân nhân của tất cả các đơn vị còn muốn chiến đấu, trong đoàn quân xa này được tăng cường thêm 8 chiếc thiết giáp M41 và M113 từ phi trường Tân Sơn Nhất về phối hợp. Nhưng khi đoàn xe đang di chuyển trên đường Võ di Nguy, Phú Nhuận thì bị VC phục kích, chiếc quân xa đầu tiên bị bắn cháy, đoàn xe bị nghẹt lại, đại úy Hưng cho lệnh anh em bỏ đoàn quân xa và tìm đường thoát thân để tránh sự trả thù.
1 giờ trưa ngày 30/4/75. Riêng biệt đội 819 của đại úy Trương việt Lâm sau khi tập họp được quân nhân của biệt đội, các anh em đã chất vũ khí, đạn được từ Lục quân công xưởng lên 2 xe GMC bít bùng để chạy về Biên Hoà hy vọng kết hợp với bộ chỉ huy Liên Đoàn 81/BCND tại đó. Nhưng khi 2 chiếc quân xa này chạy đến ngã 5 Hạnh Thông Tây bị Việt Cộng chặn lại. Dân chúng bên đường bu quanh 2 chiếc GMC kêu gọi anh em biệt đội 819 bỏ súng, họ nói :"Hết chiến tranh rồi, các anh buông súng đi, Biệt Cách Dù buông súng đi..." Biệt đội 819/LĐ81/BCND đã giao nạp vũ khí tại ngã 5 Hạnh Thông Tây lúc 2:15’ chiều 30/4/1975. Anh em biệt đội 819/LĐ81/BCND chia tay nhau tại đó.
Bộ chỉ huy Liên Đoàn 81/BCND và 2 bộ chiến thuật ở Biên Hoà
Thủ đô VNCH trong giờ phút đó chỉ còn 2 điểm kháng cự ở ngã tư Bảy Hiền và Lăng Cha Cả. Chẳng bao lâu sau đó, tiếng súng cả hai nơi không còn nổ nữa, anh em rời vũ khí và chia tay nhau mỗi người mỗi ngả!
Bộ chỉ huy 1 chiến thuật do tr/tá Vũ xuân Thông chỉ huy, bộ chỉ huy 2 chiến thuật do th/tá Nguyễn Sơn chỉ huy cùng với bộ chỉ huy Liên Đoàn 81 do đại tá Phan văn Huấn chỉ huy với quân số vào khoảng 2000 quân nhân đang đóng quân ở phía bắc phi trường Biên Hòa.
Ngày 28 tháng 4/75 lúc 12 giờ trưa, đ/tá Huấn được lệnh tr/tướng Nguyễn văn Toàn gọi về bộ tư lệnh QDIII họp khẩn, nhưng Liên Đoàn 81 không còn có trực thăng tăng phái ngày hôm đó và đường xe đến bộ tư lệnh QDIII không còn chạy được nên tr/tướng Toàn đã cho trực thăng đến đón đ/tá Huấn về họp.
Tr/tướng Toàn chủ tọa buổi họp với các sĩ quan gồm có: đ/tá Lưu Yểm tỉnh trưởng Biên Hòa, tr/tá Lô tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 7 Nhảy Dù, đ/tá Phan văn Huấn chỉ huy trưởng Liên Đoàn 81/BCND và chừng 20 sĩ quan của bộ tư lệnh QDIII.
Trong phòng họp không khí thật căng thẳng và hồi hộp, tr/tướng Toàn nói: "Ngày mai (29/4/75) chúng ta rút khỏi Biên Hòa để về phòng thủ tuyến Thủ Đức, các đơn vị tuần tự rút lui, nhưng phải có trật tự không được lộn xộn như ở vùng I và vùng II; Liên Đoàn 81/BCND là lực lượng đi sau cùng (đoạn hậu) và có nhiệm vụ phá hủy chiếc cầu trên xa lộ Đại Hàn gần phi trường Biên Hòa".
Sau khi họp ở QĐIII về, đêm 28/4/75 Liên Đoàn 81/BCND liền di chuyển vào phi trường Biên Hòa bố trí quân ở đó. Riêng biệt đội 812 do đại úy La-Cao chỉ huy có nhiệm vụ phải giữ an-ninh và kiểm soát lưu thông trên cầu Mới cho đến khi các đơn vị bạn và LĐ81/BCND qua khỏi cầu để tiến về Thủ Đức lập tuyến phòng thủ.
Sáng 29/4/75 đơn vị di chuyển qua cầu xa lộ Đại Hàn, rút khỏi thành phố Biên Hòa đúng theo lệnh tr/tướng Toàn đã nói (phi trường Biên Hòa do sư đoàn 3 Không Quân trấn đóng nhưng Không Quân đã rút đi từ mấy ngày trước).
Đúng 8 giờ sáng thì Liên Đoàn 81/BCND qua khỏi cầu Mới và biệt đội 812 cùng toán công-binh của đại úy Hoàng tăng phái cho Liên-Đoàn 81 là đơn vị sau cùng qua cầu và đã hoàn tất nhiệm vụ dùng chất nổ phá chiếc cầu đó. Đơn vị vừa qua khỏi cầu thì nghe lệnh ông Vũ văn Mẫu, tân thủ tướng VN yêu cầu người Mỹ rút ra khỏi VN trong vòng 24 tiếng đồng hồ.
Đây là một sự kiện quan trọng diễn ra trong giờ phút hấp hối của miền Nam. Trước tình thế đó, Liên Đoàn 81/BCND liền rút thẳng vào rừng Cò Mi bố trí và tìm cách liên lạc với thượng cấp và các đơn vị bạn để hiểu rõ tình hình, ngõ hầu chọn lựa đường lối hành quân thích hợp cho Liên Đoàn 81/BCND. Suốt đêm hôm đó, bộ chỉ huy và ban truyền tin của Liên Đoàn 81/BCND đã cố gắng bắt liên lạc với các đơn vị bạn qua các tần số nhưng không có kết quả!
Sáng 30/4/75, Liên Đoàn 81/BCND men theo đường rừng di chuyển dần về hướng Thủ Đức để hy vọng gặp được đơn vị bạn nhưng hoàn toàn tuyệt vọng. Trên đường di chuyển LĐ81/BCND chỉ thỉnh thoảng bắt gặp các quân trang quân dụng của các đơn vị bạn bỏ lại!
Khi Liên Đoàn 81/BCND đến gần lăng chú Hỏa (gần núi Châu Thới), đơn vị dừng quân và tung các toán thám sát ra các xa lộ Lái Thiêu, Đại Hàn quan sát tình hình.
Các toán thám sát báo về bộ chỉ huy LĐ81/BCND quân xa của Việt Cộng đang chạy công khai trên các trục lộ mà không gặp một sự kháng cự nào của đơn vị trách nhiệm trong vùng. Tất cả các nơi như là đều đã rã ngũ hết rồi!
Sau đó Đ/tá Huấn liền họp các cấp chỉ huy và nói "Chúng ta đã cố gắng liên lạc với cấp trên và các đơn vị bạn nhưng tất cả đều vô vọng, bây giờ tình hình như thế này xin anh em cho biết ý kiến."
Đại đa số ý kiến anh em đều nói: "một con én không làm nổi mùa xuân, hơn nữa chúng ta không nhận được lệnh gì của thượng cấp hết, nếu bây giờ chúng ta vẫn tiếp tục chiến đấu mà không còn đơn vị yểm trợ thì cuối cùng đơn vị ta sẽ bị Việt Cộng tập trung tiêu diệt mà thôi, không còn cách nào khác chúng ta phải bắt buộc làm theo lệnh của tổng thống Dương văn Minh."
Đ/tá Huấn yêu cầu các cấp chỉ huy tập họp anh em xung quanh một ngôi mộ có gò mả khá cao.
Đứng trên gò mả đ/tá Huấn bùi ngùi nói trước hàng quân : " Chúng ta sinh trưởng ở miền Nam, chúng ta có bổn phận phải bảo vệ miền Nam, bây giờ chúng ta thua rồi, chúng ta phải cay đắng tuân lệnh tổng thống Dương văn Minh, giao nạp vũ khí cho Việt Cộng. Thưa anh em, chúng ta là một đơn vị ưu tú của QLVNCH, qua bao nhiêu năm chiến đấu bên nhau, trong giờ phút lịch sử này, chúng ta phải chứng tỏ là một đơn vị có kỷ luật không như những đội quân ô hợp, vậy yêu cầu anh em theo tôi tiến ra xa lộ Đại Hàn, các biệt đội sắp hàng tư và di chuyển về hướng Saigòn để tiếp xúc với đơn vị Việt Cộng mà bàn giao vũ khí rồi anh em chúng ta giải tán và chia tay nhau; Xin anh em nhớ rằng, anh em không có tội gì cả, vì anh em phải tuân hành theo lệnh của tôi, tôi sẵn sàng nhận tội và tôi sẽ đi đầu, nếu Việt Cộng có bắn thì họ sẽ bắn tôi trước".
Trên xa lộ Đại Hàn gần lăng chú Hỏa, quân nhân của Liên Đoàn 81/BCND sắp hàng tư tiến về hướng Saigòn. Hai bộ chỉ huy chiến thuật và bộ chỉ huy Liên Đoàn 81 quân số gần 2000 quân nhân, đội hình hàng tư dài hơn cây số. Đoàn quân yên lặng di chuyển trên xa lộ, không khí thật ngột ngạt khó thở, những người lính súng đạn còn trên tay nhưng cái lệnh đầu hàng đã làm cay cay lòng mắt. Những hình ảnh nhạt nhoà của những người dân đứng trước mái nhà tranh nhìn đoàn quân não nề tiến bước. Khi LĐ81/BCND đang di chuyển trên xa lộ Đại Hàn thì xe Việt Cộng cũng di chuyển ngược xuôi bên đội hình Liên Đoàn 81/BCND, các cán binh Cộng Sản trên xe nhìn Liên Đoàn 81/BCND với nét mặt tò mò và ngạc nhiên khi thấy quân nhân của LĐ81/BCND trên tay vẫn còn mang vũ khí. Khi Liên Đoàn 81/BCND đã di chuyển khá xa thì có 2 xe từ hướng Saigòn chạy đến, trên mỗi xe có đặt máy quay phim. Việt Cộng quay phim từ đầu đội hình cho đến cuối và ngược lại từ cuối lên đầu đội hình, Việt Cộng quay nhiều về toán quân đi đầu gồm nhiều cấp chỉ huy của Liên Đoàn 81/BCND.
Khi Liên Đoàn 81/BCND dừng lại cho anh em nghỉ ngơi thì đơn vị Việt Cộng đến tiếp xúc và quân nhân Liên Đoàn 81/BCND để vũ khí tại chỗ và giải tán....
Xin viết thêm là khi Liên Đoàn 81/BCND đang di chuyển trên xa lộ thì thấy rất nhiều thanh niên từ hướng Saigòn chạy ngược về Biên Hòa, đầu trần, đi chân không, mình mặc áo quần lót, tay cầm các giấy tờ tùy thân và tiền bạc cá nhân; đ/tá Huấn đi đầu đội hình liền kéo một anh chạy gần và hỏi: "Các anh chạy đi đâu mà ăn mặc như thế? anh đó liền trả lời: chúng tôi là lính, Việt Cộng tước vũ khí rồi bắt phải cởi áo quần giày dép và cho về nhà."
Chính đó là lý do mà khi tiếp xúc giao nạp vũ khí cho Việt Cộng, đ/tá Huấn đã yêu cầu Việt Cộng đừng bắt anh em 81 Biệt Cách Dù làm như thế vì sợ anh em chạm tự ái vì bị sỉ nhục mà sẽ không tuân theo lệnh giao nạp vũ khí; Việt Cộng đã đồng ý và cho xe đến chở các sĩ quan về nhà.
Riêng biệt đội 812 do đại úy La-Cao chỉ huy, binh sĩ dưới quyền đã được đ/úy La-Cao chỉ thị:"Các anh em khi tháo băng đạn ra khỏi súng nhưng nên để lại một viên trong buồng đạn để tránh sự tấn công bất ngờ hoặc trường hợp khi gặp Việt-Cộng nếu bị sỉ nhục quá đáng nếu anh em không dằn lòng được, anh em có thể xử dụng viên đạn cuối cùng."
Sau đó có 2 chiếc xe đến chở các sĩ quan về Saigòn, khi xe chạy đến làng đại học Thủ Đức, đ/tá Huấn yêu cầu xe dừng lại và nói với Việt Cộng: "sĩ quan chúng tôi có nhà ở trong khu này".
Thật tình thì anh em sĩ quan đâu có nhà ở trong khu sang trọng đó, vì anh em sĩ quan không muốn cho Việt Cộng biết nhà ở của mình.
Tại nơi đây anh em sĩ quan đã ngậm ngùi chia tay nhau!
Biệt Đội 813/LĐ81/BCND tại Tây Ninh
Giữa tháng 3/75, đại bộ phận Liên Đoàn 81/BCND do Trung Tá Chỉ Huy Phó Nguyễn Văn Lân chỉ huy được điều động lên Tây Ninh để cùng với Sư Đoàn 25 phòng thủ vùng Tây Bắc Sài Gòn (Tư Lệnh Sư Đoàn 25 lúc đó là Cựu Thiếu Sinh Quân Chuẩn Tướng Lý Tòng Bá).
Khi Liên Đoàn 81/BCND đến Tây Ninh, Căn Cứ Hành Quân đóng tại Xóm Chàm và Biệt Đội 813/BCND là thành phần trừ bị, có nhiệm vụ phòng thủ vòng ngoài Căn Cứ Hành Quân. Khoảng một tuần sau, Biệt Đội 813 được điều động lên Trảng Sụp, tiền đồn cực Tây của Tỉnh Tây Ninh để thay thế cho Biệt Đội 816/BCND của Đại Uý Lễ.
Cuối tháng tư, tình hình Tỉnh Tây Ninh rất căng thẳng, Tr/Tướng Toàn ra lệnh cho Liên Đoàn 81/BCND phải duy trì một Biệt Đội ở đó để giữ vững tinh thần quân sĩ tại tỉnh Tây Ninh khi đại bộ phận của LĐ81/BCND về Biên Hoà để nhận lệnh hành quân mới. Biệt Đội 813/BCND do Tr/Úy Lai Đình Hợi chỉ huy nhận lãnh trách nhiệm này. Trước khi rời Tây Ninh Tr/Tá Lân giao cho Tr/Úy Hợi một bao thư niêm mật và nói chỉ được mở khi hữu sự.
Lực lượng tại Tây Ninh lúc đó, ngoài các đơn vị cơ hữu của Tỉnh, chỉ còn có Trung Đoàn 49 của Sư Đoàn 25, do Trung Tá Khoa làm Trung Đoàn Trưởng và Biệt Đội 813/BCND.
Vài ngày sau, Đại Tá Tài, Tỉnh Trưởng Tỉnh Tây Ninh, ra lệnh đưa Biệt Đội 813 về phòng thủ dinh Tỉnh Tây Ninh. Vào thời điểm này, nhiều sự kiện xẩy ra như: Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, Tổng Thống Hương giao quyền cho Đại Tướng Minh.
Sáng ngày 29/4/75, Tr/Tá Khoa báo cho Tr/Úy Hợi biết: Đã mấy ngày qua, ông mất liên lạc với Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 25. Biệt Đội 813 cũng mất liên lạc truyền tin với Trung Tâm Hành Quân Liên Đoàn 81/BCND đang đóng ở Suối Máu và cả với hậu cứ tại Ngã Tư Anh Sương. Tr/Tá Khoa cho Tr/Úy Hợi biết thêm là ông đã họp bàn với Đại Tá Tài và một số các đơn vị trưởng của Tỉnh là ông có ý định ngày mai (30/4/75) ông sẽ rút về Sài Gòn, nếu Sài Gòn cũng mất, ông sẽ về Vùng 4 để tiếp tục chiến đấu vì ông có một số bạn bè ở đó. Tr/Tá Khoa hỏi Tr/Úy Hợi xin giúp ông một điều. Ông nói:
“Chiều nay, khi Trung Uý đi họp, (chiều nào Đại Tá Tài cũng chủ tọa buổi họp gồm các đơn vị trưởng của Tỉnh, và các đơn vị biệt phái) giữa buổi họp, Trung Uý cho một toán Biệt Cách Dù ập vào phòng họp dùng súng uy hiếp và ra lệnh cho tôi rút về Sài Gòn.”
Trung úy Hợi nói: “Tôi không làm được việc này vì nếu chưa có lệnh của Đại Tá Huấn thì tôi sẽ không rút, cho dù Tây Ninh chỉ còn mỗi Biệt Đội 813/BCND của tôi.”. Tr/Tá Khoa cố gắng thuyết phục Tr/Úy Hợi cùng rút và giải thích là mình rút để có thể tiếp tục chiến đấu chứ không phải để chạy. Tr/Úy Hợi hẹn sẽ trả lời ông vào buổi chiều.
Trưa ngày 29/4/75, Tr/Úy Hợi họp tất cả các Sĩ Quan, Hạ Sĩ Quan trong Biệt Đội. Sau khi thuật lại cuộc nói chuyện với Tr/Tá Khoa, Tr/Úy Hợi cho các anh em biết, trong lần tiếp tế gần nhất bằng trực thăng, Tr/Úy Hợi có nhận được lá thư tay của Đại Tá Huấn trong đó, ngoài những lời chỉ bảo, còn có câu nhắn nhủ ngắn gọn: “Hợi, tình hình rất nặng, nếu có gì, cùng Tử Thủ với Liên Đoàn”. Sau khi bàn luận, tất cả đồng ý rút.
Chiều ngày 29/4/75, Tr/Úy Hợi trả lời Tr/Tá Khoa là sẽ cùng rút với ông, nếu Tr/Tá Khoa cùng đồng ý rút chứ Tr/Úy Hợi không cho lính của Biệt Đội uy hiếp ông (Tr/Tá Khoa đồng ý và do đó đã không có buổi họp chiều hôm đó). Sau đó Tr/Úy Hợi ra lệnh cho Biệt Đội 813/BCND chuẩn bị để ngày mai di chuyển về hậu cứ, đồng thời bảo Trung Uý Phan Anh Tuấn Biệt Đội Phó vào Quân Y Viện Tỉnh để thông báo với các thương bệnh binh của BCND.
Sáng ngày 30/4/75, Tr/Tá Khoa cho biết lực lượng rút khỏi Tây Ninh chỉ có Trung Đoàn của ông và Biệt Đội 813/BCND (Đại Tá Tài ở lại không đi). Lệnh hành quân như sau: Di chuyển bằng xe về Sài Gòn, nếu bị phục kích, xuống xe đánh bật rồi đi tiếp (lúc đó quốc lộ nhiều đoạn bị cắt). Biệt Đội 813/BCND được phân chia đi cùng với Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 49. Khoảng 7 giờ sáng, tất cả đã lên xe chuẩn bị di chuyển. Đi theo Biệt Đội 813/BCND, ngoài các thương bệnh binh của BCND, còn có một người nữa là Trung Tá Trưởng Ty Cảnh Sát Tỉnh Tây Ninh (không nhớ tên vị Tr/Tá này). Đoàn xe đi được một đoạn, khoảng 8 giờ sáng, thì bị chặn lại. Tr/Úy Hợi cho quân nhân Biệt Đội xuống xe, tạt sâu vào bên phải quốc lộ, bố trí đợi lệnh. Kiểm điểm lại quân số, Biệt Đội 813 không thiếu một ai, kể cả các thương binh của BCND, ngoài ra còn có Tr/Tá Khoa và Tr/Tá Cảnh Sát. Lúc đó, Tr/Úy Hợi mở bao thư mật của Tr/Tá Lân khi ông rời Tây Ninh, trong bao thư có một bản đồ chỉ dẫn các điểm tập trung để đợi triệt xuất khi gặp nạn. Tr/Tá Khoa cho biết Việt Cộng đã chiếm Tỉnh Tây Ninh ngay sau khi đoàn xe rời Tây Ninh. Tr/Tá Khoa và Tr/Úy HợI quyết định di chuyển bộ về Sài Gòn. Để tránh gặp địch, Biệt Đội 813 đi men theo bờ ruộng, xa Quốc Lộ. Tr/Tá Khoa cho biết là ông đã mất liên lạc với Trung Đoàn của ông.
Trưa ngày 30/4/75, trong lúc đang di chuyển, một binh sĩ BCND mở radio đang phát ra: lời kêu gọi đầu hàng của Tổng Thống Dương văn Minh. Sau khi dừng quân bố trí, Tr/Tá Khoa nghĩ Vùng 4 bây giờ vẫn còn và ông muốn cùng anh em Biệt Đội 813 về đó. Sau đó đoàn quân 813/BCND lại vững tay súng tiến bước lên đường mặc bỏ sau lưng lời kêu gọi đầu hàng của Tổng Thống Minh.
4 giờ chiều ngày 30/4/75, Tr/Úy Hợi họp tất cả các Sĩ Quan, Hạ Sĩ Quan để hỏi ý kiến. Tất cả đều đồng ý để súng tại bờ ruộng ấp Bầu Nâu và đi ra quốc lộ.
Ngày 1/5/75, các anh em trong Biệt Đội 813/BCND vẫn giữ kỷ luật nghiêm minh theo lệnh Tiểu Đội Trưởng, Trung Đội Trưởng, Biệt Đội Phó Tuấn và Biệt Đội Trưởng Lai Đình Hợi.
Khoảng 9 giờ tối ngày 1/5/75, Biệt Đội 813 và các anh em thuộc Sư Đoàn 25 được lệnh tập họp để nghe “Chính Sách Khoan Hồng Của Cách Mạng”. Trước khi chấm dứt, một Cán Binh nói: “Tất cả các Sĩ Quan ở lại, Hạ Sĩ Quan và Binh Sĩ được ra về”. Tr/Úy Hợi nói nhỏ: “Tất cả đi hết, không ai ở lại.”. Khoảng 10 giờ đêm ngày 1/5/75, tất cả Biệt Đội 813/BCND kéo nhau ra quốc lộ, đi bộ suốt đêm về Gò Dầu để đón xe đò về Sài Gòn. Đoàn xe đò chở Biệt Đội 813/BCND về đến Ngã Tư An Sương vào khoảng trưa ngày 2/5/75 và anh em Biệt Đội 813/LĐ81BCND chia tay nhau tại đó.
Số phận của 6 toán thám sát của LĐ81/BCND trong chiến khu D
Riêng về 6 toán thám sát được trực thăng thả sâu trong mật khu VC đã hoàn toàn mất liên lạc. Hệ thống vô tuyến liên lạc của toán bằng máy PRC25, UHF-1 phải qua các trạm chuyển tiếp (Radio Relay Station) bằng phi cơ L-19 hoặc các đài tiếp vận truyền tin ở các núi cao. Nhưng sau ngày 29 /4/75 các toán này không liên lạc bằng truyền tin với bộ chỉ huy LĐ81/BCND được nữa, vì những đài yểm trợ tiếp vận truyền tin đã không còn. Các toán thám sát chưa biết lệnh buông súng của T/t Dương văn Minh ngày 30/4/75. Mười tám anh em của 3 toán liên lạc truyền tin được với nhau, lương khô 5 ngày đã cạn, họ đã phải nhịn đói, mưu sinh thoát hiểm, lặn lội từ rừng sâu, khi về đến một làng ở quận Tân Uyên cạnh sông Đồng Nai gần thác Trị An (đồn Đại An ngày xưa). Họ đã quá đói nên men vào làng để xin ăn và thăm hỏi sự tình. Ba toán thám sát này đã bị Việt Cộng bao vây, nên anh em đành buông súng vào ngày 5/5/1975. Mười tám anh em bị Việt Cộng giam, bỏ đói, sau đó bắn hết rồi thả trôi sông. Những xác của anh em thám sát thả trôi sông, sau bị sình thối nên Việt Cộng bắt dân vớt lên chôn dọc theo bờ sông Đồng Nai, còn 8 xác anh em khác đã chôn tập thể trong một cái giếng bỏ hoang. Theo dân làng cho biết thì có một anh chưa chết, được hai vợ chồng già trong làng đem dấu và cứu sống. Anh này tên là Đức. Hàng năm mỗi khi Tết đến anh Đức đều trở lại để đền đáp và tạ ơn cứu tử của ân nhân. Nhưng từ năm 1995 hai ông bà cụ đó đã qua đời nên anh Đức không còn đến nữa. Một toán viên khác tên Nguyễn văn Một, khi dân làng chôn cất thì có giữ được một cuốn nhật ký nhưng nay cuốn nhật ký đó cũng đã thất lạc. Mặc dầu Liên Đoàn 81/BCND đã cố gắng tìm kiếm để mua lại nhưng không được. Còn phần mộ anh Tuấn là sĩ quan toán trưởng đã được gia đình đến bốc cốt từ năm 93.
Còn toán của chuẩn úy Lê Xuân Hiền trở về ngày 7/5/75 và toán của thiếu úy Nguyễn Minh trở về ngày 15/5/75 cũng tại vùng Đại An nhưng không bị Việt Cộng xử bắn nữa. Anh Lê xuân Hiền và Nguyễn Minh nay đã được định cư ở Hoa Kỳ.
Theo dư luận địa phương cho biết sở dĩ hai toán này không bị VC giết chết vì dân chúng bàn tán sôi nổi về sự dã man của Việt Cộng đã ngược đãi và tàn sát 3 toán trước.
Toán trưởng Lê Xuân Hiền cho biết sau khi bị VC tước bỏ vũ khí ngày 7/5/75, anh bị đưa vào trại tù binh trong rừng Bình Sơn. Tại đây, toán trưởng Hiền gặp thêm 12 anh em thám sát ở các toán khác. Trong đó toán trưởng Hiền còn nhớ tên các anh c/u Huỳnh sơn Phương, t/s Võ văn Hiệp, Lý Khách, Lê văn Điệp c/u Nguyễn văn Bé, Nguyễn văn Sơn v.v. Trong thời gian bị giam giữ ở đó, các anh đã bị đánh đập tra tấn trả thù nên anh Nguyễn văn Sơn và t/s Võ văn Hiệp đã chết.
Năm 1995 Gia Đình 81/BCND ở hải ngoại đã cho người về làng Đại An để lập mộ cho những anh em đã đền nợ nước nhưng dân chúng địa phương đã không dám hợp tác. Dân chúng sợ Việt Cộng trả thù vì việc lập mộ bia cho anh em là trưng bày cái dã tâm vô nhân đạo của Việt-Cộng. Những quân nhân thuộc LĐ81/BCND đã bỏ mình tại làng Đại An vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến chỉ còn trong tâm tưởng của những người dân ở đó và chiến hữu còn sống sót mà thôi.
Phần Kết
Những anh hùng của LĐ81/BCND đã sa cơ trong thảm cảnh tháng Tư ở Đại An, họ đã nhận lãnh những viên đạn oan nghiệt của kẻ thù vào sau cái ngày mà những người còn "mê ngủ" đã rêu rao gọi là ngày "hoà bình đã đến trên quê hương Việt-Nam!"
GĐ81/BCND
(*) Ghi nhận theo những tâm tình, thư từ, bài viết, điện thoại, email và lời kể lại của những chiến hữu đã trực tiếp có những liên hệ ít nhiều trong những ngày giờ lịch sử đau thương của đất nước.Xin chân thành cảm ơn đại tá Phan văn Huấn, thiếu tá Phạm châu Tài, đại úy Nguyễn Hiền, đại úy La Cao, đại úy Trương việt Lâm, trung úy Lai đình Hợi, thiếu úy Nguyễn công Danh, các sĩ quan toán trưởng Lê xuân Hiền, Nguyễn Minh...và nhiều quân nhân các cấp đã giúp cho bài "Liên Đoàn 81/BCND và những ngày tháng Tư năm 1975" được thành hình, dù rằng thâm tâm quí vị đă không muốn nhắc lại "chuyện đau lòng"./-
(Trích đăng từ Đặs San GĐ81/BCND số 3 ngày 1 / 7 / 2001) ( Người chuyển bài: Trần Văn Chương )
Bấm chữ "Older Posts" trên đây để xem tiếp .... Dưới Là Bài Cũ Theo Từng Tháng.
-
►
2006
(249)
- Jun 2006 (13)
- Jul 2006 (51)
- Aug 2006 (36)
- Sep 2006 (32)
- Oct 2006 (33)
- Nov 2006 (37)
- Dec 2006 (47)
-
►
2007
(2315)
- Jan 2007 (66)
- Feb 2007 (62)
- Mar 2007 (54)
- Apr 2007 (95)
- May 2007 (123)
- Jun 2007 (192)
- Jul 2007 (249)
- Aug 2007 (204)
- Sep 2007 (255)
- Oct 2007 (329)
- Nov 2007 (361)
- Dec 2007 (325)
-
►
2008
(3206)
- Jan 2008 (228)
- Feb 2008 (204)
- Mar 2008 (273)
- Apr 2008 (328)
- May 2008 (304)
- Jun 2008 (312)
- Jul 2008 (258)
- Aug 2008 (310)
- Sep 2008 (290)
- Oct 2008 (256)
- Nov 2008 (218)
- Dec 2008 (225)
-
►
2009
(1551)
- Jan 2009 (152)
- Feb 2009 (126)
- Mar 2009 (139)
- Apr 2009 (148)
- May 2009 (183)
- Jun 2009 (164)
- Jul 2009 (145)
- Aug 2009 (100)
- Sep 2009 (102)
- Oct 2009 (117)
- Nov 2009 (94)
- Dec 2009 (81)
-
▼
2010
(1605)
- Jan 2010 (111)
- Feb 2010 (115)
- Mar 2010 (122)
- Apr 2010 (132)
- May 2010 (146)
- Jun 2010 (129)
- Jul 2010 (191)
- Aug 2010 (147)
- Sep 2010 (125)
- Oct 2010 (133)
- Nov 2010 (131)
- Dec 2010 (123)



