OANH TẠ - NGƯỜI TỰ XƯNG LÀ "NGƯỜI TÌNH" CỦA LÊ HỮU BÔI - TÁI XUẤT GIANG HỒ VỚI NHỮNG LẬP LUẬN RẤT LÀ "BABY... SITTER" !!!
nguyendongdanh@gmail.comooaannhh@yahoo.com>
Cám ơn chị Oanh,
Tôi sẽ chuyển bài viết của chị đến tay tất cả những vị mà chị đã yêu cầu, và xin phép chị, cho tôi chuyển đến nhiều anh chị QGHC khác ở Úc.
Bài viết của chị có đủ tình lý, tạm chấp nhận được cho trường hợp chị Diễm đang lọt vào hang hùm.
Tuy nhiên, cá nhân tôi, tôi chưa về VN lần nào, và nếu có về, tôi sẽ không để lọt vào hang hùm đó (không tham dự bất cứ một buổi họp mặt, vinh danh hay tưởng niệm những người nằm bên kia chiến tuyến, và nếu có lỡ "bị bắt cóc tham dự" thì nên câm miệng, đừng đứng lên phát biểu một lời).
Kính chúc chị nhiều sức khoẻ.
Danh Liên.
ooaannhh@yahoo.comooaannhh@yahoo.comooaannhh@yahoo.comdaonangvan@yahoo. com> wrote:
From: nang dao Subject: Fwd: Ngô Vũ Bích Diễm và tên cộng sản (TCS)...To: Date: Wednesday, March 24, 2010, 8:18 PM
--- On Wed, 3/24/10, Hieu Vo wrote:
From: Hieu Vo Subject: Fwd: Ngô Vũ Bích Diễm và tên cộng sản (TCS)...To: Date: Wednesday, March 24, 2010, 6:24 PM
--- On Thu, 3/25/10, wrote:
From: Subject: Fwd: Ngô Vũ Bích Diễm và tên cộng sản (TCS)...To: Date: Thursday, March 25, 2010, 12:31 AM
Xin chuyển đến Quý Vị, Quý NT và CH...
Để cho những ai muốn biết thêm về người tình cuả tên cộng sản (TCS)... Và bộ mặt thật cuả một tên ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản... Ngô Vũ Bích Diễm Khi tuyên bố tại Huế về tên cộng sản....Bà Bích Diễm ..đã dấu không nhắc đến việc đã tốt nghiệp Học Viện Quốc Gia Hành Chánh...và đã từng là một công chức cao cấp cuả Chính phủ VNCH... Xin mời đọc bài viết sau đây cuả một cựu Sinh Viên Quốc Hành Chánh để rỏ và thẩm định... BMHWashington, D.C
Sent: Fri, March 26, 2010 11:25:45 AMSubject: Re: Bích Diễm
Xin cam on Anh da chuyen tin.
Bich Diem va toi deu hoc QGHC, deu la Cong Chuc (cao cap) cuaTieu Bang California, cung hoc mot nghanh chuyen mon: Bich Diem va toi deu co Master of Social Work (MSW) va cung la Licenced Clinical Social Worker (LCSW).
Chung toi thuong lien lac e-mail va dien thoai voi nhau. Tuy rat khac nhau ve ton giao va sinh hoat ca nhan, chung toi van doi xu voi nhau rat "tuong kinh" vi tinh dong mon, dong huong (Viet Nam) va dong nghiep.
Vi cac ly do tren , xin cho toi duoc gop mot doi dieu rat chu quan sau day:
1) Phan ung dau tien cua toi khi doc bai viet ve dem TCS o Hue la mot phan ung rat tinh cam vi toi gian Bich Diem da khong dam nhan minh da hoc QGHC, da lam cong chuc cao cap o Bo Xa Hoi VN, da duoc "on vua loc nuoc" (hoc bong) khi theo hoc QGHC...Tuy nhien, sau do, toi nghi nhung chi tiet nay co lien he gi den moi tinh si (?) cua TCS? Tuy nhien, sau do, toi nghi la Bich Diem rat khon kheo, duyen dang va co tai doi dap voi dam dong xa la.
2) Khi doc bai tuong thuat "...:Tien Si (tot nghiep o Duc) Thai Kim Lan" da to chuc "dot xuat" dem TCS..., toi nghi ngo la Bich Diem bi "bat coc" den dem TCS vi toi biet Bich Diem la nguoi rat kin dao, de dat, rat nhay cam ve nhung van de Quoc - Cong.. Khi Bich Diem tra loi ..TCS viet Diem Xua nhu viet ve Hue nhieu hon la ve toi (Bich Diem)..., toi nghi la Bich Diem da khiem nhuong va khon kheo nhac moi nguoi nen chu tam den TCS va Hue, khong nen chu tam den Bich Diem. That ra, gia thiet la TCS da dem cho Bich Diem cai duoc goi la hao quang qua bai Diem Xua, thi cai duoc goi la hao quang TCS do cung da tan bien trong nhung hao quang ma Bich Diem da tu tao cho minh o truong QGHC, o Bo Xa Hoi, o Phi Luat Tan va nhat la o California.
3) Khi nhin anh chup Bich Diem "bi bao vay", toi suy doan duoc 2 ly do tai sao Bich Diem khong noi ro Bich Diem hoc QGHC: a) Nhung nguoi "bao vay" Bich Diem nay con qua tre de hieu biet ve hao quang cua truong QGHC; b) Neu "hoa (da) lac giua rung guom" thi khong nen tiet lo nhieu chi tiet ca nhan vi "than trong hon kim", "biet ai la ban, biet ai la thu."
4) Trong khong khi "van nghe" do, Bich Diem se gap nguy hiem nao neu Bich Diem "chui rua" bon Viet Cong? Viec chui rua, da dao, len an bon Viet Cong, Tau Cong trong nhung thinh phong o Hoa Ky se de dang hon vi nguoi chong Cong o xa Viet Cong, Tau Cong hang van dam va nhung nguoi nay con duoc luat phap Hoa Ky bao ve. Tai sao lai hy vong Bich Diem mot minh chong Cong khong co ke hoach o Viet Nam? Co nguoi nao co ke hoach chong Cong huu hieu da ve Viet Nam thuc thi ke hoach do chua?
5) Neu, trong dem "van nghe" TCS, Bich Diem "tuyen bo" da hoc QGHC, da lam cong chuc cao cap cua Chinh Phu hop phap, hop hien VNCH, Bich Diem chi chao co vang 3 soc do, thi Viet Cong se doi xu voi Bich Diem ra sao?
6) Neu trong dem TCS do, Bich Diem ho to "Da Dao Cong San" va sau do, Bich Diem bi bat biet tich, ca nhan nao hay Hoi Doan Chong Cong nao o Bac My se dong gop tien thue Luat Su hay van dong ngoai giao de Bich Diem tro ve Hoa Ky an toan?
7) Neu Bich Diem that su la Viet Cong, Tong Hoi QGHC va cac Hoi QGHC dia phuong co can "chieu hoi" Bich Diem khong? "Duoi" Bich Diem ra khoi Tong Hoi, Chi Hoi...nhu cac cuu luat gia Viet Nam da duoi LS Nguyen Huu Liem chi la mot phan ung tinh cam nhat thoi ma thoi.
8) Moi mot nguoi Viet ti nan o Hoa Ky deu co nhung duong loi dau tranh rat khac nhau vi Hoa Ky khuyen khich viec "tram hoa dua no", vi co le tat ca cac cuu sinh vien QGHC khong muon chi la mot loai "hoa van tho" nhu nguoi ta bat buoc trong thap nien 50 o mien Bac Viet Nam. Vi khong muon chi lam mot loai hoa (?) van tho o que huong thu nhat nen nhieu nguoi da nhan Hoa Ky la que huong thu hai nay, "dau cho kho thuong".
Ngoc Oanh
QGHC, DS 9 KT, CH 8 NG
Wednesday, March 31, 2010
Tuesday, March 30, 2010
Rắc vài hạt đậu văn hoá trên nồi xôi chính trị
đông Lan
Câu nói truyền tụng rộng rãi trong chúng ta mà ai cũng còn nhớ là " Người làm thầy thuốc mà sai lầm thì hại một mạng người. Người làm chính trị mà sai lầm thì hại một thế hệ. Người làm văn hoá mà sai lầm thì hại đến muôn đời".
Qua đó ta thấy chính trị có tính nhất thời, văn hoá có tính lâu dài hơn, ảnh hưởng của văn hoá vươn đến nhiều thế hệ. Nhìn trong lịch sử cổ kim, mỗi thời đại có những phong trào chính trị của từng thời đại ấy.Và chúng bị suy tàn ngay theo cá nhân hay tổ chức làm chính trị, cũng như nhanh chóng theo sự trôi chẩy chuyển biến của thời gian. Sự thay đổi về chính trị nhanh trong từng phút , từng giờ , từng ngày chứ đừng nói đến tháng, năm hay thời đại. Chính trị tính đã nói lên cái sự giới hạn quá đỗi mong manh của nó so với chiều sâu của diễn tiến thời gian , chiều dài của lịch sử một dân tộc. Chính trị có thể ví như hoa phù dung của lịch sử, chóng hiện chóng tàn trong không gian và thời gian hạn hẹp. Văn Hoá như mây trời bao la, vượt thoát cái chật và hẹp của không gian, của hoàn cảnh địa lý và lịch sử. Cho nên người ta mới có câu văn vẻ rằng " Văn hoá là cái gì còn lại". Vâng. Văn hoá là cái gì còn lại. Vì văn hoá nói lên bản chất của các diễn biến hiện tượng. Văn hoá còn lại cái hay, cái đẹp, cái chất, cái lâu dài, trường cửu của con người . Theo giòng thời gian, các sự việc chính trị trôi nhanh, các biến cố lịch sử dù ồn ào cách mấy cũng phải bị vượt qua bởi các biến cố khác sôi động hơn. Xem lịch sử tả về các biến cố thì một thời đã có hàng bao ngàn các sự thay đổi về chính trị. Nhưng về văn hoá suốt chiều dài 5000 năm lịch sử của dân tộc ta chỉ có vài luồng văn hoá chính . Vì văn hoá là cái mà lịch sử còn lại. Ba nền văn hoá chính của 5000 năm lịch sử của ta là: Văn hoá Nho Giáo, văn hoá Phật Giáo, và gần đây là văn hoá Thiên Chúa Giáo. (Cộng sản là tổ chức chính trị, dù có thuyết Marx, Lenin dẫn đường , nhưng không phải là văn hoá, cho nên, nó chỉ tồn tại trong dân tộc ta từ 1930 đến ngày hôm nay 2006, mới chỉ 76 năm mà sự tẩy chay của dân tộc Việt đã lên đến cực độ. Việc nó bị vĩnh viễn loại bỏ khỏi cơ thể Việt vì dị ứng với dân tộc tính là việc của năm và tháng mà thôi.
Cũng như nó chỉ sống với dân tộc Nga 72 năm (1917-1989) rồi ra đi nhẹ nhàng như một người bệnh nặng trút hơi thở cuối là chuyện đương nhiên không tránh khỏi. Cách trút hơi cuối của mỗi con bệnh Cộng sản của mỗi cơ thể bệnh nhân khác nhau và đó là hậu quả tất nhiên của chính trị. Mà lại còn là chính trị bá đạo nữa thì vì sự sống, sự trường tồn của bất cứ dân tộc nào, họ không để yên cho con bệnh hoành hành. Bản năng sinh tồn của loài người, của chủng tộc, của sắc dân là nguyên động lực, là cứu cánh , là phương tiện sa thải độc tố , vi trùng, bệnh hoạn. Sự non yểu của lý thuyết và chế độ Cộng Sản trong lịch sử loài người và dân tộc chỉ là sự tự nhiên như lề luật sống mà thôi). Trở lại với ba dòng văn hoá chính của dân tộc Việt là Nho, Phật, Chúa, đó là cái mà người ta còn gọi là Còn Lại sau bao thăng trầm lịch sử. Nho và Phật đã chứng minh sức mạnh của Văn Hoá trong hàng ngàn năm . Còn Thiên Chúa Giáo mới chỉ góp mặt khiêm nhường trong lịch sử Việt mới vài thế kỷ, từ thế kỷ 17 mà thôi. Sự hiện diện này còn trong những nghi vấn, vì những cách thái xuất hiện của nó đồng hành với bước chân của thực dân Pháp. Ðó là một vấn nạn lớn mà những nhà những nhà viết sử chân thực, nhà văn hoá chính danh, và nhất là lương tri trong sáng của dân tộc sẽ thẩm định. Tuy nhiên các nỗ lực của các công trình đưa tư duy tôn giáo tiệm cận với dòng Văn Hoá Dân Tộc - nếu co - sẽ được sáng tỏ trong thời gian cùng với sự thẩm định trên, vì lịch sử vẫn còn mới mẻ: Ba trăm năm có là bao so với 5000 năm của hành trình Lạc Việt.
Hành Trình Lạc Việt! Ôi quá đỗi đau thương, bước chân Dân Tộc. Thật ra dân tộc Việt còn khởi đầu lâu đời hơn, xa xưa hơn 5000 năm ấy.Câu chuyện truyền tụng về nguồn gốc dân tộc thuở vua Hùng dựng nứơc tính cho đến nay là đúng 4885 năm. Câu chuyện dựng nước ấy có hai tính chất chủ yếu về mặt Lịch Sử, Ðiạ Lý Việt và về mặt Minh Triết Việt. Về tính chất thông tin lịch sử, nên nhớ rằng vào thời đại chưa có chữ viết, cách Truyền Miệng là cách Duy Nhất , tài tình nhất cuả Tổ Tiên ta để con cháu nòi giống Việt biết được ngọn nguồn xuất phát của mình, cõi bờ đất nước mình( Ðông giáp Nam Hải, Tây đến Ba Thục, Bắc giáp Ðộng Ðình Hồ, Nam đến nước Hồ Tôn -Chiêm thành sau này-). Nhất là sự gian truân của hành trình một dân tộc quyết chiến đấu để dành lại Ý NGHĨA của sự sống, trong sự TỒN SINH với BẢN SẮC ( như muôn một : đánh cho để tóc dài, đánh cho để răng đen!) trong cái khắc nghiệt của định mạng địa lý và lịch sử. Trong câu chuyện lủng củng các việc của nguồn gốc hai ông bà Âu Cơ và Lạc Long Quân, ta thấy nơi đây là việc NHẬP NHẰNG của hai miền NAM và BẮC . Ðế Minh đi tuần thú phương Nam và đó là nguồn gốc dân Việt. Như vậy ý nghĩa Ðế Minh đi tuần thú phương Nam có thể là về Lịch sử, khi đoàn du mục người Hán phía Tây Bắc đến đất của Bách Việt phương Nam, thâu nhận Văn Hoá phương Nam làm văn hoá của Hán , chiếm đất, đồng hoá dân Việt, làm dân Bách Việt phải di chuyển xuống phía Nam hơn. Ðiều này trùng hợp khi Khổng Tử ( 551-479 trước Tây lịch) san định Ngũ Kinh ( Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc) cứ lập lại câu " Ta không sáng tác, ta chỉ học đạo người xưa"( Luận Ngữ, Thuật nhi " Ngô thuật nhi bất tác, tín nhi hiếu cổ"). Như vây, "người xưa" mà Khổng Tử nói ở đây là người Bách Việt xưa làm chủ suốt một vùng mông mênh Nam Hoàng Hà đến bờ Thái Bình Dương. Cũng cần nhắc thêm ở đây là Lạc Việt là chi nhánh chính của Bách Việt, gồm nhiều bộ tộc như: Mân Việt, U Việt, Ðông Việt, Nam Việt, Lạc Việt.Tất cả CHUNG MỘT NỀN VĂN HÓA , điển hình nhất là HUYỀN THOẠI MANG NÉT LƯỠNG HỢP .Câu chuyện CON RỒNG CHÁU TIÊN của Lạc Việt là một đại biểu chói chang nhất. Thêm một việc nữa, là Khổng tử còn tuyên bố một câu rõ ràng: " Ta theo đạo quân tử của người Phương Nam". Tử Lô䠨 một học trò của Khổng Tử) hỏi về sức mạnh, Khổng Tử đáp " Cái sưc mạnh nào? Sức mạnh của người Phương Nam? Sức mạnh của người Phương Bắc ? Hay sức mạnh của chính ngươi ? Cái Sức Mạnh của Người Phương Nam là : Khoan Hoà, Nhu Thuận, Trọng Văn Hoá hơn Võ lực, Giáo Dục hơn Hình Phạt, Lòng Nhân Ái , Tha Thứ cho người hối lỗi. Ta theo cái đạo Quân Tử của Phương Nam. Còn sức mạnh của người Phương Bắc là: Ưa thích việc đao binh, khi ngủ cũng đeo gươm mặc giáp, vào chỗ chết cũng không sợ. Hạng võ dũng theo sức mạnh ấy". ( Trung Dung 10, Tử Lộ vấn cường. Tử viết : Nam Phương chi cường dư? Bắc Phương chi cường dư? Ức nhi cường dư? Khoan Nhu Dĩ Giáo, Bất Báo Vô Ðạo: Nam Phương Chi Cường Dã, Quân Tử Cư Chi. Nhẫm kim cách, tử nhi bất yếm: Bắc Phương chi cường giã, nhi cường giả cư chi"). Khổng Tử là một người trung thực. Sống trong xã hội không có gốc rễ văn hóa chân truyền, mà khi soạn kinh sách làm nền tảng tư tưởng cho dân tộc của ông, ông không dám mạo nhận nền tư tưởng , văn hoá mà ông thuật lại là của cá nhân mình, dòng tộc mình, ngay cả chủng tộc mình.
Thời nhà CHU là thời mà Khổng Tử san định sách, chính xác hơn là Ngũ Kinh được Khổng tử san định chỉ vào khoảng 500 năm trước Tây lịch , thời nhà Chu mà Khổng Tử đề cao chỉ là từ năm 1122 trước Tây lịch. Truyện Con Rồng Cháu Tiên đã nói rõ quá trình lui về phương Nam của Việt Tộc là năm 2879 trước Tây lịch. Như thế cứ theo niên đại trên, gần 500 năm trước Tây lịch, Khổng Tử học hỏi văn hoá phương Nam của Bách Việt, thì Minh Triết Việt, mà Lạc Việt, Tổ Tiên của dân tộc Việt Nam chúng ta ngày nay, đã phổ truyền đã có cả 1757 năm trước nhà Chu của Hán tộc rồi. Văn Hoá của Bộ Tộc Lạc Việt có những điểm nền tảng chung với Ðại Tộc Bách Việt như đã khái lược ở trên, nên Khổng Tử KHÔNG CẦN phải chu du xuống tận địa bàn Lạc Việt mới hấp thụ được. Các học giả uy tín quốc tế cũng nhìn nhận những yếu tố văn hoá chung của các tộc Bách Việt nên sắp chung vào một khối gọi là " những bộ tộc Việt"( Yue tribes ), tức là Bách Việt, để phân biệt với sắc tộc Hán từ Tây Bắc gốc du mục đến địa bàn Nam Hoàng Hà của dân Bách Việt. Về lịch sử Tàu thì chỉ bắt đầu từ ba nhà: Hạ, Thương, Chu, với địa bàn nhỏ hẹp, quanh quẩn vài bộ lạc bên sông Hoàng Hà. Trong quyển Chinese Esprit et Societe, Speiser cho là đời nhà Thương nước Tàu mới rộng 120.000 Km2 ( 400x300), tức là còn nhỏ hơn Bắc Việt (164.000Km2) ( Kim Ðịnh, Hùng Việt Sử Ca).Nhiều học giả thế giới còn nghi ngờ không công nhận nhà Hạ, chỉ nhận nhà THƯƠNG (1766-1154 trước T.L) mới thực có chứng cớ về sự bắt đầu thành lập xã hội của sắc dân Tây Bắc Hán tộc gốc du mục. Còn nếu rộng rãi hơn, cho rằng Trung Hoa bắt đầu thời nhà Hạ thì nhà Hạ cũng mới chỉ từ 2205-1766 trước Tây lịch, nhà Hạ còn sau thời Hùng Vương 674 năm, sau thời phổ truyền của nền Minh Triết Lạc Việt của Con Rồng Cháu Tiên. Minh Triết này đã trình bày trong nhiều bài khác. Chỉ xin tóm tắt là cai biểu tương chính của Minh Triết Việt nằm ngay trong HAI LINH TƯỢNG TIÊN và RỒNG. Có nghĩa rằng Tổ Tiên chúng ta đã tìm ra Chân Lý mà cũng là Ðạo Sống là thực hiện một chữ HOÀ , Hoà Rồng với Tiên. Rồng Tiên chia ly là tâm thức con người còn đang ở giai đoạn ban đầu sơ đẳng, giai đoạn vừa mới thoát ra khỏi cái trình độ tâm thức cá nhân, tiểu trí, giai đoạn phát triển lý trí để sinh tồn cách hạ đẳng. Nhưng Truyện Tiên Rồng có một đoạn kết là chìa khoá mở cho trình độ cao hơn của con người. Tiên và Rồng cuối cùng hẹn gặp nhau ở " Cánh Ðồng Tương", là đề cao Tâm Linh là giai đoạn cuối của hành trình Tâm Thức , con người đạt chữ Tâm, đạt đạo Hoà. Lý trí được phát triển dùng để sinh tồn cấp thấp, nhưng sống có Tâm Linh mới làm siêu việt cuộc đời, làm gia tăng giá trị của Phẩm Chất Người. Tóm lại Minh Triết Việt chính là nghệ thuật xử dụng chữ HÒA để người Việt được sống với trí tuệ sáng suốt, có một cảm quan toàn diện, giải quyết được các cặp mâu thuẫn trong chính mình và trong các mối tương quan giữa mình và tha nhân cũng như vũ trụ, thiên nhiên, vạn vật. Do đó, thực hiện Minh Triết Hoà Tiên (Tâm Linh) với Rồng ( vật thể) này, con người sẽ sống trong thanh bình và hạnh phúc. Với trình độ Tâm Thức Lưỡng Hợp, Tổ tiên ta mới biết chọn cả HAI biểu tượng TIÊN -RỒNG làm biểu tượng của dòng giống. Ðiều này khác hẳn tất cả các dân tộc khác, thường với trình độ tâm thức phiến diện, chỉ chonﬠMỘT biểu tượng duy nhất cho họ như : Ấn ׀ộ chọn con Voi, Phבp con Gא, Mỹ con ׃, Anh con Sư Tử. Tאu con Hổ sau đổi lא Rồng. Như thế mặc dש trong lדnh vực Văn Hoב, Khổng Tử cף cפng thu nhặt cבc Văn Hoב Bản ׀ịa mא " Lאm Mאu" cho Văn hoב Hבn tộc, nhưng vל "Cבi nết đבnh chết khפng chừa" nךn cבi gốc tםch " Du Mục" vẫn thấy khắp cבc sinh hoạt xד hội Hבn, từ ngay việc chỉ biết nhận MỘT vật lאm biểu tượng cho dגn tộc .
Huống chi trong Tứ Thư Ngũ Kinh cעn nhiều PHA TRỘN của DU MỤC TֽNH với NװNG NGHIỆP TֽNH. ׀iều QUAN TRỌNG nאy םt học giả nhận ra, chỉ từ khi cף cבi nhלn quבn triệt về hai nền văn hoב nפng nghiệp vא du mục trךn dעng lịch sử Việt tộc vא Hבn tộc , Triết Gia Kim ׀ịnh mới khבm phב ra được sự sa đọa ấy trong Tứ Thư Ngũ Kinh.
Thךm nữa, khi nghiךn cứu sגu xa nền Văn Hoב nước nhא, chỉ cף thiךn tאi Kim ׀ịnh mới phגn tםch được LIỀU LƯỢNG của sự pha trộn phức tạp ấy. Cף nghĩa rằng tלm ra được yếu tố quyết định, tםnh chất nền mףng của Bבch Việt trong sự xגy dựng Nho Giבo Nguyךn Thuỷ. Thuyết Việt Nho cאng xבc tםn hơn khi khבm phב ra rằng chםnh trong ׀ỜI SỐNG ׀ẠI ׀A SỐ NGƯỜI VIỆT, điển hלnh nơi ׀ời Sống LְNG QUֺ VIỆT mới thể hiện Tinh Thần Nho Giבo cao độ. Ngược laiﬠנời sống dân Trung Hoa lại NGƯỢC LẠI LÝ TƯỞNG TỨ THƯ NGŨ KINH. Ngài viết một câu cảm động" Chỉ có người chủ cũ của Nho mới nhận diện được Nho".
Và thế là xuyên qua công trình nghiên cứu sâu xa, các nền văn hoá của các Bộ tộc nơi Hòang Hà, Dương Tử, Hồng Hà trong toàn cảnh của lịch sử và địa lý Ðông Nam Á , xử dụng các tài liệu khoa học tân tiến nhất về thực nghiệm và nhân văn, như các ngành khảo cổ, di truyền, dân tộc, cơ cấu, phân tâm .với phuơng pháp tư duy hệ thống ( systems thinking) thuyết Việt Nho đã tìm được lời giải thích tất cả những sự mù mờ, nhập nhằng ,vấn nạn , mâu thuẫn trong Tứ Thư Ngũ Kinh cũng như trong khác biệt về đời sống Tàu và Việt.
Truyện con Rồng Cháu Tiên về mặt Minh Triết đã xuất hiện trước Dịch Lý. Rồng Tiên là Minh Triết của Huyền Thoại Việt, truyền từ 2879 trước Tây lịch. Chỉ 500 năm trước tây lịch, Khổng Tử mới san định kinh sách cổ, thuật lại , công thức hoá và thế là hệ thống triết lý âm dương thành hình. Về NGUYÊN LÝ, RỒNG TIÊN và ÂM DƯƠNG là MỘT. Ðó là nhận thức về thế giới toàn diện và chân thật, loại nhận thức HAI CHIỀU , MÂU THUẪN mà HÒA HỢP. Rồng - Tiên, Âm - Dương là nhửng từ để diễn tả hai mặt của Chân Lý Toàn Diện mà thôi. Vì Ðạo là Ðạo của Việt, nên dù bị cướp đất, pha chế nhập nhằng làm biến dạng đi cái Ðạo Nho Nguyên thuỷ, người Việt vẫn Sống Ðạo, nên KHÔNG mất đạo. Ðó là LÝ DO đời sống LÀNG QUÊ VIỆT có nhiều sắc thái Dân Chủ, Nhân Chủ, Bình Ðẳng, Nhân Ðạo, Tôn trọng Phụ nữ, Quân Bình Tài Sản, tính Cộng Ðồng cao. ( Xem " An Vi Trong Ðời Sống Làng Quê" -Yêu Mến An Vi) .Những Tính chất này là LÝ TƯỞNG của Tứ Thư Ngũ Kinh, đời sống Làng Quê Việt là THỂ HIỆN những giá trị căn bản ấy. Ngược lại, đời sống xã hội Tàu từ dân quê đến triêൠđình vua quan KHÔNG phản ánh được tinh thần NHO THẬT SỰ. Bản chất du mục săn bắt thú vật, ung dữ, trọng sức mạnh, võ lực đã là nguyên nhân các cuộc xâm chiếm đất , đồng hoá , tiêu diệt các bộ tộc Bách Việt nông nghiệp hiền hoà . Là nguyên nhân đời sống dân Tàu khinh phụ nữ, chôn sống người, hoạn người .Ta thử xem các hình luật của Tầu so với luật của Việt , lễ nghi nơi triều đình đến các sinh hoathôn quê thì mới rõ sự khác biệt sâu xa. Nhưng cũng chính từ những đau thương của đại tộc Việt, dân tộc LẠC VIỆT, Tổ Tiên của người Việt Nam chúng ta, đã đi trên HÀNH TRÌNH CỦA CHÍNH MÌNH. Như một định mệnh, ta có tên là VIỆT . Như một sứ mạng nhiệm mầu cho tương lai PHỤC VIỆT, Lạc Việt là chi nhánh DUY NHẤT của đại tộc Bách Việt đã tránh được nạn đồng hoá thảm khốc của người Hán. Cho nên cứ thế , ta vượt lên, vượt qua bao đau thương, gian truân mà sống ÐẠO VIỆT. Ðạo lấy chữ NHU làm gốc, lấy chữ HOÀ làm nền.
Cho nên, Nho của ta là Nho Nguyên Thuỷ chưa bị các yếu tố du mục của Hán tộc pha trộn, làm sai lạc, sa đoạ. Những sử kiện như nhà Tần đốt sách chôn nho sĩ, nhà Hán xuyên tạc kinh văn , Hán Vũ Ðế sai Lưu Hâm làm ngụy kinh của cổ nhân trong thư viện Thạch Cừ ở triều đình .khiến cho chính sau này các học giả cũng khó khăn khi muốn tìm hiểu Nho chân thực. Ðể PHÂN BIỆT cho con cháu sau này nhận rõ ra được sự GIAN LẬN của Hán tộc, Tổ Tiên ta đã gửi gấm uẩn ức này trong câu truyện Trọng Thuỷ Mỵ Châu. Trọng Thuỷ ăn cắp , đánh tráo NỎ THẦN của Việt Tộc, chính là việc Hán tộc thâu nhận chiếm hữu lấy của người làm của mình cái nền Văn Hoá NHU THUẬN của Phương Nam mà sau này Khổng Tử đã chân thành ngưõng vọng mà xây lên lâu đài văn hoá đồ sộ cho dân tộc ông.
Mấy ngàn năm sau, Lạc Việt mới đủ cơ duyên cho một vị chân nhân. Một VIỆT TỬ CHÍNH DANH, từ những năm 1960 đã lên đường tìm được dấu chỉ của Việt Tộc, khai quật mồ quá khứ hàng chục ngàn năm ưu uất , gọi là VIỆT NHO.
Việt Nho là Hoạ đồ cuả Lịch Sử Cổ Việt. Là đường về Cội Nguồn Văn Hoá và Văn Minh của Ðại Tộc Bách Việt, thời còn làm chủ cả một miền Nam Hoàng Hà đến bờ Thái Bình Dương . Thời mà hiện nay các nhà khoa học về các ngành Nhân Chủng, Khảo Cổ, Hải Dương, Di Truyền. đang say mê nghiên cứu, công bố những kết quả bất ngờ làm đảo lộn niềm tin và tư duy của học giới. Thật thế, KHOA HỌC ÐÃ ÐI SAU TRỰC GIÁC , trí tuệ bao trùm và sắc bén của một Triết Gia Việt . Mấy chục năm sau, bằng những phương tiện khoa học tối tân, những công trình của Solheim, Oppenheimer. tiết lộ một nền văn minh của Ðại Tộc Bách Việt . bị bỏ quên, bị chiếm đoạt. Họ còn lập thuyết rằng Tổ Tiên Việt Tộc đã khai sáng ra Văn Minh Ðông Nam Á, là cái Nôi của Văn Minh Nhân Loại. Trước những khám phá và công bố " động trời" ấy, trước những áp lực về sự thật lịch sử làm chính quyền Trung quốc phải nhìn nhận sự sai lầm của các sách sử của họ khi viết về văn minh Tàu. Họ đã phủ nhận quyền Sử nổi tiếng bậc nhất của Tàu là quyển " Sử Ký" của Tư Mã Thiên, và nhìn nhận có nền văn hoá của các chủng tộc Việt trước khi dân Tàu xuất hiện( tờ Beijing Review, ấn bản tuần lễ từ 23-29 tháng 3/1998, mục Culture/Science, trang 31) Như thế việc Tứ Thư Ngũ Kinh không còn thuộc duy nhất chỉ một Tàu là tác giả, là một hệ luận đương nhiên của sự thú nhận chính thức trên. Như vậy, thuyết VIỆT NHO đã có KHOA HỌC kiện chứng thêm nữa, và Việt Nho đang trong tiến trình thuận lợi nhất để dành lại CHỦ QUYỀN VĂN HOÁ cho Việt Tộc.
Trung Quốc hiện nay đang trên đường bành trướng kinh tế và chính trị như mọi người đều biết. Họ đang khôi phục lại văn hoá xưa của họ, Nho Giáo, để bù đắp cho cái lầm lỡ chí tử đã chạy theo Cộng Sản làm trì trệ quốc gia họ về mọi mặt. Họ trở về với Nho giáo lần này cũng không khác gì việc họ thâu hoá, pha chế Nho giáo Nguyên Thuỷ khi xưa, cũng như Hán Vũ Ðế phát triển Nho Giáo để củng cố sự cai trị của triều đại, làm sa đoạ cái lý tưởng thật sự của Nho. Trung Quốc một lần nữa, theo chân tổ tiên họ, dùng Văn Hoá làm phương tiện để bành trướng ảnh hưởng, quyền lực mà thôi. Nhưng lần này, trước khám phá của Khoa học, họ miễn cưỡng thú nhận những điều bất lợi cho ảnh hưởng của văn hoá Hán tộc, vô ý mà tạo điều kiện cho Việt Tộc dành lại chủ quyền danh dự về Nho Giáo. Trung Quốc đang lúng túng về quá trình không mấy văn minh, văn hoá của tổ tiên họ. Nên con đường phá hoại văn hoá Việt chuyển sang mặt vận dụng chống trào lưu Phục Việt một cách khéo léo, tinh vi . Có một sự trùng hợp nào chăng, khi gần đây có hiện tượng sinh hoạt văn hoá mang hình thức Việt, nhưng lại cực lực chối bỏ những gì THẬT SỰ VIỆT, như việc NHO là của VIỆT. Bề ngoài các việc đề cao Việt làm như yêu Văn Hoá Việt lắm lắm, nhưng hễ cứ cái gì có giá trị cho Việt thì đẩy ra, làm như là dị ứng. Ngay cả việc xử dụng tài liệu văn hoá cũng thiên vị, chỉ dùng những gì " dở" nhất trong kho tàng ca dao, tục ngữ , có khi cả đời người ta chưa nghe. Bao năm tủi hờn phải chịu tiếng học Nho vay mượn, nay nhờ có Khoa học ta thêm tự tin -điều kiện tinh thần làm động lực vươn lên - về quyền làm chủ Văn Hoá mình. Nếu ai là người Việt yêu văn hoá Việt thật lòng, thì theo cảm nhận bình thường, cũng có niềm hãnh diện dù chưa có dịp tìm hiểu để tăng thêm lòng tự hào Việt Tộc . Chưa xác tín Việt Nho , mà xưa kia, tổ tiên ta học theo Nho về Văn hoá, còn về chính trị, khi bị xâm lăng, ta vẫn đánh Tàu không còn manh giáp. Huống chi ngày nay, thêm Việt Nho, ta lại càng thêm vũ khí tư tưởng chống xâm lăng. Nhất là khôi phục niềm TỰ HÀO CHÂN CHÍNH về Nguồn Gốc và Văn Hóa của dân tộc- Một vấn đề tối quan trọng để thống nhất lòng người Việt muôn nơi giữa cơn phân tán này, trong bao vong thân vì thực dân và cộng sản. Ai là người Việt mà không còn nhớ việc Tổ Tiên ta đánh Tầu nhưng vẫn theo Nho, thực hiện Nho. Vì chính trong Nho, ta phát huy thêm lòng yêu người, yêu đất nước, yêu độc lập, tự do. Nhân nghĩa lễ trí tín, linh hồn của Nho Giáo, hun đúc tình tự dân tộc, sức mạnh và ý chí sống trong danh dự của con người: KHÔNG CHẤP NHẬN NÔ LỆ, ÐỒNG HOÁ. Nhớ câu tiết nghĩa " THÀ LÀM QUỶ NƯỚC NAM CÒN HƠN LÀM VƯƠNG ÐẤT BẮC" của Nho Sĩ Trần Bình Trọng . Và suốt bao ngàn năm lịch sử, hàng bao thời đại, các nho gia, hiền nhân quân tử đã hy sinh thân mình chống giặc giữ nước. Những triều đại chống Tàu nhiều nhất lại xây dựng Nho nhiều nhất: Hãy xem lại lịch sử nhà Lê với Nho Sĩ Nguyễn Trãi " Bình Ngô Ðại Cáo", với vua Lê Thánh Tôn thực hiện đạo Nho, làm cho dân giầu nước mạnh, văn hoá nhân đạo uy danh một phuơng Nam. Mà tính chất Nhân Bản của Bộ luật Hồng Ðức 1483 còn đi trước Hiến Chương về Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc 1948 cả đến gần 500 năm, và được các thức giả quốc tế ngày nay ca ngợi( Xem" Tính Chất Nhân Bản Trong Quốc Triều Hình Luật" - Yêu Mến An Vi)
Theo đúng lý tưởng Chính Danh, Danh phải đi đôi với Thực, từ phải chở nổi ý, thì làm chính trị là việc làm " NGAY CHÍNH " lại mọi sự còn nghiêng lệch ở đời ( Chính giả, Chính dã) . Nếu như thế thì chính trị là việc làm có ý nghĩa cao đẹp, phục vụ sự thật, lẽ phải, cùng giúp nhau xây dựng một đời sống thiện mỹ hơn. Ðó là khi mà Chính Trị còn nền tảng Văn Hoá làm điểm tựa, chính trị được móc nối với Nhân Ðạo, với các giá trị bền vững của Dân Tộc. Trên thực tế, lý tưởng đã khó thực hiện. Mà lại còn vì cuộc sống văn minh lý trí khiến con người vụ lợi thì nhiều mà vì Nghĩa thì ít. Nhiều khi người làm chính trị mải mê chạy theo quyền lợi nhâᴠthời, dùng mọi cách để mị dân chứ không còn mục đích hướng dẫn nhau theo chiều hướng chân chính nữa. Người làm chính trị sai lầm thì chỉ hại một thế hệ thôi, làm băng hoại cả một thế hệ, cũng là phản dân hại nước rồi.
Nhưng nếu còn mượn văn hoá mà để làm chính trị, đánh vào thị hiếu chống Tàu về chính trị mà lại xoá bỏ cái tội danh chiếm đoạt văn hoá Việt của Hán tộc, là chỉ vì lợi nhỏ mà bỏ Nghĩa Lớn , là lấp đường về với Cội Nguồn Văn Hoá Việt, là phủ nhận Danh Dự Chủ Quyền của chính mình. Cái sai lầm này hại đến bao thế hệ, làm hại đến muôn đời. Ðành rằng xử dụng vài yếu tố văn hoá rời rạc thì làm thanh cảnh hơn sinh hoạt chính trị, nhưng rắc vài hạt đậu văn hoá trên nồi xôi chính trị, lại là cuộc xâm lăng không tiếng súng đang diễn hành./-
(Bài viết tháng 04/2006, đã đăng báo Việt Nam Nhật Báo, San Jose, CA; Hồn Việt, CA; Thời Báo, Melbourne, Úc Châu)
Ðông Lan
CON TRAI NGUYỄN HỮU LOAN
NÓI VỀ CHA MÌNH
ĐCV:
Hữu Loan ra đi trong sự im lặng của truyền thông nhà nước. Những tờ báo có xu hướng cởi mở hơn như VxExpress, Thanhnien, Dantri.v.v. có đưa tin về cái chết của ông nhưng trong một chừng mực khá dè dặt. Người ta kể về cuộc đời khốn khó của ông nhưng không đề cập tới nguyên nhân của sự khốn cùng đó. Nhắc tới những năm tháng vất vả của ông, nhưng không nhắc tới Nhân Văn Giai Phẩm hay Cải Cách Ruộng Đất.v.v. Mặc dù né tránh đề cập thẳng tới những vấn đề tế nhị, những bài viết này cũng diễn tả khá chân thực cuộc đời Hữu Loan.
Sau 95 năm tồn tại nhọc nhằn nhưng rắn rỏi giữa cuộc đời, “cây gỗ vuông chành chạnh của” đất Nga Sơn đã nằm xuống, nhẹ nhàng và thanh thản, để lại cả một pho chuyện kể, thật nhưng lạ kỳ như huyền thoại, về một lão thi nhân luôn “bận làm người”.
Dưới đây là câu chuyện về tác giả Màu tím hoa sim từ những ký ức sống động của anh Nguyễn Hữu Đán – con trai nhà thơ.
Sinh năm 1969, kiến trúc sư Nguyễn Hữu Đán là con trai thứ tám trong số 10 người con của thi nhân. Tuy sinh sau đẻ muộn, nhưng trong trí nhớ của anh, tuổi thơ khốn khó và hình ảnh người cha lầm lụi kiếm gạo nuôi con vẫn là những ám ảnh khôn nguôi.
Anh Đán kể: “Thời đó, nhà nào cũng khổ, nhưng bố mẹ tôi rơi vào hoàn cảnh ngặt nghèo hơn, vì gia đình sống ngoài hợp tác, hầu không có tem phiếu, gạo thịt”. 10 đứa con của vợ chồng thi nhân lần hồi lớn lên bằng những chuyến xe kĩu kịt đá của bố và những mớ bánh chui nhủi của mẹ – bà Phạm Thị Nhu. Chính sách hồi đó cấm nghiêm ngặt việc chế biến, buôn bán, giết mổ. Để có mỡ làm bánh, gia đình nhà thơ từng phải nuôi chui một con lợn trong chuồng kín. Lúc giết thịt, để ngăn tiếng kêu của con vật, ông phải trộn tro và ớt đổ cho lợn bị sặc, rồi cho vào bao tải, ngâm xuống ao cho đến lúc chết hẳn rồi mới giết. Làm ra mớ bánh, gánh bún là bao nhiêu nhọc nhằn, lam lũ của hai vợ chồng nhưng không phải lúc nào gánh quà của bà Nhu cũng đông buổi chợ.
“Những hôm phòng thuế bắt chợ, cũng như người ta, gánh bún của mẹ tôi bị hắt xuống hào. Thương con, xót của, mẹ tôi lội xuống, bốc về. Bố tôi đãi nước cho hết cát để cả nhà ăn trừ bữa. Nhà đông miệng ăn, gạo thường phải trộn thêm rau, nấu thành cháo, ưu tiên chia phần theo thứ tự từ đứa bé đến đứa lớn. Nhà tôi giờ vẫn còn giai thoại về những người anh húp cháo nóng rất nhanh”, kể đến đây, anh Đán miệng cười, nhưng mũi ửng đỏ, đôi mắt, sau cặp kính trắng, dường như không dám chớp mi. Người đối diện, chỉ còn cách cũng vờ nhìn quanh quất, để giúp anh ngăn dòng nước mắt, bước qua một trong muôn vàn đoạn ký ức khó nhọc chưa chịu phai mờ.
10 đứa con đã lần lượt lớn lên, tưởng như trời sinh voi, hẳn phải sinh cỏ. Nhưng theo anh Đán, anh chị em anh đã thành người bởi họ có một người cha kiên cường và một người mẹ biết chắt chiu, tần tảo. Thi sĩ Nga Sơn, ban ngày mòn vai, chai chân thồ đá, ban đêm còn vác te vó, xiếc tép nuôi con. Đất nhiều, vườn rộng, ông chịu khó trồng rau, trồng sắn, để tháng ba ngày tám, phòng lúc đói có sẵn cái để đào lên cho các con ăn.
Vợ chồng nhà thơ Hữu Loan. Ảnh: st.
Ngoài sự thiếu thốn, cực nhọc về vật chất, nhà thơ Hữu Loan, theo con trai ông, còn phải chịu đựng nỗi khổ về tinh thần, trước sự nhiếc móc của họ hàng vì cách sống thẳng thắn và khẳng khái của ông. Tuy vậy, anh Đán khẳng định, 10 anh em anh chưa từng trách móc, hờn giận bố về lựa chọn của ông. Ngược lại, họ tự hào vì trong mỗi đứa con, dù ít dù nhiều đều thừa hưởng sự tài hoa và tính cách trung thực, thẳng thắn để trưởng thành.
Nghèo khổ, vất vả nhưng con cái của nhà thơ Hữu Loan đều có tư chất và năng lực. Sự đỗ đạt của những đứa con là niềm hạnh phúc của mọi bậc cha mẹ, nhưng với riêng nhà thơ Hữu Loan, mỗi lần con đỗ đạt là một lần ông nhọc lòng, day dứt. Khi con trai cả của nhà thơ – anh Nguyễn Hữu Cương – đủ điểm đi học ở Liên Xô nhưng không nhận được giấy báo, nhà thơ đành bất lực để con bỏ dở đường học hành, đi làm thợ. Đứa con gái thứ hai đỗ Sư phạm, cũng không nhận được giấy báo. Lần này, thương con, ông quyết tìm ra ngọn ngành. Nhà thơ lên Ty giáo dục huyện, huyện bảo xuống xã. Về xã, xã bảo lên huyện. Năm lần bảy lượt như thế. Cuối cùng ông xông thẳng vào Ty giáo dục huyện tìm bằng được giấy báo cho con. Nay con gái thứ hai của nhà thơ là giáo viên dạy học ở quê.
Trong số 10 người con của Hữu Loan, anh Nguyễn Hữu Đán là người thành đạt nhất. Tốt nghiệp PTTH, anh ở nhà mở xưởng cơ khí đỡ đần bố mẹ và các anh em. Sau 5 năm làm thợ, anh ôn thi và đỗ vào trường kiến trúc. Bây giờ, anh đã có cả một cơ ngơi và là chủ tịch hội đồng quản trị Công ty cổ phần bảo tồn di sản văn hóa kiến trúc Việt.
Khi đã có điều kiện, anh muốn làm mua sắm mọi thứ, để bù đắp cho cả cuộc đời thiếu thốn của bố mẹ. Nhưng những con người đã quen dành dụm, chắt chiu, đã quen khổ cực dường như vẫn không muốn thay đổi nếp sống của mình. “Bố tôi vẫn vậy, ăn uống rất thanh cảnh. Ông hầu như không ăn thịt, chỉ ăn ít cá và rất thích rau, dưa, hay chuối xanh chấm mắm tôm. Mẹ tôi đến giờ vẫn cặm cụi giữ từng chiếc đũa sờn, vá từng chiếc thúng rách”, anh Đán kể.
Anh Nguyễn Hữu Đán trong một chuyến công tác ở Campuchia.
Theo đuổi công tác bảo tồn di sản, anh Đán ý thức rất rõ, nhiệm vụ lớn nhất của anh là bảo tồn di sản của bố mình. Hiện tại, anh đã sưu tầm được một số bản thảo, gồm câu đối, thơ, trường ca và thơ dịch. Anh dự định xuất bản một tuyển tập, viết hồi ký về bố và xây một nhà lưu niệm nhỏ về nhà thơ tại chính nơi ông đã gắn bó gần như cả cuộc đời mình.
Trở lại với cái chết của nhà thơ, anh Nguyễn Hữu Đán cho biết, thi nhân ra đi rất thanh thản. Trước đó vài hôm, ông còn âu yếm đùa vui với người vợ hồn hậu. “Vài ngày trước khi mất, bố gọi mẹ vào ngồi cạnh giường. Mẹ tôi lóng ngóng ngồi cả vào chân bố bị khuất dưới lớp chăn. Ông trìu mến càu nhàu: ‘Sao đã sống với tôi cả 50 – 60 năm mà bà còn đè cả vào chân tôi thế này”. Khi mẹ tôi hỏi: ‘Ông có thương tôi không?’, bố tôi trả lời: ‘Tôi không thương bà thì thương ai’”, anh Đán kể.
Nhà thơ Hữu Loan gọi mình là “cây gỗ vuông chành chạnh”. Nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường gọi Hữu Loan là “Ông Từ Thức Nga Sơn”. Còn với các con của nhà thơ, ông trước hết và trên tất cả, là người chồng, người cha, đã để lại cho vợ cùng 10 người con, 37 đứa cháu không chỉ di sản thơ ca mà cả một nhân cách sống.
Đọc những bài liên quan:
Tự thuật của Hữu LoanHữu Loan
- Cây gỗ vuông chành chạnh. TDBC
Người Việt chúng ta vốn có lòng tự hào và tự tôn dân tộc hơi quá...
Thưa quý độc giả, thưa đồng bào quốc nội và khúc ruột ngàn dặm,
Thân hào nhân sỹ Việt nam ta đâu cả rồi, sao chưa đưa tập đoàn diệt chủng HỒ CHÍ MINH, PHẠM VĂN ĐỒNG, LÊ DUẪN, TRƯỜNG CHINH, ĐỔ MƯỜI, LÊ ĐỨC THỌ, LÊ ĐỨC ANH... và lủ công nô ra tòa án quốc tế?
Oan hồn của 8,000 đồng bào Thừa Thiên -Huế bị thãm sát trong biến cố Mậu Thân 1968, oan hồn của quân cán chính của cả hai miền Nam-Bắc chết vì cuồng vọng đế vương của Hồ Chí Minh, Oan hồn của các sỹ quan QLVNCH chết thãm khổ bởi sự hành hạ tra tấn của cán bộ quản giáo VC trong các trại cải tạo, Oan hồn của hàng triệu đồng bào chết đói chết khát, chết do hải tặc, do bão tố phong ba trên biển cả khi vượt biển đi tìm tự do.... sẽ không chưa thể yên nghỉ khi Hồ Chí Minh vẫn còn "sống mãi trong sự nghiệp của...." và khi bọn cộng sản vẫn còn cởi cổ đè đầu và sông trên xương máu của cả dân tộc Việt nam này...
Kính mời quý vị đọc một bức thư thật bi hùng của cựu thủ tướng Cambodia viết cho đại sứ Mỹ trong những ngày cuối cùng của tháng Tư đen 1975 (Được đăng trên báo Đàn Chim Việt: http://www.danchimv iet.com/2010/ 03/30/m%E1% BB%99t-la- th%C6%B0- bi-hung/) để có thể chúng ta nhìn lại chính mình, để chúng ta suy gẫm về chính chúng ta và có thể qua những dòng ngắn ngũi trong bức thư này, chúng ta sẽ học được một điều gì đó từ người Miên - một dân tộc man di trong mắt của người Việt chúng ta....
Vũ Hoài Bão
Lá Thư của Cố Thủ Tướng Kampuchia Sosawath Sirik Matak gởi cho ông Đại Sứ Hoa Kỳ (1975)
****Từ trái qua phải : Sisowath Sirik Matak, Lon Nol , and In Tam.
**** THƯ nguyên gốc

Nam Vang, ngày 16 tháng 4, năm 1975.
Thưa Quý Ngài và Ông Bạn,
Tôi thành thật cảm tạ ngài đã viết thư và còn đề nghị giúp tôi phương tiện đi tìm tự do. Than ôi! Tôi không thể bỏ đi một cách hèn hạ như vậy! Đối với Ngài (đại sứ John Gunther Dean) và nhất là đối với xứ sở vĩ đại của Ngài, không bao giờ tôi lại có thể tin rằng quý vị đã nhẫn tâm bỏ rơi một dân tộc đã lựa chọn tự do. Quý vị từ chối bảo vệ chúng tôi và chúng tôi chẳng thể làm được gì hết. Ngài ra đi, tôi cầu chúc Ngài và xứ sở của Ngài được hạnh phúc dưới bầu trời này. Nhưng xin Ngài nhớ cho rằng nếu tôi phải chết ngay đây và trên đất nước tôi yêu dấu thì tuy đó là điều đáng tiếc, nhưng tất cả chúng ta đều sinh ra và cũng sẽ chết vào một ngày nào đó. Tôi chỉ ân hận một điều là đã lỡ lầm đặt niềm tin quá lớn ở nơi quý vị, những người bạn Hoa Kỳ!
Thành tín,
Monday, March 29, 2010
Trung Quốc với 40 triệu 'quang côn'
Ngô Nhân Dụng
Người Tầu đọc là “Guang-gun,” đọc lối Việt là Quang Côn. Quang là sáng, cũng nghĩa là trống trải, như khi ta nói “phong quang, quang đãng.” Côn là cây gậy dùng để đánh nhau, “Côn quyền ra sức lược thao gồm tài.” Quang côn là cây gậy trơ trụi, là cành cây không lá không hoa, người nói tiếng Anh dịch là Bare Branches. Hai tác giả Valerie Hudson và Andrea den Boer đã viết cuốn sách mang tựa đề “Bare Branches,” dịch từ hai chữ Quang Côn, trình bày tình trạng nhiều đàn ông ở nước Tầu “không thể kiếm được vợ.” Sách do nhà xuất bản Ðại Học MIT in năm 2004.
Trong từ điển Hán Việt cũng ghi nghĩa chính rất thông dụng đó: quang côn là đàn ông con trai chưa có vợ, độc thân, cũng gọi là ế vợ.
Ðề tài cuốn sách này có vẻ không đáng chú ý, vì người Việt chỉ lo con trai nhà mình khó kiếm vợ, chẳng ai cần quan tâm đến tình trạng đàn ông bên Tầu ế vợ! Nhưng khi đọc thấy con số 40 triệu đàn ông con trai độc thân dự đoán trong mười năm tới ở lục địa Trung Hoa thì thấy cũng đáng suy nghĩ. Gần đây, một tuần báo Anh viết một bài dài, nhấn mạnh đến cảnh đàn ông ế vợ ở nhiều nước, đặc biệt là ở Trung Cộng, khi họ trình bày tình trạng phá thai hoặc giết trẻ gái sơ sinh khắp thế giới. Hàng trăm triệu em bé gái đã bị giết ngay trong bụng mẹ vì cha mẹ không muốn có con gái. Một hậu quả là cảnh đàn ông ế vợ vì nhiều trai, ít gái quá, ở những nước như Trung Hoa, Ấn Ðộ , Armenia , Georgia , vân vân. Người Việt phải chú ý đến chuyện bên Tầu.
Theo báo Nhà Kinh Tế (The Economist, March 6, 2010) thì Viện Khoa Học Xã Hội Trung Quốc (CASS) vào đầu năm 2010 đã tiên đoán trong mười năm nữa ở nước Tầu cứ 5 thanh niên đến tuổi cưới vợ sẽ có một chàng không thể tìm được cô nào để “rước về” cả. Họ tính ra con số trên dựa trên tỷ lệ số trẻ em trai và gái sinh ra trong khoảng từ 5, 10 năm trước tới nay. Vào năm 2020 trong lớp tuổi 19 trở xuống, sẽ có từ 30 đến 40 triệu thanh niên “dư” so với số phụ nữ độc thân cùng tuổi, nghĩa là không thể kiếm được vợ.
Ðể độc giả thấy rõ con số đó lớn hay nhỏ ra sao, báo Economist đã so sánh: Con số 40 triệu này lớn bằng tất cả số thanh niên ở nước Mỹ vào năm 2020, có vợ hoặc chưa có vợ. Con số đó cũng cao gần gấp đôi số thanh niên trẻ ở ba nước Ðức, Pháp và Anh quốc cộng lại, ba nước đông dân nhất Âu Châu. Trong lịch sử, chưa bao giờ có một quốc gia nào trên thế giới lại “chứa” một lực lượng đàn ông độc thân và ế vợ cao đến thế, trong thời gian không có chiến tranh. Nếu so sánh với Việt Nam thì con số 40 triệu đó cũng sấp sỉ một nửa dân số nước ta, tức là gần bằng tổng số người đàn ông, con trai người Việt, kể từ trẻ sơ sinh tới các cụ già.
Nhưng đối với người Việt Nam thì con số 40 triệu này có phải một điều đáng lo nghĩ hay một mối đe dọa hay không?
Có, nếu chúng ta tin một số quy luật dân số học trong quá khứ có thể được lập lại trong tương lai. Nhiều nhà nghiên cứu nhận thấy rằng khi dân số một nước tăng lên nhanh hơn khả năng sản xuất, đặc biệt là khi số thanh niên trai tráng lên cao, có nhiều người trong tuổi lao động bị thất nghiệp, đặc biệt hơn nữa là trong số đó có quá nhiều người không thể nào kiếm được vợ vì thừa trai thiếu gái, thì một hệ quả là các nước ế vợ thường hay gây chiến với lân bang. Có thể họ thấy đó là một cách giải quyết số đàn ông thặng dư này, nhất là để tránh không cho đám thanh niên “bức xúc” bất mãn đó không còn thời giờ mà phạm tội, hoặc quay ra làm cách mạng, nổi loạn chống chính quyền nữa. Không phải cuộc chiến tranh nào cũng xẩy ra vì quá nhiều thanh niên ế vợ; nhưng trong một xã hội mà số đàn ông thặng dư đông quá thì những người cầm quyền thường hay gây chiến, nhất là khi kinh tế suy yếu.
Hy vọng là thế giới nay đã thay đổi, chuyện này sẽ không diễn ra trong tương lai. Vì hiện nay loài người đã văn minh hơn, kinh tế toàn cầu hóa, các nước tôn trọng tự do mậu dịch; sẽ không để cho nước nào thiếu việc làm hay thiếu thực phẩm. Miễn là có trao đổi thương mại, có công việc làm là ai cũng có gạo ăn và có đủ trò giải trí.
Nhưng theo Valerie Hudson và Andrea den Boer thì có những hậu quả khác khó tránh được khi số thanh niên ế vợ tăng cao quá. Một, là số người phạm tội sẽ gia tăng; cho nên, chế độ chính trị sẽ thiên về đường lối độc tài để đối phó với mối lo bất ổn.
Bình thường, những người phạm tội và bạo động trong xã hội đa số vẫn là giới trẻ. Những người trẻ ế vợ, không phải gánh trách nhiệm đối với vợ và con thì dễ phạm tội hơn, lý do cũng dễ hiểu. Trong nhiều xã hội, những thanh niên ế vợ quá lâu còn bị mọi người chung quanh coi thường, nếu không nói là coi khinh, gạt ra ngoài lề xã hội, họ càng có lý do để nổi loạn. Hai chữ “quang côn,” cành cây trụi lá, chứa ý nghĩa khinh thường, ai cũng thấy - cũng giống như người Việt Nam gọi họ là “bị sao Mộc Ðức (tức là đực, mốc) chiếu mạng!”
Tất cả các yếu tố đó dễ thúc đẩy đám thanh niên bị gạt ra bên lề xã hội sinh ra bạo động và phạm tội. Nhiều người sẽ gia nhập băng đảng, để được kính trọng hơn, và để thể hiện “nam tính” của mình. Ở các xã hội thừa trai thiếu gái, những vụ hiếp dâm, bắt cóc phụ nữ ép làm vợ, và nạn mãi dâm đều cao hơn các xã hội bình thường.
Ðể đối phó với đám thanh niên bất mãn dễ gây tội và dễ làm loạn đó, Valerie Hudson và Andrea den Boer nhận xét, các chính quyền thường quay sang khuynh hướng độc tài.
Hudson và den Boer viết, các chính phủ “phải giảm bớt mối đe dọa của những chàng trai trẻ này đối với xã hội. Hậu quả là họ trở nên độc đoán hơn để đối phó với các tội phạm như băng đảng, buôn lậu, vân vân.”
Tại sao có tình trạng 30 đến 40 triệu “quang côn,” đàn ông ế vợ, ở nước Trung Hoa trong vòng 10 năm tới? Người ta nghi rằng đó là do nhiều bậc cha mẹ đã phá thai khi biết bào thai sẽ sinh ra là một em gái; và tệ hơn nữa, có người giết trẻ em gái ngay lúc lọt lòng. Nhiều cô mụ đỡ đẻ được trả tiền để làm việc này. Một tác giả người Trung Hoa đang sống ở Anh đã mô tả cảnh tượng đó, mà cô là người chứng kiến. Có những người mẹ sau đó hối hận đã tìm cách tự tử. (Cuốn sách là Message from an Unknown Chinese Mother của Xinran Xue).
Chính sách thời Mao Trạch Ðông hạn chế mỗi gia đình chỉ được có một con chỉ là một trong nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng tội lỗi này. Vì người ta đã thấy khắp thế giới, không riêng gì ở Trung Cộng đã xẩy ra tình trạng nhiều con trai, ít con gái. Và tại Trung Hoa, những tỉnh có chính sách dễ dãi trong việc hạn chế số con, nhiều khi cho phép các cặp vợ chồng có 2 con, thì chính ở những tỉnh đó tỷ lệ sinh con trai cao hơn sinh con gái còn nặng nề hơn ở các tỉnh khác. Những vùng kinh tế phát triển cao thì tỷ lệ chênh lệch cũng cao hơn, những nơi nhiều người có học, biết dùng các phương pháp dò để biết trước thai nhi là trai hay gái, thì tỷ lệ chênh lệch cũng cao hơn nữa.
Trong các xã hội bình thường, cứ 100 trẻ em gái sinh ra thì có từ 103 đến 106 trẻ sơ sinh con trai. Vì trẻ em con trai dễ bị chết yểu hơn con gái, cho nên khi chúng lớn lên đến tuổi lập gia đình thì số trai gái cao sấp sỉ bằng nhau. Nhưng tại nhiều nước hiện nay tỷ lệ 100 gái/105 trai không còn giữ được nữa. Trong những năm từ 1985 đến 1989, tỷ lệ nam nữ ở Trung Hoa đã chênh lệch thành 100/108, tức là 100 bé gái thì có 108 bé trai. Trong những năm từ 2000 đến 2004, tỷ lệ càng nghiêng lệch thêm, 100 bé gái sinh ra thì sinh 124 bé trai. Tại nhiều tỉnh ở miền Nam và trung nước Tầu, tỷ lệ này lên tới 100/130 hay 140.
Tỉnh Quảng Ðông là một nơi cứ 100 em gái ra đời thì có 120 em trai, trong mười lăm, hai mươi năm nữa, cứ 100 cô gái sẽ có 120 cậu trai muốn cưới làm vợ. Quảng Ðông ở ngay sát nước ta. Nếu trong mươi năm tới ở tỉnh này, thuộc loại trù phú nhất Trung Quốc, mà có dăm, mười triệu thanh niên ế vợ, thì có ảnh hưởng gì tới xã hội Việt Nam hay không?
Ảnh hưởng hay không còn tùy thuộc vào chính sách của những người cầm quyền ở Việt Nam . Người Trung Hoa có thể đối phó với nạn hàng chục triệu đàn ông ế vợ bằng cách đi mua hay dụ dỗ, bắt cóc phụ nữ ở các nước đem về. Những phụ nữ này có thể bị mua hoặc ép làm vợ, hay bị khai thác làm nghề mại dâm. Chính phủ của họ có thể làm ngơ, các chính quyền địa phương có thể khuyến khích những hành động phi pháp và vô đạo này. Những nước chung quanh, trong đó có Việt Nam , phải biết tự vệ. Những nước nghèo tất nhiên phải ngăn ngừa cẩn thận hơn nạn buôn người, xuất cảng phụ nữ.
Một lối thoát khác của thanh niên ế vợ ở Trung Hoa là đem họ ra nước ngoài làm việc. Hiện nay trong nước Tầu đang có cảnh nhiều ngành công nghiệp thiếu nhân lực, nhưng chính phủ Trung Cộng vẫn khuyến khích việc đem các công nhân Trung Hoa đi làm việc ở nước ngoài. Nhiều công trình xây dựng hạ tầng cơ sở, phi trường, nhà máy, do các công ty Trung Cộng phụ trách sử dụng toàn người Trung Hoa từ lục địa đem qua. Nay lại thêm các chương trình thuê đất trồng rừng hoặc trồng cây kỹ nghệ của người Trung Hoa, đó cũng là những nơi sử dụng công nhân Trung Cộng. Nếu chính phủ các nước biết thì họ phải đưa ra chính sách ngăn ngừa những công nhân ngoại quốc bất hợp pháp này. Nếu không thì đây cũng là một cách giải quyết nạn “quang côn” quá đông của người Trung Hoa.
Nếu như lời tiên đoán của hai tác giả Valerie Hudson và Andrea den Boer đáng chú ý thì người Việt Nam còn phải tính trước đề phòng với một nước Trung Hoa nằm dưới một chế độ cộng sản càng ngày càng độc tài hơn, vì họ lo sợ cảnh hỗn loạn, bạo động do các “quang côn” gây ra. Một nước Trung Hoa tự do dân chủ sẽ không có tham vọng bành trướng mạnh mẽ như một nước Trung Hoa độc tài chuyên chế. Vì các chính quyền độc đoán bao giờ cũng gây tình trạng thù nghịch với các nước khác để kích thích tự ái quốc gia, đánh lạc nỗi bất mãn của dân. Một chính phủ tự do dân chủ khó gây chiến tranh, vì rất khó thuyết phục dân chúng đồng ý; còn một chính quyền độc tài thì họ không cần hỏi ý kiến dân. Khi nước Trung Hoa có 30 tới 40 triệu thanh niên không tìm đâu ra vợ thì các nước chung quanh đều phải lo ngại, nhưng Việt Nam đáng lo nhất.
Vì chính phủ cộng sản ở hai nước đều độc tài chuyên chế, và họ đang coi nhau là đồng chí và anh em. Chính sách ngoại giao của hai đảng không cho phép một định chế độc lập nào của người dân để kiểm soát; mà dân chúng cũng không có quyền tự do ngôn luận để góp ý kiến./-
Lá Thư Lịch Sử
Của Cố Thủ Tướng Kampuchia Sosawath Sirik Matak
gởi cho ông Đại Sứ Hoa Kỳ (1975)
Vào tháng 4 năm 1975 , khi quân đội Cộng sản đang trên đường tiến vào Nam vang thì người Mỹ đã mời Thủ tướng Sirik Matak và toàn bộ chính phủ Miên nên ra đi, vì ở lại thì sẽ bị Khờ Me Đỏ sát hại.
Ngày 16 tháng 4 năm 1975, Thủ tướng Sirik Matak đã viết một lá thơ vô cùng cảm động gởi cho Đại sứ Mỹ tại Nam Vang là ông John Gunther Dean . Lá thơ đầy nghĩa khí và tiết tháo của một người anh hùng “sinh vi tướng, tử vi thần” như sau : Phỏng Dịch.-
Nam Vang ngày 16 tháng 4 năm 1975.
Thưa Ngài và Bạn,
Tôi thành thật cảm tạ ngài đã viết thư và còn đề nghị giúp tôi phương tiện đi tìm tự do . Than ôi ! Tôi không thể bỏ đi một cách hèn nhát như vậy !
Với Ngài (đại sứ John Gunther Dean) và nhất là với xứ sở vĩ đại của Ngài , không bao giờ tôi lại tin rằng quý vị đã nhẫn tâm bỏ rơi một dân tộc đã lựa chọn tự do .
Quý vị từ chối bảo vệ chúng tôi và chúng tôi chẳng thể làm được gì hết .
Ngài ra đi, tôi cầu chúc Ngài và xứ sở của Ngài được hạnh phúc dưới bầu trời này ..
Nhưng xin Ngài nhớ cho rằng nếu tôi phải chết ở đây và ở lại đất nước tôi yêu dấu thì tuy đó là điều tệ hại , nhưng tất cả chúng ta đều sinh ra và cũng sẽ chết vào một ngày nào đó .
Tôi chỉ ân hận một điều là đã quá tin và trót tin ở nơi quý vị, những người bạn Hoa Kỳ !
Xin Ngài nhận những cảm nghĩ chân thành và thân hữu của tôi .
Sirik Matak .
A K.
19:11 AEST Mon Mar 29 2010
11 hours 46 minutes ago
A Chinese court has sentenced Australian Rio Tinto executive Stern Hu to ten years.
Also on Hey Dad! Cast members speak out DamageHow your body can destroy you
More world news:
Arctic talks open amid protests
Mar 30, 2010
Suu Kyi's party to boycott Burmese vote
Mar 30, 2010
Race on to rescue 153 trapped miners
Mar 30, 2010
Israelis concerned over world standing
Mar 30, 2010
Female bombers kill 38 on Moscow metro
Mar 30, 2010
Sarkozy pushes for world finance rules
Mar 30, 2010
Boy accused of killing pregnant woman
Mar 30, 2010
Lumley hits back at MP over Gurkhas
Mar 30, 2010
US Christian militia members charged
Mar 30, 2010
Thai PM, Red Shirts talks in stalemate
A Chinese court has convicted four employees of mining giant Rio Tinto, including Australian national Stern Hu, on bribery and trade secrets charges, handing down jail terms ranging from seven to 14 years.
Hu, the head of the Anglo-Australian miner's Shanghai office, was sentenced to 10 years in prison. His Chinese colleagues Wang Yong, Ge Minqiang and Liu Caikui were given jail terms of 14, eight and seven years, respectively.
The four were on Monday sentenced to jail terms ranging from seven to 14 years, after being found guilty of stealing the association's minutes and information on China steel giant Shougang's output, and receiving bribes.
It marked the first time that details on the trade secrets charges had been publicly revealed. Last week's three-day hearing was held behind closed doors.
The four Rio employees were arrested last July during contentious iron ore contract talks between top mining companies and the steel industry in China, the world's largest consumer of the raw material. The talks collapsed.
The court in Shanghai also said Hu, who heads Rio's Shanghai office, took bribes totalling $US950,000 ($A1.05 million).
The four defendants appeared before the court in civilian clothing, with Hu wearing a blue wind-breaker.
Hu also was fined 500,000 yuan and had another 500,000 yuan worth of personal assets confiscated, the court said.
The trial has been closely watched as a test of the rule of law in China and has sparked concerns about doing business in the world's third-largest economy.
Hu's lawyer Jin Chunqing told The Associated Press by telephone that an appeal had not yet been decided.
"We haven't decided yet if we would appeal to the higher court or what we should do for the next step, as we need to meet and discuss with Stern face to face, and as soon as possible," Jin said.
Three decades after China opened up to the world, US and European businesses are now complaining of increasingly onerous rules, preferential treatment for local firms and growing nationalism.
The four had pleaded guilty to taking money, and one had admitted to commercial espionage, but the accused had disputed aspects of the charges, their lawyers said.
A prosecutor had recommended that Hu be given a lenient sentence after he apologised to the court and to Rio, saying he took more than $US900,000 ($A994,475) to help childhood friends in need, his lawyer Jin Chunqing said.
At the three-day trial of the Rio employees, the court heard evidence that millions of yuan in bribes had been stuffed into bags and boxes for the accused, according to state media.
Hu took money from small private steel companies, which before the global financial crisis were locked out of buying iron ore from Rio because the mining giant prioritised large state-run steel companies, Jin said.
When the global economic crisis hit in September 2008, demand for iron ore plummeted and the smaller players paid bribes "to squeeze into the club and join the buyers", he said.
Wang strongly objected to the bribery allegations, saying he simply borrowed the money from one of China's richest men, Du Shuanghua, the National Business Daily said.
Du, the former head of Shandong-based Rizhao Iron & Steel group, has contradicted Wang's account, saying he paid the Rio employee $US9 million ($A9.94 million) for preferential treatment, the newspaper said.
China appeared to have broken its own laws by excluding Australia's consular staff from the hearings, according to New York University professor Jerome Cohen, a leading US expert on Chinese legal issues.
The decision "to exclude the Australian consuls violated existing Chinese law, which since 1995 has explicitly instructed China's courts to permit foreign consular representation even at non-public trials", Cohen wrote in an article co-authored with Yu-Jie Chen, a fellow at the US Asia Law Institute.
Saturday, March 27, 2010
Hàng ngàn người tham dự Biểu Tình trước Toà Lãnh Sự CSVN ở Houston
Mar 25, 2010
Đáp lời kêu gọi của Chủ Tịch Cộng Ðồng Người Việt Quốc Gia và Ủy Ban Phối Hợp Ðấu Tranh Chính Trị đã có trên 1,000 người tham dự cuộc biểu tình rầm rộ với rừng cờ Vàng ba sọc đỏ và cờ Hợp Chủng Quốc đứng chật hai bên lề đường Sage góc 5251 Westheimer bên cạnh Galleria Mall để phản đối sự hiện diện của Toà Tổng Lãnh Sự CSVN (Vietnam Consular Section) và tên Tổng lãnh sự Lê Dũng (cựu phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao CSVN) cùng đám nhân viên của tập đoàn Cộng sản trên thành phố này.
Tất cả mọi người hiện diện đã cùng hô to "đả đảo Cộng Sản" hay là "Việt Cộng go home" hoặc là "không cần Toà Lãnh Sự CS ở nơi đây", "hãy về lo cho dân đi" "đả đảo bọn bán nước hại dân" v.v... và v.v... Ðứng giữa đường có nhiều cảnh sát lưu thông, có cả cảnh sát cởi ngựa, đi dọc hai bên lề đường để canh chừng an ninh trong khu vực có biểu tình, không nhân viên công lực nào làm khó dễ đoàn biểu tình, vì đoàn biểu tình đã tự giác giữ trật tự nên suốt cuộc biểu tình từ 10 giờ sáng đến 1 giờ trưa đã không có chuyện gì đáng tiếc xảy ra.Vào lúc 9 giờ rưỡi khá đông đảo đồng hương đã đến từ nhiều vùng của thành phố Houston hợp cùng phái đoàn biểu tình đến từ Dallas và hạt Tarrant. Ðoàn biểu tình có già có trẻ, có nam có nữ, đa số đều phải đi làm nhưng xin nghỉ một ngày để tham dự cuộc biểu tình ngày hôm nay. Cũng có nhiều cụ ông chống gậy tham dự cuộc biểu tình này nói lên lập trường dứt khoát không chấp nhận CS của họ.
Ðặc biệt là một cụ bà 97 tuổi ngồi xe lăn đã không quản ngại thời tiết còn lạnh lẽo đã đến tham dự cuộc biểu tình chống toà TLS Việt cộng và muốn xem mặt đám Việt Gian tham tiền, quên liêm sĩ lén lút đến tham dự.Nghị viện thành phố Al Hoàng, District F thành phố Houston cũng hiện diện với tư cách cá nhân, ông phát biểu như sau: "Ngày hôm nay CSVN lén lút mở cửa Tổng Lãnh Sự Quán chứ không phải là khai trương (khánh thành). Khi nói khai trương một cơ sở lớn hay nhỏ gì người ta cũng phải gởi thiệp mời hay thông báo trước một thời gian. Ðằng này họ không hề thông báo hay mời bên Hội Ðồng Thành Phố đến cùng họ cắt băng khánh thành, thậm chí họ cũng không thông báo tin vui của họ trên các cơ quan truyền thông... Nói tóm lại họ không dám làm gì hết, chỉ âm thầm lén lút mở cửa làm việc... Chứ chẳng lẽ Toà Tổng Lãnh Sự của họ có mặt nơi này mà im lìm từ ngày này qua ngày khác... Ðây không phải là Toà Tổng Lãnh Sự mà chỉ là một cái ổ tội ác! Tôi hiện diện nơi đây với tư cách cá nhân cùng sát cánh với đồng hương để bày tỏ thái độ không chấp nhận Toà Tổng Lãnh Sự CSVN".
Một group của đoàn biểu tình đang biểu dương khí thế chống Tòa TLS/CSVNVề phía Hội Ðồng Ðại Diện Cộng Ðồng Người Việt Quốc Gia Houston & Vùng Phụ Cận, ông Phan Như Học, Chủ Tịch đã ra thông cáo báo chí về việc CSVN mở Tổng Lãnh Sự Quán cách chui rúc tại địa điểm 5251 Westheimer góc đường Sage, Houston, Texas vào ngày thứ Năm 25/3/2010 như sau:"Tháng 8 năm 2009, Bộ Ngoại Giao CSVN, từ Hà Nội công khai loan tin họ sẽ chính thức mở Toà Tổng Lãnh Sự CSVN tại Houston, trễ nhất là cuối tháng 9 năm 2009. Lập tức họ bị những người Việt tỵ nạn Cộng Sản khắp nơi trên thế giới, đặc biệt tại Houston, tổ chức những buổi biểu dương lực lượng phản đối và họ đã nhục nhã không dám ló đầu ra trong nhiều tháng qua. Họ đã bị nhiều người Mỹ trong chính quyền địa phương gọi mỉa mai là "go in hiding""Toà Tổng Lãnh Sự là bộ mặt của một nhà nước tại một địa phương của một quốc gia khác nên một khi chính thức khánh thành phải có những thủ tục ngọai giao xứng hợp, nếu không, đây chỉ là một sự khai trương chui rúc.
Ở Hoa Kỳ, một chuyện quan trọng như vậy phải gởi thiệp mời trước tối thiểu 30 ngày đến chính quyền các cấp, đặc biệt là Bộ Ngoại Giao, Hội Ðồng Thành Phố, các cơ quan truyền thông báo chí, cũng như thông báo rộng rãi đến các cư dân, nhất là cộng đồng mà Toà Tổng Lãnh Sự muốn giao dịch. Cộng Sản Việt Nam đã không dám công khai mờic hính quyền các cấp cũng như các cơ quan truyền thông, không có Bộ Truởng Ngoại Giao hay chí ít là Thứ Trưởng Ngoại Giao đến tham dự, cũng như không có sự hiện diện của Thị Trưởng Hội Ðồng Thánh Phố đến cắt băng khánh thành, thì việc khai trương như thế càng nói lên tư cách hèn hạ và mất lòng dân của nhà nước CSVN đang độc quyền cai trị. Họ nhục nhã đến nỗi không dám tuyên bố khánh thành Toà Tổng Lãnh Sự trên các cơ quan truyền thông báo chí của họ ở trong nước như họ đã từng làm trước đây vào tháng 8 năm 2009!"Dầu CSVN Toà Tổng Lãnh Sự mở cửa làm việc cách lén lút, Cộng Ðồng Người Việt Quốc Gia Houston & Phụ Cận mạnh mẽ yểm trợ cho Ủy Ban Ðấu Tranh Chính Trị tổ chức nhiều cuộc biểu tình ngày đêm trước Tổng Lãnh Sự Quán với hai mục tiêu chính:1. Vạch trần tội ác CSVN và sự hèn hạ lén lút mở cửa của chúng cho những người dân bản xứ.2. Nhận diện những ai đi đến thường xuyên nơi này ngõ hầu biết ai đứng về chiến tuyến người Quốc Gia và ai đứng về phe Cộng sản."Cộng Ðồng xác nhận biểu tình chống CSVN không có nghĩa là công nhận sự khai trương chính thức của họ, mà chỉ là bày tỏ không chấp nhận sự hiện diện của CSVN dưới bất kỳ hình thức nào, dầu là công khai hay lén lút mở cửa làm việc. Với lập trường này, Cộng Ðồng kêu gọi toàn dân Việt tỵ nạn CSVN khắp nơi trên thế giới, nhất là tại Texas và đặc biệt là ở Houston, hãy đến biểu tình đông đão trước Tổng Lãnh Sự Quán CSVN vào ngày thứ Năm 25/3/2010.
Kính mong quý vị ghi danh với Ủy Ban Ðấu Tranh Chính Trị để thay phiên nhau ngày đêm biểu tình trước hang ổ tội ác, đừng bao giờ để cho chúng rảnh tay rảnh trí, vì một khi chúng rảnh tay rảnh trí thì chúng liền tìm cách quậy phá đâm thọt gậy phân hoá Cộng Ðồng chúng ta."Kính mong quý đồng hương tỵ nạn Cộng sản, mỗi người một bàn tay để chúng ta tranh đấu giúp cho Quê Hương sớm có ngày Tự Do và Dân Chủ thật sự."Ông Trương Như Phùng đồng Trưởng Ủy Ban Phối Hợp Ðấu Tranh Chính Trị cũng là Trưỏng Ban Tổ Chức cuộc biểu tình hôm nay đã kêu gọi đồng bào đi biểu thật đông: "... 35 năm qua, cộng đồng người Việt tỵ nạn CSVN đã sống an bình, cùng nhau xây dựng đời sống mới trong tự do tại thành phố Houston. Ngày hôm nay, cái chế độ mà chúng ta phải trốn chạy ra khỏi quê Cha đất Tổ đi tìm tự do với cái giá là nhiều người trong chúng ta đã mất vợ, mất con, mất bạn bè trong biển cả hay trong rừng sâu, nhiều phụ nữ là thân nhân, bạn bè, con cái đã bị cướp biển hành hạ hãm hiếp trên con đường tìm tự do... Nay bọn CSVN chính thức khai trương lãnh sự quán của chúng tại Houston, chúng ta đưong nhiên phải biểu tình chống đối để tố cáo cùng chính quyền và nhân dân Hoa Kỳ cùng nhân dân khắp thế giới về những tội ác của CSVN."Một phụ nữ tên Vân mạnh mẽ phát biểu khi được hỏi cảm tưởng về cuộc biểu tình. Chị nói: "Ở trong nước họ cấm cản đủ thứ, nói ra là bị bỏ tù. Ở đây được tự do tại sao chúng ta không cất tiếng nói phản đối bọn chúng giùm cho đồng bào. Hôm nay tiệm Nail của tôi rất đông khách, nhưng tôi đóng cửa để tham gia biểu tình...".
Chị Vân tự mình may cờ vàng ba sọc đỏ gắn sẳn vào cây và mang theo đi biểu tình. Chị cũng có cây dù màu vàng ba sọc đỏ nói là của "phong trào Hưng Ca" phong trào này sẽ về Houston tham dự Lễ Quốc Hận 30/4 .Vào lúc 10 giờ rưỡi ông Trần Minh Tâm (Chủ Bút Ðẹp Magazine) và ông nhà báo thể thao Trịnh Du trong Ban Tổ Chức cuộc biểu tình đã vào thẳng văn phòng của Lãnh Sự Quán đặt trong toà building cao 11 tầng để tìm hiểu thêm về buổi lễ khánh thành tổng lãnh sự quán này. Văn phòng "Vietnam Consular Section" của họ ở lúc đầu tạm đặt ở tầng lầu thứ ba (Suite 370) nay đã dời lên tầng 11 tuốt trên sân thượng kể từ ngày 23-3-2010 để được yên thân, muốn lên tầng 11 phải dùng thêm một thang khác từ tầng thứ 10! Như ban Tổ chức cuộc biểu tình tìm hiểu được vào giờ chót thì cả nhóm chủ mời, khách tham dự lễ khánh thành khi biết được tin đoàn biểu tình của đồng hương tị nạn cộng sản sẽ đến hiện trường lúc 10:00 AM nên chúng đã đóng cửa lãnh sự quán sớm, chuồn qua bên Westin Oaks Hotel trong Galleria Mall để hội họp ăn mừng "chui" bên kia đường. Ông Trịnh Du đã gỏ cữa, đập cửa ầm ầm mà chẳng có cán bộ nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa nào ra mở cửa (dù trước cửa có gắn bảng ghi rõ giờ làm việc từ thứ Hai đến thứ Sáu, (9:30 am - 12:30 pm / 1:30 pm - 5:30 pm) và cũng chẳng có dán Note cáo lỗi, mời dự tiệc ở chổ khác... gì cả. Trong lúc đó, họa sĩ Phạm Thông (Chủ Nhiệm Tạp chí Con Ong TX), ông Nguyễn Gia Bảo cùng ông Trương Như Phùng đã tìm được nơi ăn tiệc lén lút của đám CSVN và Việt gian bên Westin Oaks Hotel, lầu 2, nhưng đã bị nhân viên an ninh mời ra, đòi tịch thu máy ảnh vì không có thiệp mời!Từ 11 giờ sáng đến 12 giờ trưa, đoàn biểu tình đã tập trung, dàn trận trước Galleria I để biểu dương lực luợng, gây sự chú ý của dân bản xứ lái xe qua đường, khiến bãi đậu xe của Mall này vắng que khách đi shopping (lỗi của ban giám đốc hotel cho đám Vẹm mướn ballroom bên trong hại các businesses bên trong mall, chứ không phải do cộng đồng người Mỹ gốc Việt!) sau đó đoàn biểu tình kéo trở về trước building nơi đặt văn phòng Lãnh Sự Quán, tại nơi đây sau phần phát biểu cảm tưởng của ông Phan Như Học, Ðặng Quốc Việt, Nguyễn Văn Nam... là tiết mục xé, đạp cờ đỏ sao vàng của CSVN, Cháu bé 5 tuổi thuộc thế hệ thế Ba của cộng đồng tị nạn đã vui thích khi có dịp đạp chân lên lá cờ đỏ khát máu này. Người viết nhận thấy khí thế đấu tranh của đoàn biểu tình rất cao, sự tham dự của giới truyền thông Việt ngữ khá nhiều, ban tổ chức đã cố công "đánh trống thổi kèn' trên các diễn đàn internet trong cộng đồng tị nạn khắp thế giới, qua tận bên châu Úc (diễn đàn Phố Nắng) kêu gọi đoàn hương tham dự rất tích cực.
Nhưng có lẽ "tiếng chuông" của ban tổ chức chưa vang rền đến tận tai các cơ quan truyền thông Anh ngữ tại địa phương nên thấy vắng bóng các cơ quan truyền thông bản xứ này đến làm phóng sự để giúp đưa tiếng nói đầy chính nghĩa của cộng Ðồng Người Mỹ gốc Việt tại Houston nói riêng, hải ngoại nói chung vào dòng chính, để cho dân chúng Hoa Kỳ và Uncle Sam biết được nguyện vọng đấu tranh cho một Việt nam tự do của cộng đồng chúng ta và quyết tâm phản đối sự hiện diện của lãnh sự quán CSVN trong thành phố Houston nơi tập trung đông đảo người Mỹ gốc Việt, một Tập Thể Tị Nạn cộng sản đã hiện diện tại xứ sở tự do này 35 năm qua (không phải vẫn là những Việt Kiều "khúc ruột ngàn dặm" như Việt Cộng gán cho và đám Việt Gian nhục nhã vui vẽ chấp nhận được gọi khi đi về nước tham quan).
Lúc 1 giờ trưa, Ban Tổ Chức tuyên bố tan hàng và mời đồng bào chuẩn bị tham dự đông đảo trong những ngày đấu tranh sắp tới, gần nhất là trong Buổi Tiệc Gây Quỹ tổ chức Ngày Quốc Hận 30-4-2010 tại Ocean Palace Restaurant vào Chủ nhật 04-4-10; cuộc Biểu Dương Khí Thế Chống Cộng trong Lễ Tưởng Niệm Ngày Quốc Hận 30-4 lần thứ 35 vào ngày Chủ Nhật 25-4-2010 tại khuôn viên HongKong City Mall và cuộc Biểu Tình Vĩ Ðại vào ngày Lễ Quốc Hận, thứ Sáu 30/4/2010, trước Tổng Lãnh Sự quán của Cộng sản Việt Nam nay đã công khai hoạt động, ngang nhiên thách thức Cộng đồng tị nạn cộng sản của chúng ta tại Houston Texas./-
Phóng viên ÐẸP Magazine .
Google thách thức cả nhà nước Trung Cộng
Thursday, March 25, 2010
Ngô Nhân Dụng
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=110430&z=7
Khi công ty Google từ chối không tiếp tục làm công việc kiểm duyệt mà chính quyền Trung Quốc bắt họ phải chịu để được làm ăn ở xứ này, nhiều người coi đây là một vụ thách thức đối với đảng Cộng Sản Trung Quốc. Nhưng, tính trên đường dài thì đây cũng là một thách thức đối với mọi người dân Trung Hoa trong lục địa. Ðặc biệt, là thách thức giới trí thức trẻ tuổi. Hơn 300 triệu người Trung Hoa đang sử dụng Internet. Dùng Internet là một bước tiến vào cuộc sống văn minh toàn cầu của thế kỷ 21. Trong hai thế kỷ qua, loài người đã tiến những bước dài trên con đường sống tự do dân chủ. Giới trí thức Trung Quốc chịu cúi đầu trước một bạo quyền của thế kỷ 19 cho tới bao giờ?
Tháng Giêng năm 2010, khi Google bắt đầu phản đối chính phủ Bắc Kinh về những vụ đột nhập vào mạng lưới của họ để ăn cắp các dữ liệu về các nhà trí thức đối lập, rất nhiều thanh niên Trung Hoa đã can đảm bày tỏ ý tán đồng hành động đó. Họ dám đương nhiên mang hoa đến đặt trước trụ sở công ty này ở Bắc Kinh. Trong một ngày, hàng trăm ngàn người bày tỏ ý kiến trên mạng, đại đa số ủng hộ lập trường của công ty ngoại quốc trẻ trung này, mà những người sáng lập cũng cùng tuổi với đa số dân Nét ở Trung Quốc. Một dân Nét đã viết: Nếu Google rút đi, Trung Quốc sẽ trở về “thời đồ đá” trong thế giới mạng lưới! Chúng ta phải khâm phục những bạn trẻ can đảm này.
Nhưng các hành động tỏ ý tán thành như trên cũng chỉ có tính cách “phản kháng bất bạo động” và thụ động. Ba tháng đã qua, Google đã thương thuyết với chính quyền Trung Quốc nhưng không tìm ra giải pháp nào thỏa đáng, bây giờ công ty đã tiến thêm một bước nữa: Rút hẳn dịch vụ dò tìm trên mạng ra khỏi lãnh thổ Trung Hoa lục địa, hướng dẫn các người muốn dùng dịch vụ tìm kiếm của Google sang mạng lưới của họ ở Hồng Kông. Chính phủ Bắc Kinh tiếp tục “đánh trả đũa” với “Trường Thành Lửa,” không cho người dân trong lục địa sử dụng Google. Nghĩa là người dân Trung Hoa muốn tìm hiểu gì về Tây Tạng, về Thiên An Môn thì chỉ được coi những tài liệu đã được chính quyền kiểm duyệt.
Cuộc đấu giữa chính quyền Bắc Kinh và Google tiêu biểu cho hai thế lực, hai quan niệm về văn minh. Một bên là một công ty trẻ mới ra đời được hơn 10 năm, đi tiên phong trên mặt kỹ thuật, lớn mạnh rất nhanh nhờ tinh thần khai phá, dám làm và dám chấp nhận rủi ro. Công ty này, ngay từ khi thành lập, đã chọn một khẩu hiệu: “Không làm ác” (Don't Be Evil), đề cao mục tiêu đạo đức chứ không còn là thương mại nữa. Bên kia là một chính quyền độc tài hủ lậu muốn kìm hãm tự do của một dân tộc với nền văn minh thuộc hàng xưa nhất thế giới. Chính quyền đó cũng là tàn tích còn sót lại của ý thức hệ Mác xít, đã bị khai tử ngay tại Âu Châu nơi chủ nghĩa và chế độ này được phát sinh. Cuộc đấu trí giữa hai bên sẽ đưa tới kết quả nào, nó sẽ định nghĩa đời sống của thế kỷ 21. Bạo Lực sẽ thắng? Hay sau cùng Ðiều Thiện sẽ thắng?
Nhiều người phê bình hành động của Google là vì hiện nay họ chỉ chiếm 30% thị trường “tra tìm thông tin” ở trong lục địa, cho nên họ có thể bỏ qua mà không bị thiệt hại bao nhiêu; nếu họ chiếm 70% thị trường thì có thể họ sẽ hành động khác. Hơn nữa, công ty này không kiếm lợi ở Trung Quốc được bao nhiêu. Tất cả số thu của họ trong lục địa chỉ chiếm vài phần trăm tổng số thu nhập hơn hơn hai chục tỷ Mỹ kim trên toàn thế giới. Do đó, quyết định từ giã thị trường Trung Quốc không khó khăn lắm. Lời phê bình này chỉ “phỏng đoán” động cơ của công ty Google, gán cho họ những động cơ xấu nhất. Hơn nữa, nói như trên là quên rằng thị trường lục địa phát triển rất mạnh, giá trị tính bằng đô la có thể tăng 40% mỗi năm. Khi tính đến tiềm năng đó, thì phải công nhận hành động từ bỏ một thị trường như vậy là rất can đảm, Google đã đặt nguyên tắc đạo lý lên trên mưu tính doanh lợi lâu dài.
Thông điệp chính của Google là, “Chúng tôi không chấp nhận đóng vai trò kiểm duyệt” cho một chế độ độc tài, để hưởng các lợi lộc kinh tế. Ðây là một thách thức. Thông điệp này có đánh thức giới trẻ Trung Quốc hay không, và họ sẽ hành động như thế nào, chúng ta còn phải chờ tương lai mới biết câu trả lời. Bởi vì hành động của cộng sản Bắc Kinh đối với Google chỉ là một trong nhiều bộ mặt của chế độ này, khi họ kiểm soát thông tin, đàn áp tư tưởng tự do, bấờt chấp quyền sống và phẩm giá của người dân Trung Hoa. Chế độ Bắc Kinh cũng kiểm soát các phương tiện thông tin hiện đại khác, như việc sử dụng Facebook, Twitter, vân vân.
Người dân, và nhất là giới trẻ Trung Hoa, đang phải sống trong một vòng kiểm tỏa giống như những con cua trong một cái giọ. Trong cái giọ đó, con cua này tìm cách leo lên đầu con cua kia, nhưng vẫn không bao giờ leo ra khỏi giọ được. Họ có tự biết như vậy hay không? Chúng tôi nghĩ là họ có ý thức về điều đó.
Một bài trong tờ Vãn Báo (Báo Buổi Chiều) xuất bản trong lục địa, số ra ngày 3 tháng 7, năm 2000, có kể một câu chuyện để tự chỉ trích bản tính thích đấu đá nhau của người Trung Hoa. Bài báo của tác giả Thẩm Xương, kể một chuyện xảy ra ở New York, có thể do tác giả bịa ra để khuyến cáo đồng bào của ông tự răn mình.
Có một công ty Mỹ ở New York thuê rất nhiều công nhân ngoại quốc gốc Á Châu. Cuối năm, ông chủ báo tin sẽ tặng 500 đô la cho các công nhân giỏi nhất. Ông yêu cầu mỗi nhóm người thiểu số họp lại một người trong bọn họ để lãnh thưởng.
Nhóm công nhân Nhật họp rất nhanh chóng, đề nghị một người. Ông chủ cũng đồng ý, vì thấy đó là một công nhân tài giỏi thật. Nhóm người Việt Nam và nhóm người Hàn Quốc họp lâu mới đưa đề nghị lên. Hai người đó đều được tặng 500 đô la, nhưng ông chủ biết họ không giỏi giang gì cả. Người Việt được chọn vì các đồng hương thấy anh ta nghèo nhất, đáng giúp đỡ! Người công nhân Hàn Quốc thì được bầu vì anh ta tính hiền lành, ba phải, không làm mất lòng ai bao giờ. Nhưng nhóm công nhân Trung Hoa thì đến chiều cũng không đề nghị ai cả. Họ không chịu bỏ phiếu coi ai là người đáng lãnh thưởng. Họ đề nghị xin chia đều 500 đô la cho tất cả mọi người trong nhóm, tất nhiên bị từ chối. (Bài này được đăng lại trong sách “Người Trung Quốc và những căn bệnh về nhân cách”).
Thực sự người Trung Hoa có tánh ưa “tranh giành” với nhau về tính nhỏ nhặt mà không nghĩ được chuyện lớn hay không, chúng ta không dám quả quyết như tác giả bài báo trên. Nhưng nói đến tật xấu này thì chắc dân Việt hay người Hoa cũng ngang ngửa như nhau!
Chính quyền cộng sản không phải là triều đại đầu tiên ở Trung Quốc muốn kiểm soát thông tin và đàn áp tự do tư tưởng của người dân. Vào đời Nam Tống, Tống Huy Tông (tên Triệu Cấu) đã ra lệnh “cấm tuyệt” không ai được viết dã sử: “Những kẻ không đắc chí, ẩn nấp khắp nơi, nhòm ngó việc triều đình, bí mật viết dã sử để rao bán tà thuyết!” Các người làm blog, bloggers bây giờ cũng không khác gì những nhà viết dã sử đời trước. Họ cũng “nhòm ngó việc triều đình” và thông báo cho nhau những ý kiến mà nhà nước coi là “tà thuyết!”
Vào thế kỷ 12 kỹ thuật thông tin còn rất thô sơ, Triệu Cấu tưởng rằng chỉ ra lệnh cấm là bưng bít được tin tức. Nhưng cuối cùng lịch sử vẫn biết và vẫn phê phán chế độ hủ bại của ông vua Huy Tông và “thủ tướng” Tần Cối. Thế kỷ 21, việc cấm người ta “viết dã sử” còn khó hơn nữa. Những cố gắng “bịt miệng dân” của chế độ cộng sản cuối cùng sẽ thất bại. Thất bại nhanh hay chậm là tùy theo thái độ và phản ứng của các thanh niên trí thức đang sống trong các giọ cua đó.
Công ty Google đã đứng ra thách thức chính quyền cộng sản Trung Hoa. Họ sẵn sàng từ bỏ các lợi lộc kinh tế để giữ tư cách, bảo vệ phẩm giá của họ. Giới trí thức Trung Hoa có chấp nhận một thử thách như vậy hay không? Tất nhiên, đây cũng là một câu hỏi đặt ra cho giới trí thức và thanh niên Việt Nam!
Chúng ta không cần so sánh người Hán với người Việt. Nhưng thế nào cũng có người đặt câu hỏi rằng “Liệu dân Việt Nam hơn gì người Hán khi phải đối đầu với một chế độ độc tài chuyên chế hay không?” Chúng ta đang chứng kiến một cuộc chạy đua xem hai dân tộc Trung Hoa và Việt Nam, cùng sống dưới các chế độ độc tài cộng sản, xem bên nào sẽ dám đứng lên phản kháng và đòi tự do mạnh bạo hơn!
Trong lịch sử, dân tộc Trung Hoa, mà đại đa số là người Hán, đã chịu sống dưới các chế độ độc tài chuyên chế do người “ngoại tộc” đứng đầu trong nhiều thế kỷ. Thời Nhà Nguyên, người Mông Cổ đã cai trị nước Tầu trong hơn một thế kỷ. Người Mãn Thanh cũng làm chủ nhân nước Trung Hoa trong gần 400 năm. Người Việt Nam có thể coi là có ý chí rất quật cường. Sau khi ý thức dân tộc phát khởi để giành được độc lập vào thế kỷ thứ 10, không bao giờ người Việt chịu cho ngoại bang cai trị nữa. Ngay trong thời Pháp thuộc kéo dài 60 năm, không lúc nào thiếu các phong trào phản kháng. Có thể nói người Việt bất khuất hơn người Hán khi cần chống ách cai trị của ngoại tộc. Nhưng trước các chế độ độc tài chiếm đoạt các quyền tự do và xúc phạm đến phẩm giá con người thì chúng ta chưa biết dân tộc nào thật sự dũng cảm hơn!
Chỉ khi nào chế độ độc tài hủ lậu đó cũng cho thấy họ khiếp nhược đối với ngoại bang, thì người Việt thế nào cũng phản ứng mạnh! Trong Tháng Ba năm 2010, người Hán đã làm lễ kỷ niệm chiến thắng của Phục Ba Tướng Quân Mã Viện vào năm 43, mà báo chí họ gọi là “Anh hùng Vệ quốc.” Không biết họ nghĩ lúc đó nước Trung Hoa bị ai đánh mà phải có anh hùng vệ quốc?
Một đoàn văn nghệ của cộng sản Việt Nam đã được tham dự lễ hội này, ngay tại thị xã Ðông Hưng, sát biên giới Trung-Việt, họ mặc áo dài khăn đóng, chụp hình đăng báo rất đẹp.
Người Việt Nam phải làm gì để tưởng niệm nhớ ơn công đức Hai Bà Trưng đây?
Ngô Nhân Dụng
Thursday, March 25, 2010
10 tỉnh VIỆT CỘNG tự ý cho Trung Quốc thuê đất
Đọc thông tin do hai vị tướng Đồng Sĩ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh nêu việc 10 tỉnh cho người Trung Quốc thuê đất ở đầu nguồn trong 50 năm… (Bauxite Việt Nam), tôi thực sự bị sốc. Vì sao các tỉnh dám tự ý làm liều đến như vậy? Tôi nghĩ đây là một chủ đề lớn, mong các cơ quan hữu trách và những người hiểu sâu, biết rộng phân tích cho rõ, nhằm cải cách việc quản lý đất nước cho có kỷ cương, không thì thậm nguy!Trong khi chờ đợi, tôi xin thử lý giải việc này.
1. Lãnh đạo các tỉnh đó có biết việc này là sai trái và ẩn chứa nhiều hậu họa khôn lường không? Họ có biết người TQ nhiều mưu sâu, kế hiểm, không từ một thủ đoạn xảo trá và trắng trợn nào để lấn chiếm biên giới, biển đảo của VN không? Tôi tin là họ không thể ngu muội đến mức không biết tâm địa của người TQ và những hậu họa sẽ xảy ra cho dân, cho nước từ việc cho thuê đất 50 năm ở những nơi phên dậu, hiểm yếu của quốc gia. Chắc chắn các cán bộ tỉnh, nhất là các Bí thư Tỉnh ủy và Chủ tịch UBND tỉnh, đủ trình độ, đủ thông tin để biết rõ điều này.
2. Họ biết rõ việc làm đó sai, hậu quả khôn lường, sao họ vẫn dám làm? Theo tôi có ba lý do:
2.1. Họ tin rằng có làm sai cũng không sợ bị trừng phạt. Hoặc có bị trừng phạt cũng chỉ qua loa, không sao hết. Khi tâm lý này được lặp đi lặp lại, và thành bản tính thì người ta càng hành động tùy tiện, trắng trợn.
2.2. Món lợi từ việc làm liều quá lớn, át cả nỗi sợ hãi, giống như những kẻ trong đường dây buôn ma túy.
2.3. Cả hai lý do trên cộng lại. Trường hợp 10 tỉnh này chắc là vậy. Khi không sợ bị trừng phạt mà lại có lợi lớn thì không việc gì họ không dám làm.
3. Nhưng tại sao Bí thư Tỉnh ủy và Chủ tịch UBND tỉnh lại không sợ bị trừng phạt? Đây là câu hỏi chính cần lý giải rõ hơn.
Nhớ lại, nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải có câu nói: “Trên bảo dưới không nghe” , khi ông than phiền về việc các chủ trương, mệnh lệnh của Chính phủ không được các bộ, các ngành và các địa phương thực hiện nghiêm túc. Hệ lụy của tình trạng ”trên bảo dưới không nghe”, trên đe, dưới không hãi đó ngày càng trầm trọng dẫn đến: dưới làm loạn, trên chẳng dám cản!
“Dưới” trực tiếp của Thủ tướng gồm các Bộ trưởng và các Chủ tịch UBND tỉnh (bao gồm cả các thành phố trực thuộc Trung ương).
Các Bộ trưởng dù sao cũng còn thường xuyên họp Chính phủ, còn phải điều trần trước Quốc hội nên có lẽ mức độ “không nghe” có đỡ hơn. Tuy vậy cũng vẫn có hiện tượng các Bộ cấp phép “loạn các dự án sân golf”, “loạn các dự án treo”, “loạn các trường đại học”, rồi “loạn giá đất, giá sữa, giá vàng”, “loạn các cuộc thi hoa hậu”, “loạn các lễ hội, festival”… mà báo chí đã nói nhiều.
Nhưng cái “loạn” ở các tỉnh mới âm thầm và đáng sợ. Khi phát hiện ra “loạn” thì cả một cánh rừng đã bị triệt phá, cả một khu mỏ đã bị khai thác tan hoang, cả một vùng ruộng đất nông nghiệp màu mỡ biến thành các dự án treo, thành sân golf, cả hàng triệu người nông dân mất đất, thất nghiệp và bao nhiêu dòng sông, hồ nước đã bị giết chết! Rồi 10 tỉnh (có thể còn hơn) cho TQ thuê đất như chuyện đã rồi…
Mỗi tỉnh có địa giới, có lãnh thổ như là một “quốc gia riêng”. Nhà nước trung ương có cái gì thì bộ máy tỉnh cũng có cái đó. Cũng có nghị quyết đại hội tỉnh đảng bộ, có hội đồng nhân dân, quân đội, công an, tòa án, đài truyền hình, đài phát thanh, báo chí… Tóm lại, tỉnh có hệ thống chính trị quyền lực, có công cụ chuyên chính để thực thi quyền lực trong phạm vi lãnh thổ của tỉnh để “giữ vững ổn định chính trị – xã hội trên địa bàn” và “đẩy mạnh phát triển kinh tế phù hợp đặc thù của địa phương”… Cấp trên thấy tỉnh “giữ vững ổn định chính trị – xã hội”, GDP tăng trưởng “khá” và luôn tỏ thái độ ủng hộ tích cực… là yên tâm rồi. Đó là những điều kiện để tỉnh tự tung, tự tác. Bí thư tỉnh ủy và Chủ tịch UBND tỉnh có quyền lực như vua ở địa phương.
Nhưng tại sao Bí thư Tỉnh ủy và Chủ tịch UBND tỉnh lại không sợ bị trừng phạt khi làm sai?Có một số lý do:
3.1. Vì dựa vào “tập thể lãnh đạo”, “nghị quyết tập thể”… nên có sai lầm, cá nhân không sợ chịu trách nhiệm. Với những việc mà hậu quả của nó 5-10 năm sau mới lộ ra, khi họ đã hết nhiệm kỳ hoặc chuyển đi (chứ nói gì đến 50 năm sau!), thì càng không sợ.
3.2. Nếu có chịu trừng phạt thì cá nhân cũng chỉ bị “phê bình, kiểm điểm nghiêm khắc”, rồi vẫn được tiếp tục tại vị để “quyết tâm khắc phục hậu quả”, hoặc được điều chuyển đến chỗ mới có khi còn bở béo hơn.
3.3. Hãn hữu có bị trừng phạt nặng hơn nữa thì cũng chỉ đến bị khiển trách, cảnh cáo, cho nghỉ công tác; và của cải, bổng lộc đã có không hề bị suy suyển… Ở nhiều nước, Tổng thống, Thủ tướng, Bộ trưởng, Tỉnh trưởng… tham nhũng bị dư luận lên án, bị lôi ra tòa… Nhiều người xấu hổ phải tự tử. Còn ở ta thì tuyệt đối không! Tuyệt đối an toàn! Văn hóa xấu hổ không có đã đành mà lòng yêu nước tối thiểu trong giáo dục công dân sơ đẳng cũng không có nốt. Họ đã trở thành thứ người gì vậy? Không thể hiểu nữa.
3.4. Cấp trên không thể và không dám trừng phạt họ còn vì nhiều mối quan hệ quyền lực, lợi ích, quan hệ xã hội ràng buộc phức tạp. Rút dây sợ động rừng. Có nhiều thế lực, ô dù đan xen nhau, cài cấy vào nhau… Vì thế nhiều vụ việc cấp trên biết cấp dưới làm bậy mà phải lờ đi, phải đùn đẩy, phải ra sức bênh che, phải cho rơi vào im lặng rồi… “để lâu cứt trâu hóa bùn”! Cứ thế cấp dưới ngày càng có nhiều kinh nghiệm để tạo ra sự an toàn, để không cần sợ cấp trên…
Chả thế mà Thủ tướng đã tự hào tuyên bố “tôi chưa kỷ luật một đồng chí nào!”.
Thế còn pháp luật?
Không sợ! Các cơ quan pháp luật địa phương đều là công cụ chuyên chính dưới sự lãnh đạo toàn diện và triệt để của Tỉnh ủy. Các cơ quan pháp luật cấp trên cũng dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng… Vả lại cấp bộ, ngành trung ương không thể đụng đến các Bí thư tỉnh/thành! Đầu gà còn hơn đuôi trâu! Huỳnh Ngọc Sĩ mà không có người Nhật khui ra và không có sức ép của Chính phủ Nhật dọa cắt ODA cho VN thì các cơ quan pháp luật VN có dám đụng đến? Mà có đụng đến cũng đã phải bàn bạc mãi, rất “quyết tâm”, “quyết liệt” mới tìm ra được cái tội: “lợi dụng chức vụ”, cho thuê nhà giá cao nhưng khai ít, để chiếm đoạt mấy trăm triệu đồng chia nhau! Nhìn xem, ông Sĩ mới chỉ là cán bộ “tép riu” so với Bí thư Thành ủy hay Chủ tịch tỉnh! Bí thư Tỉnh ủy Hà Giang còn gọi điện “khiển trách” vị đại biểu Quốc hội dám nói đụng đến tỉnh của ông!
Họ không sợ dân sao?
Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. “Chính quyền của dân, do dân, vì dân”. “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Tất cả những điều tốt đẹp, thiêng liêng ấy đều bị họ biến thành những khẩu hiệu suông. Dân có thể và dám làm gì họ ư? Toàn bộ hệ thống chính trị địa phương truyền đạt chủ trương, chỉ thị, nghị quyết của Tỉnh ủy, Ủy ban để mọi cán bộ và người dân “quán triệt”. Còn những điều có tính nội bộ thì cấm các báo, đài đưa tin “tùy tiện”, cấm cán bộ phát ngôn “bừa bãi”! Người nào làm trái chủ trương là gây tâm lý “hoang mang” trong dân, đe dọa “sự ổn định chính trị – xã hội” của địa phương, các cơ quan chức năng bằng mọi biện pháp nghiệp vụ phải điều tra, phát hiện kịp thời, giải quyết nhanh gọn, triệt để, thực hiện đúng “quyết tâm của trên”. Đến con cụ Cù Huy Cận, TS luật Cù Huy Hà Vũ, sống ở giữa Thủ đô, giáp Quảng trường Ba Đình, cạnh các cơ quan TƯ Đảng, Chính phủ, cạnh sứ quán nhiều nước, mà Chủ tịch phường còn đến quát nạt “Mày có muốn làm luật sư nữa không?” và cho dân phòng đến đập phá tường rào… Thử hỏi người dân ở làng quê hẻo lánh có dám “biết”, dám “bàn”, dám “kiểm tra”, dám “làm chủ” sai ý chính quyền được không!?
Điều nguy hiểm là những người trực tiếp đập phá ấy không cần biết đúng sai, phải trái, chỉ biết triệt để chấp hành chỉ thị của “trên”! Và cấp trên khôn lắm, những vụ việc “nhạy cảm” thường chỉ thị miệng, để không có bằng chứng, nếu bí quá thì bắt cấp dưới chịu tội thay. Dân bức xúc đi kiện thì đơn kiện gửi lên trên lại được chuyển về cấp cơ sở giải quyết! Nhiều trường hợp “bên nguyên cáo” thành “bên bị cáo”! Dân đi kiện vượt cấp ít người biết đường đi, nước bước, và thường không đủ điều kiện tiền của, thời gian… theo đuổi. Mà giỏi lắm có theo đuổi thắng được kiện thì người dân thắng kiện được đền bù chút ít từ công quỹ – cũng là tiền dân, còn cán bộ chẳng sao cả!
Họ có sợ dư luận, báo chí không?
Có chút e ngại. Vì hầu hết các vụ việc tham nhũng, tiêu cực đều do báo chí phanh phui. Việc chống tham nhũng từ các tổ chức Đảng, đoàn thể cơ sở và cơ quan cấp trên đều rất ít hiệu quả. Nhưng báo chí phải đi theo đúng lề bên phải mà cơ quan quản lý đã vạch sẵn ranh giới, nhất là các báo, đài của tỉnh! Vả lại báo chí chỉ phát hiện, còn điều tra, xét xử lại thuộc về các cơ quan pháp luật, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Do đó có xử tội được Bí thư, Chủ tịch tỉnh nào đâu. Họ sợ báo chí nhưng không sợ luật pháp! Vả lại những báo “ngoài luồng” được họ coi như luận điệu của “bọn phản động”, âm mưu “bôi nhọ cán bộ”, “gây mất lòng tin của dân vào lãnh đạo”… và… cấm loan truyền những thông tin ngoài luồng!
Tóm lại, hệ thống tổ chức chính trị và cơ chế hoạt động của nó tạo cho lãnh đạo ở tỉnh không chỉ có những chiếc phao an toàn mà còn có những vũ khí nguy hiểm để trừng trị đối thủ, bảo vệ cá nhân, duy trì quyền lực của họ. Vì thế họ rất lộng quyền, hống hách, phớt lờ cấp trên, coi thường pháp luật, khinh dân, coi thường công luận…
Tôi muốn trở lại vụ án Nông trường Sông Hậu (NTSH) để thấy oai quyền của tỉnh ghê gớm thế nào.Ngày 20/3/2008 Văn phòng Tỉnh ủy Cần Thơ có công văn số 91-TB/VPTU do Phó Chánh VP Đinh Công Út ký, thể hiện ý kiến đồng chí Bí thư Thành ủy và đồng chí Phó Bí thư thường trực…, chuyển sang cơ quan cảnh sát điều tra những nội dung vi phạm… đã rõ… về tội… (xem Google, Vụ án bà Ba Sương, có hơn 2 triệu kết quả).
Khi nghe tin Tỉnh ủy Cần Thơ chỉ đạo xử lý vụ NTSH, cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã gửi thư khuyên can, nhắc nhở; cựu Bí thư Tỉnh ủy Cần Thơ cũng có thư góp ý; dư luận xã hội xôn xao không đồng thuận…
Nhưng ngày 14/4/2008 UBND Tỉnh ra quyết định cho bà Ba Sương, Giám đốc NTSH nghỉ hưu; ngày 15/4/2008 khởi tố vụ án; ngày 15/8/2009 đưa ra xét xử sơ thẩm. Tại phiên tòa, các Luật sư đều chứng minh bà Sương vô tội và trình tự điều tra, tố tụng có nhiều sai phạm. Nhưng tòa án cứ tuyên 8 năm tù cho bà Sương…
Trong phiên tòa, hàng trăm người dân đã khóc thương cô Ba Sương. Dư luận rất bất bình, khi so sánh vụ án bà Sương với vụ án ông Sĩ. Hàng trăm tờ báo “trong luồng” lên tiếng, hàng nghìn bài báo và ý kiến bạn đọc phân tích ở mọi khía cạnh, cho đây là vụ án thất nhân tâm. Dư luận xã hội sâu, rộng và gay gắt: “Họ nã đạn vào quá khứ”, “Đòn chí mạng đánh vào chế độ”, “Đạp đổ biểu tượng người anh hùng thời kỳ đổi mới”, “Cú đánh kết liễu nền kinh tế tập thể…”, “Tình người có còn không?”, “Nước mắt cha con người anh hùng”, “Nước mắt của người dân trong phiên tòa”… Không biết bao nhiêu người đã rơi nước mắt khi đọc những bài báo ấy. Không chỉ trên báo, hơn 500 hộ dân ở NTSH đã ký đơn xin cho bà Ba Sương vô tội, vì “quỹ đen” có từ 30 năm nay, thời cha bà làm Giám đốc, quỹ đó chỉ lo cho đời sống nhân viên, bà không lập quỹ để tham ô, vụ lợi… Và 110 người dân ký đơn xin đi tù thay cho “cô Ba”… Bà Sương kiên quyết kháng án và tuyên bố sẽ tự tử, vì bà và các Luật sư đều chứng minh bà không phạm tội. Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có đơn kêu oan cho bà Sương, gửi đến các cơ quan và cá nhân có trách nhiệm ở trung ương và địa phương… Nhưng phớt lờ tất cả, ngày 19/11/2009 Tòa phúc thẩm Cần Thơ vẫn y án 8 năm tù cho bà Sương!
Phản ảnh của dư luận xã là báo chí, cử tri yêu cầu Chủ tịch nước, Thủ tướng, Phó Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, Viện trưởng Viện KSND tối cao, Bộ trưởng Công an và hàng chục đại biểu Quốc hội lên tiếng. Tất cả đều nói sẽ quan tâm xem xét vụ án. Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, Trưởng ban Dân vận Trung ương Hà Thị Khiết tỏ rõ thái độ thương cảm, bênh vực người nữ anh hùng; hàng trăm tờ báo lại đăng hàng loạt bài của các nhà báo tên tuổi, hàng ngàn ý kiến bạn đọc gửi đến các cơ quan truyền thông với phản ứng quyết liệt hơn…
Lúc đó Bí thư Thành ủy Cần Thơ đang họp Quốc hội tại Hà Nội đã được các nhà báo vây lấy để chụp hình, phỏng vấn. Với bộ mặt tươi, thái độ bình thản, ông bảo các cơ quan pháp luật đang làm, ông chưa có ý kiến gì! Ngay sau đó về Cần Thơ, ông họp các cơ quan chịu trách nhiệm về vụ án, tuyên bố trước các nhà báo: vụ án NTSH còn lọt tội, sẽ tiếp tục điều tra, truy tố thêm nhiều tội nữa!…
Qua vụ án NTSH đủ thấy oai quyền của lãnh đạo tỉnh ghê như thế nào!
Vì sao họ dám coi thường tất cả và tự tin đến như vậy? Vì họ đã quen không sợ gì cả, và việc lấy mấy ngàn ha đất của NTSH cho các dự án quá hấp dẫn họ, như một số bài báo đã phân tích.
Đó là những vụ án điều tra xét xử “từ trên chỉ đạo xuống”, được làm rất khẩn trương, rốt ráo, đúng thời hạn là hoàn thành “nhiệm vụ trên giao”. Còn những vụ án “không may cấp trên bị lộ”, cấp dưới điều tra “ngược lên” thì phức tạp, dây dưa, khó khăn, bế tắc và cứ… để lâu…! (Chúng ta hãy đợi xem vụ án quan đầu tỉnh Hà Giang bị tố mua dâm các cháu học sinh, được điều tra, xét xử thế nào).
Cũng phải nói thêm rằng, những người tử tế làm việc dưới trướng các lãnh đạo tỉnh độc đoán, lộng quyền rất khổ. Còn nhớ, năm 2000, tôi được cử đi điều tra việc các Sở Giáo dục thực hiện chỉ thị của Bộ trưởng về quản lý chặt chẽ, nghiêm túc vấn đề miễn thi đại học cho những học sinh giỏi trong 3 năm học trung học phổ thông. Có 3 Giám đốc sở Giáo dục nghiêm chỉnh chấp hành chỉ thị đã bị “tai nạn” giống nhau.
Giám đốc 1, bị Phó Chủ tịch tỉnh gọi điện quát: “Con tôi thiếu có 1 điểm mà anh không giải quyết được à? Điểm ở trong tay các anh chứ ở đâu? Các anh có muốn đòi tỉnh đầu tư cho GD nữa không?”… Giám đốc 2, sau khi báo cáo tình hình giáo dục trước HĐND Tỉnh, bị Bí thư tỉnh mắng: ”Năm ngoái có hơn 200 cháu được tuyển thẳng vào đại học, năm nay còn 170 cháu. Thế là thành tích tụt lùi. Nghiêm chỉnh thực hiện cái gì? Ngu thì có!… Giám đốc 3, bị Chủ tịch tỉnh mắng: ”Nhìn sang tỉnh bên xem, năm ngoái nó được 185 học sinh vào thẳng đại học; năm nay nó 220. Còn tỉnh mình, năm ngoái 240, năm nay 180. Nó lãnh đạo khôn khéo, con em được nhờ. Mình đầu óc máy móc, thiển cận, lại thiếu tình thương con em nhân dân, nên gây thiệt thòi cho các cháu, cho phong trào. Như thế còn lãnh đạo cái gì!. Giám đốc này uất ức phát khóc và xin từ chức… Cả ba Giám đốc sở này đều kiến nghị Bộ bỏ việc tuyển thẳng này đi, nó chỉ tạo thêm sự gian dối… Tôi cũng gặp một học sinh cũ, nay là Hiệu trưởng một trường THPT, anh than phiền về một nữ giáo viên vô kỷ luật, làm ảnh hưởng đến xây dựng kỷ cương nhà trường. Tôi thắc mắc, giáo viên quá thể như vậy, sao không đuổi ra khỏi trường? Anh thở dài, thầy ơi, nó sẽ đuổi em trước khi em đuổi nó. Nó là con gái Chủ tịch tỉnh!
4. Vì sao họ lại trở thành con người như vậy?
Họ là con em nhân dân mà ra, được học hành, giáo dục rèn luyện, thử thách từ thực tế nghèo khó đi lên… Vậy sao họ lại trở thành như vậy? Mong mọi người lý giải giùm tôi!
Mạc Văn Trang
Moscow, đêm 4/3/2010
Nguồn gốc: Bauxite Việt Nam, ngày 15/03/2010
Bấm chữ "Older Posts" trên đây để xem tiếp .... Dưới Là Bài Cũ Theo Từng Tháng.
-
►
2006
(249)
- Jun 2006 (13)
- Jul 2006 (51)
- Aug 2006 (36)
- Sep 2006 (32)
- Oct 2006 (33)
- Nov 2006 (37)
- Dec 2006 (47)
-
►
2007
(2315)
- Jan 2007 (66)
- Feb 2007 (62)
- Mar 2007 (54)
- Apr 2007 (95)
- May 2007 (123)
- Jun 2007 (192)
- Jul 2007 (249)
- Aug 2007 (204)
- Sep 2007 (255)
- Oct 2007 (329)
- Nov 2007 (361)
- Dec 2007 (325)
-
►
2008
(3206)
- Jan 2008 (228)
- Feb 2008 (204)
- Mar 2008 (273)
- Apr 2008 (328)
- May 2008 (304)
- Jun 2008 (312)
- Jul 2008 (258)
- Aug 2008 (310)
- Sep 2008 (290)
- Oct 2008 (256)
- Nov 2008 (218)
- Dec 2008 (225)
-
►
2009
(1551)
- Jan 2009 (152)
- Feb 2009 (126)
- Mar 2009 (139)
- Apr 2009 (148)
- May 2009 (183)
- Jun 2009 (164)
- Jul 2009 (145)
- Aug 2009 (100)
- Sep 2009 (102)
- Oct 2009 (117)
- Nov 2009 (94)
- Dec 2009 (81)
-
▼
2010
(1605)
- Jan 2010 (111)
- Feb 2010 (115)
- Mar 2010 (122)
- Apr 2010 (132)
- May 2010 (146)
- Jun 2010 (129)
- Jul 2010 (191)
- Aug 2010 (147)
- Sep 2010 (125)
- Oct 2010 (133)
- Nov 2010 (131)
- Dec 2010 (123)




