*** VIỆT CỘNG ĐANG ĐẨY MẠNH KẾ HOẠCH THÀNH LẬP HỆ THỐNG "CÁC HỘI DOANH GIA VIỆT KIỀU" ĐỂ BIẾN THÀNH CÁC TỔ KINH TÀI VÀ TÌNH BÁO Ở HẢI NGOẠI. ***VIỆT CỘNG HÃY TỰ TRẢ LỜI:"AI-VĂN KIỆN NÀO ĐÃ GIAO CHO ĐẢNG CỘNG ĐỘC QUYỀN CAI TRỊ ĐẤT NƯỚC MUÔN NĂM ???" *** Rồi đây, Cờ máu Việt Cộng cũng sẽ biến mất như Cờ búa liềm Liên Sô. Đó là sự thực sau nầy ! *** HỒ CHÍ MINH là một tên LƯU MANH NHỨT THẾ GIỚI - Vì dám lấy TÊN GIẢ để làm QUỐC TRƯỞNG VIỆT CỘNG từ 1945 - Thế Giới chưa ai DÁM GẠT cả một dân tộc như vậy !!! ***Quảng Ba đã công khai gia nhập Phật Giáo Quốc Doanh Việt Cộng Hải Ngoại cùng với Như Huệ, Tâm Phương ... Quảng Ba tự xưng khơi khơi chức vụ Hoằng Pháp Úc-Tân Tây Lan không kèn không trống ... *** VỢ CHỒNG HENRY DANG (Đặng Văn Hiền, Gốc QGHC và đương kiêm Chủ Tịch Hội Đồng Hương An Giang) đã xác nhận CÙNG về Hà Nội dự VESAK là chuyện có thật 100% - Từ nay CẶP VỢ CHỒNG nầy sẽ không thể nào TRÀ TRỘN vào các sinh hoạt Cộng Đồng Tự Do như trước ... *** Linh Mục Bùi Đức Tiến, Bs. Trần Thanh Nhơn, Bs. Nguyễn Ngọc Hương mong Việt Cộng sống lâu để họ được trở thành THÁNH TỬ vì mượn từ thiện để đánh bóng tên tuổi cá nhân ...

Friday, April 30, 2010

BẢY NGÀY LÊNH ĐÊNH :
QUI NHƠN - HỒNG KÔNG.

Trong cuộc đời, tôi cũng đã từng phải có những quyết định gay go sống chết, phải có những câu trả lời như một ngã rẽ cho cả một tương lai. Nhưng chưa bao giờ tôi đã phải có một quyết định, một câu trả lời khó khăn đứt ruột như trong buổi vợ con vào thăm nuôi tôi tại trại giam Bầu Cỏ Tây Ninh đầu năm 1979.
Nàng đã mang 3 đứa con từ Miền Trung vào thăm nuôi tôi tất cả 4 lần. Lần nào cũng phải đầy đủ cả ba đứa con, tôi đã có lần thú thật với nàng rằng, trong cảnh tù tội, tôi thường nhớ con nhiều hơn nhớ vợ. Trong lần thứ tư này, nàng đã đột ngột hỏi tôi:
– Em định dẫn các con đi vượt biên, anh nghĩ sao?
Tôi liên tưởng ngay tới bức tường Bá Linh, đến vĩ tuyến thứ 38 ở Đại Hàn, đến sông Bến Hải. Chỉ cách nhau bởi một dòng sông, một vĩ tuyến và một bức tường nhỏ bé gần gũi, mà biết bao gia đình đã bị phân ly chia cắt cả ba bốn chục năm trời, nhiều gia đình chưa biết đến bao giờ mới được gặp lại nhau. Chúng tôi sẽ ngàn trùng xa cách bằng cả một Thái Bình Dương mênh mông bao la, thì chắc chắn suốt đời sẽ không bao giờ còn thấy được mặt nhau nữa. Mối căm thù tận xương tận tủy giữa Việt Nam và Hoa Kỳ làm sao mà nguôi ngoai được. Ý chí sắt đá của những con người Cộng Sản gan lì cuồng tín này làm sao mà lay chuyển nổi. Thoát ra khỏi cảnh tù tội này cũng còn là một giấc mơ hão huyền, nói chi tới chuyện qua Mỹ gặp lại vợ con.
Chia ly nghĩa là vĩnh biệt.


Tôi đắm đuối nhìn ngắm ba đứa con, nhất là hai con bé gái, cặp mắt của các cháu tròn xoe, lung linh như những vì sao, trong xanh như một bầu trời chan hòa yêu thương giữa một mùa xuân, và miệng các cháu cười, răng các cháu trắng, sao mà đều và óng ánh như là một chuỗi ngọc trai. Ba vị thiên thần ngây thơ tươi sáng này được tạo dựng nên bằng những yêu đương quấn quít của vợ chồng tôi.
Nhưng tương lai các cháu thì đen như một vũng bùn, thì xám ngắt như là nước trong ống cống hầm lù.
Chỉ sau một giây lưỡng lự, tôi đã cương quyết trả lời:
– Đi, vì tương lai các con, em phải đi. Nếu Chúa thương, anh sẽ gặp lại vợ con, nếu không, anh chấp nhận.
Tôi đã vận dụng mọi sức lực, tập trung mọi khả năng vào đôi mắt, cố gắng in đậm, cố gắng ghi khắc những bóng hình thân yêu này vào tim vào óc. Vì tôi tưởng rằng suốt đời sẽ không còn bao giờ được nhìn lại nữa. Từ nay sẽ mãi mãi không còn thấy mặt nhau nữa.
Sau buổi chia tay đứt ruột đó, tự nhiên tôi nhớ lại y nguyên toàn văn bài thơ “Đẹp” của thi sĩ Nguyên Sa, rồi nghêu ngao suốt ngày, bài thơ mà ngày trước tôi đã giả bộ nhờ người ta chép hộ lên một tờ giấy quí, để rồi mai mối cho một chuyện tình, đẹp cho tới tận ... cổ lai hy hôm nay.
Người, dáng bước bơ vơ của bầu trời hải đảo
Tóc bồng bềnh trên nếp trán ưu tư
Những ngón tay dài ướp trọn mấy ngàn thu
Mà men trắng trong xanh mầu trăng vời vợi

Hơi thở mới nguyên của đồng tiền mừng tuổi
Tôi nhìn người ngóng đợi mắt lên ba
Người về đây có phải tự trời xa
Với ánh mắt vòng cung của cầu vồng che mưa nắng

Có phải tên người là âm thanh vô vọng
Nên mặt buồn le lói thoáng bơ vơ
Hay một đêm nao nước lụt Ngân hà
Thượng đế đưa sao mang gửi về khóe mắt

Người về đâu giữa đàn khuya dìu dặt
Hơi thở thiên thần trong tóc ẩm hương xưa
Người đi về trời nắng hay mưa
Sao để trăng gió trầm tư thêu thùa má ướt...
Gần 50 năm rồi, nên khó lòng mà còn nhớ đúng nguyên văn, muốn kiểm chứng nhưng chẳng có tiệm sách nào bán thơ Nguyên Sa nữa cả. Bài thơ tuyệt vời như vậy nhưng chưa được ai phổ thành nhạc. Phải chăng vì khi được đọc lên thành tiếng, tự nó đã là một bản nhạc hay rồi. Nếu thích, quí vị thử đọc lại lớn tiếng một lần nữa xem sao.
Sau khi được cho ra trại, trong khi chờ đợi để được đoàn tụ gia đình, do vợ bảo lãnh, tôi đã tận dụng thời gian rảnh rỗi để ghi tên học tiếng Anh tại Đại học Tổng hợp thành phố. Một hôm, học về đề tài “Masterpieces” (Các tuyệt tác phẩm). Sau khi đề cập tới Picasso, Michelangelo, Leonardo da Vinci... Giáo sư Bách bất ngờ hỏi tôi:
– Mr. Châu, what is your Masterpiece?
– My 3 children.
Tôi đã buột miệng trả lời, không cần một tích tắc chần chừ suy nghĩ, vì ba cái bóng hình thân yêu này — ý quên — bốn cái chứ, không có cái thứ tư này thì làm gì có ba cái Masterpieces kia. Bốn cái bóng dáng thân yêu này luôn luôn lấp ló trong đầu tôi, đụng nhẹ tới là chúng vọt ra ngay. Vợ chồng tôi chỉ có bấy nhiêu để đóng góp với cuộc đời, để lưu lại cho hậu thế, do đó chúng tôi đã đầu tư tất cả vào đây và cũng đã thường xuyên nhắc nhở 3 cái Masterpieces này như vậy.
Sau buổi chia tay đứt ruột tại trai giam Bầu Cỏ, Tây Ninh đó, về lại Qui Nhơn, vợ con tôi chuẩn bị ra đi cùng với gia đình bên ngoại các cháu.
Đây là một chuyến vượt biên theo diện “Bán chính thức” dành cho các gia đình Việt gốc Hoa. Đi theo kiểu này sẽ an toàn hơn lối đi chui gấp bội vì mọi thứ đều được phép tổ chức công khai, từ mua sắm ghe tầu, lương thực, nước uống, xăng dầu.... Đích tới của gia đình lại là Hồng Kông nên còn có nhiều may mắn hơn các chuyến vượt biên qua vịnh Thái Lan rất nhiều. Trước ngày khởi hành, cô bé đã mời Bà Nội các cháu ra chơi ít ngày, chắc là để bắn tin cho bà con làng nước biết là chuyến đi đã được sự chấp thuận của cả bên họ nhà chồng nữa.
Tuy vậy, chuyến đi cũng không phải êm xuôi dễ dàng, mà cũng là thập tử nhất sinh, cũng đầy gian nan nguy hiểm. Trước đó mấy tháng, một chiếc ghe chở hơn 200 người đi Hồng Kông từ Qui Nhơn đã hoàn toàn mất tích, không có một người sống sót. Trong chuyến đi sắp tới, mỗi người phải góp cho chủ tầu 5 cây vàng, chủ tầu ăn chia với công an để được công khai chuẩn bị cho chuyến đi. Ông ta mua một chiếc tầu đánh cá cũ, bề ngang khoảng 4 mét, bề dài khoảng 15 mét, nghĩa là rộng cỡ gấp đôi một căn phòng ngủ bình thường, con thuyền được làm thành 3 tầng, chở theo 252 người nên rất chật chội, chỉ có trẻ con là được nằm, còn người lớn thì phải ngồi suốt 7 ngày 7 đêm, không cựa quậy nhúc nhích được. Ngoài số 252 hành khách dự liệu từ trước, vào phút chót, bọn công an còn buộc chủ tầu phải chở thêm nhiều người khác, họ là những người đã nộp vàng riêng cho công an. Sóng biển tạt vào làm cho mọi người luôn luôn sũng nước, tất cả đều say sóng, vật vờ như những xác chết. Người ta nôn mửa ra đầy sàn tầu và quần áo, tạo nên một mùi tanh tưởi hôi thối rất khó chịu. Bà ngoại các cháu mang theo rất nhiều đồ ăn, nhưng chẳng ai nuốt được một miếng.

Nhưng chuyện đáng sợ nhất là ông thuyền trưởng, hắn ta đã khoe với chủ tầu rằng hắn là một cựu sĩ quan Hải quân để cùng với vợ con được cho đi miễn phí. Tầu vừa dời bến được vài tiếng đồng hồ, khi ra tới biển cả mênh mộng, trên thì trời dưới thì nước, anh ta tự thú là không biết lái tầu nên chẳng biết phương hướng nào mà đi. May mắn thay, trong số hành khách có một sĩ quan Hải quân thứ thiệt, ông đã tự nguyện đứng ra điều khiển con tầu. Nhưng ông lại gặp một trở ngại to lớn khác, đó là chủ tầu không mang theo địa bàn, vị sĩ quan này đành phải dựa vào mặt trời và trăng sao, nhắm hướng Hồng Kông mà đi tới.
Vì con tầu quá cũ và lại chở theo quá nhiều người, nên đi chưa được một ngày thì vỏ tầu đã bị nứt, nước biển bắt đầu tràn vào, rất may, chủ tầu có mang theo một chiếc bơm phòng hờ nên nước biển đã được bơm ra mau lẹ.
Nhưng sang ngày thứ hai, chiếc bơm nước đột nhiên ngưng chạy, người ta phải tát nước ra bằng tay, nhưng nước vẫn tràn vào mỗi lúc một cao hơn, tất cả thanh niên trai tráng đều được huy động để tát nước ra bằng mọi phương tiện sẵn có. Nhưng sức người không đủ, nước vẫn tràn vào càng lúc càng cao, mạn tầu đã mấp mé mặt biển, chỉ còn cách vài gang tay. Sau khi hội ý, một mệnh lệnh đã được nhất trí, mỗi người chỉ đươc giữ lại một bộ đồ duy nhất đang mặc trong người, còn tất cả các thứ khác đều phải quăng hết xuống biển. Quần áo, giầy dép, mũ nón... và mọi vật dụng khác đều phải liệng đi để cứu mạng người. Bà xã vội vã lấy quần áo sạch thay cho các con, mỗi đứa hai bộ, rồi quăng quần áo cũ và mọi thứ xuống biển như người ta. Nhưng đến gói kỷ vật - một số thư từ, hình ảnh ngày xưa - thì cô nàng khựng lại, dù có sống sót thì chắc cũng sẽ chẳng bao giờ gặp lại nhau nữa, chỉ còn một chút dư hương này, còn quí hơn vàng nữa, đâu có thấy ai quăng vàng xuống biển đâu, nên cô bé giữ lại, cho ba đứa con ngồi lên trên nên chủ tầu không biết. Mặc dầu đã liệng mọi thứ không phải là tối cấn thiết đi, nhưng nước vẫn tiếp tục dâng cao, mạn tầu vẫn còn mấp mé mặt nước biển... người ta lại phải quyết định đổ hết số gạo dự trữ xuống biển, chỉ giữ lại lương khô mà thôi. Nhưng nước biển vẫn mỗi lúc mỗi dâng cao hơn, người ta lại phải có một quyết định vô cùng táo bạo và liều lĩnh, đó là đổ bớt một nửa số nước ngọt mang theo, từ giờ trở đi, khi nào khát lắm, mỗi người chỉ được nhấp giọng bằng số lượng nước trong cái nắp chai mà thôi.

Rất may là sang ngày thứ 4, người ta đã sửa được chiếc bơm nước, nó chỉ bị nghẹt vì các đồ dơ nôn mửa ra, mạng sống của mọi người bớt mong manh hơn. Tuy nhiên cũng vẫn chỉ thấy biển cả và mây nước mênh mông, con thuyền như một chiếc lá khô bập bềnh giữa trời mây bao la bát ngát. Nhiều bà nhiều cô quá tuyệt vọng đã kêu khóc thảm thiết, có bà còn lớn tiếng oán trách chồng con là đã dẫn họ vào chỗ chết, đã đem vợ con bỏ xác ngoài biển khơi...
Sang ngày thứ 5, cũng vẫn là trời nước mênh mông bao la. Tuy nhiên mặt biển đã bắt đầu dậy sóng, các đợt sóng mỗi lúc một cao hơn. Bầu trời đã phủ đầy các lớp mây đen kịt, những đám mây nặng trĩu sũng nước, như ở ngay sát trên đầu, như sắp sửa đổ ụp xuống con thuyền bé nhỏ mong manh. Những đợt sóng bạc đầu mỗi lúc một cao, cũng như sắp sửa nhận chìm con thuyền ọp ẹp xuống đáy đại dương...
Chắc chắn một cơn bão lớn sắp sửa ập tới.
Bỗng nhiên, có người la lên, họ vừa trông thấy hai cái chấm đen bé tí tại phía chân trời xa xa. Hai chấm đen lớn dần, lớn dần và khi chúng tới gần hơn, mọi người reo lên: hai tầu đánh cá Hồng Kông! Một trong hai chiếc tầu chạy một vòng quanh chiếc ghe tị nạn rồi một thanh niên trên tầu hét rất lớn tiếng bằng tiếng Quảng đông, cho biết là con thuyền tỵ nạn đang đi sai hướng rồi, phải quay đầu lại, đi về hướng Tây mới vào được Hồng Kông, đi theo hướng Đông thế này sẽ mất hút trong đại dương vì hướng này sẽ không hề có một hòn đảo lớn nhỏ nào.
Anh ta cũng cho biết, đúng là một trận bão lớn đang ập tới, phải thoát ra khỏi đường xoáy của cơn bão ngay lập tức. Anh ta ra hiệu cho con tầu tị nạn chạy theo tầu của anh. Nhưng con tầu tị nạn thì ì à ì ạch chạy chậm rì rì, loáng một cái đã thấy chiếc tầu kia biến mất ở phía chân trời. Biển thì mỗi lúc một dậy sóng cao hơn. May sao anh ta quay lại, quăng dây sang, nhưng cả tầu luống cuống chẳng ai biết cột đúng cách, chạy được một quãng ngắn là dây lại tuột ra, biển thì càng lúc càng sóng gió dữ tợn hơn. Con tầu đánh cá phải quay vòng lại, rồi người thanh niên tốt bụng đó phải nhảy lên, cột dây dùm và kéo con tầu tị nạn thoát khỏi cơn bão. Sau này mọi người được biết tên anh là Hòa Cố. Anh kéo con thuyền tị nạn gần 10 tiếng đồng hồ thì ở chân trời mới thấy thấp thoáng ánh đèn của thành phố Hồng Kông.
Hòa Cố cho biết bây giờ anh phải đi ngay, nếu không anh sẽ bị khó dễ với cảnh sát Hồng Kông. Rất nhiều người trên tầu tị nạn gom góp vàng bạc để tạ ơn anh, nhưng anh nhất định từ chối. Anh chỉ tay về phía cuối con tầu, nơi mà một bà cụ già đang ngồi tụng kinh trước một bàn thờ Phật. Đó là mẹ anh, bà cụ đã ngoài 80 tuổi, đêm hôm qua bà cụ nằm mơ thấy Phật Bà hiện ra, báo cho bà cụ biết là hôm nay phải tới đây để cứu một thuyền tị nạn.

Trước khi Hòa Cố rời tầu, bà xã đã lanh trí đưa cho Hòa Cố 20 dollars, nhờ gửi hai điện tín về Qui Nhơn và Sài Gòn. Một tháng sau, chú em lên thăm nuôi, nói nhỏ vào tai tôi là vợ con tôi đã tới bến bờ Tự Do bình yên an toàn rồi.
Như vậy, sau 7 ngày đêm lênh đêng trên biển cả bao la, ngày 31 tháng 5 năm 1979, con thuyền tỵ nạn đã an toàn cập bến Hồng Kông. ( Chiếc thuyền mang số 599). Tuy nhiên Cảnh sát đã bắt đậu ở ngoài xa thêm 7 ngày nưã để điều tra xem nơi xuất phát của con thuyền có phải thực sự là từ Việt Nam hay là từ lục địa Trung Hoa. Sau đó mọi người được cho lên bờ ở tại Kho Đen cùng với hàng ngàn người tỵ nạn khác. Rồi lại được chuyển sang Trại Cấm, nơi mà trong suốt 2 tháng trời, mọi người bị cấm ngặt không được giao tiếp với người bên ngoài. Sau đó mọi người mới được tự do đi làm bên ngoài, ban đầu bà xã làm tại một hãng làm búp bê, sau chuyển sang làm assembler cho một hãng máy vi tính.
Sau khi 4 mẹ con tới được Hồng Kông, khoảng 5 tháng sau thì tôi được phóng thích. Nhưng nỗi vui mừng to lớn của cái ngày trọng đại này, cái ngày mà tôi đã luôn luôn mong chờ từng giây từng phút trong suốt gần 5 năm trời, niềm vui to lớn đó chỉ kéo dài được trên khoảng đường từ Tây Ninh đến Sài Gòn. Tại bến xe Sài Gòn, khi cho bác xích lô địa chỉ nhà chú em ở Bình Thạnh, tôi mới chợt ngẩn người ra. Một nỗi buồn phiền u ám bỗng nhiên ập xuống hồn tôi. Đây không phải là nhà tôi. Tôi mới chỉ được phóng thích chứ chưa được về nhà. Vợ con tôi đang ở một phương trời xa xôi nào rồi, ngàn trùng xa cách rồi. Tôi mới chỉ thoát khỏi một nhà tù nhỏ, còn một nhà tù lớn âm u dầy đặc vẫn đang bao phủ cuộc đời của tôi.


Sau hơn một năm cư ngụ tại Hồng Kông, gia đình được Phủ Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR) phỏng vấn. Vì tôi là cựu sỹ quan Quân Lực VNCH nên cả nhà được nhận sang Mỹ. Sau 15 tháng cư ngụ tại Hồng Kông, ngày 15-8-1980 ba mẹ con đáp máy bay tới phi trường LAX.
Ít ngày sau, bà xã làm hồ sơ bảo lãnh và ngày 12-3-1984, gia đình chúng tôi đòan tụ sau 9 năm trời xa cách.
(Trong lúc tôi sửa soạn bước lên máy bay tại Saigòn, thì tại thành phố Los Angeles, một Cơ quan Bác Ái tôn giáo mời vợ tôi lên để ký mảnh giấy cuối cùng hoàn tất thủ tục bảo lãnh. Nhân viên hôm đó là một tài tử xi nê nổi tiếng. Vì bà xã tôi không biết ông là ai, nên ông đã dành trọn thời gian của buổi gặp mặt để nói về sự nghiệp và thành tích đóng phim của ông lúc trước tại Việt Nam . Trước khi dứt lời, ông đã cố vấn pháp lý cho bà xã tôi là nếu bây giờ có muốn đổi ý, không bảo lãnh cho tôi nữa thì vẫn còn kịp. Phu nhân của ông là một danh ca có tài có sắc, nhưng ông lại chê. Ái nữ của ông cũng là một danh ca vì hát bài nào cũng hay, chỉ riêng có bài “cá cắn câu biết đâu mà gỡ” thì nghe hơi ngường ngượng vì hát vậy mà không phải vậy).


Chú thích của tấm hình trong attachment:
Tôi đã vận dụng mọi sức lực, tập trung mọi khả năng vào đôi mắt, cố gắng in đậm, cố gắng ghi khắc những bóng hình thân yêu này vào tim vào óc. Vì tôi tưởng rằng suốt đời sẽ không còn bao giờ được nhìn lại nữa. Từ nay sẽ mãi mãi không còn thấy mặt nhau nữa.

(Xin xem phần Anh ngữ tiếp theo)


THE BOAT PEOPLE FROM QUI NHON TO HONG KONG .

Trong cái riêng thường cũng có cái chung, tập thể là do nhiều cá nhân họp lại, lịch sử là do nhiều tiểu sử tạo nên. Vì suy nghĩ như vậy, và cũng vì thấy rằng, tuy chỉ là chuyện trong Gia phả của một gia đình, nhưng vì nó cũng chứa đựng khá nhiều những sự kiện lịch sử, nhất là nó cũng là một trong những kinh nghiệm đau thương mà rất nhiều người Miền Nam chúng ta đã phải trải qua, nên rất có thể nó sẽ có ích cho việc chung. Nhất là khi đã được dịch ra tiếng Anh, thì hy vọng sẽ giúp cho các bạn trẻ không được thông thạo Việt ngữ, dễ dàng hiểu biết thêm về những đau đớn cực khổ của thế hệ cha anh ngày trước.


Vì trình độ Anh ngữ hạn hẹp nên chắc chắn sẽ có phảng phất đôi chút mùi vị hoa đồng cỏ nội của “Hương rừng Cà Mau”. Rất mong sẽ được mọi người hoan hỉ bỏ qua, vì có như vậy nó mới là người thật việc thật, mới là sản phẩm của một Newcomer.
Tôi cũng ý thức rằng, so với những gian lao khổ cực mà qúi vị đã trải qua, câu chuyện của gia đình chúng tôi chỉ là một con số không. Nhưng chúng tôi nghĩ rằng câu chuyện vượt biên của các thuyền nhân d ạ ng “Bán chính Thức” ít được đề cập, nên mạnh dạn viết ra để câu chuyện v ề “Thảm
k ịch Thuyền nhân” được thêm đầy đủ..

(The following statement is only a small part of our family register. The purpose of this chapter is to describe the separation and the reunion of our family. Several details not related to the subject are not mentioned.)

1. The first lie of VC (Việt cộng, Vietnamese communist).
Around March, 1975, Qui Nhon was in much graved situation, the North Vietnamese army could invade the city anytime. We moved to your Grandparents house (Ông Bà Nội) in Thu Đuc, about 10 miles north of Saigon .
The fall of Saigon occurred on April 30, 1975. One month after that day, the new government announced that every officers and high ranking officials in the old government must register to be “re-educated”. The announcement stated that, the ones like me, 2nd Lieutenant and high school teacher, the time to re-educate is 10 days, and higher ranking officers is 30 days. Every body believed in the announcement.
I left home around 4 PM, June 24, 1975. At that time, you were 5, 3 and 2 years old.
All of you were still in the afternoon nap. Your mom did not wake you up to say good-bye to me, because she thought I will return after 10 days.
After my departure, it was terrible days and nights for your mom. She and you were alone at home. (Grandparent and every body moved secretly to Long Khanh). She could not sleep at night, every time the family dog barked, she thought may be your father was coming home. One night, the dog barked so violently, the sound of people’s footsteps came near, they knocked at the door... They were the VC polices, coming to check out if I registered for re-education or not. Your mom said to them: “Why big deal, today is the 7th day, 3 more days he will return”. They laughed at her loudly.
Then the 10 day period passed. At night, the bark of the family dog brought hope and disappointment to her. At day time, your mom and 3 of you sat in front of the house, waiting for me. Every time a public transportation car (xe lam) stopped in front of the house, you rushed out, expecting to see me. But just in vain...
Two months later, Uncle Tu (Cậu Tư), came to Thu Duc and brought you back to Bà Ngoại (Maternal Grandma) house in Qui Nhon.

An interesting story at that time related to Fawn, my youngest daughter. Every time your mom and Dì Út went somewhere, she used to insist to follow. However, whenever your mom went to the meeting organized by VC, if your mom said: “Baby, stay home, I go to study the government policy so that your dad could be released soon”. Every times, hearing these words, she was quiet, no crying, no insisting to follow.
They put me in jail when my children were at the most tender age. This is the huge loss in my life, I did not have a chance to enjoy it... (Now, you may understand why I am so excited and eager to see your kids every Sunday).
2. The most difficult decision.
They kept me in jail for 4 years, 5 months and 29 days. (These terrible days will be described in another chapter).
During the time I was in the prison, your mom brought all 3 of you to see me 4 times. In the 4th time, she asked me an extremely hard question: “should she leave me alone in the prison and bring you out of Viet Nam ”?
a/ The quarrel between China and Viet Nam .
During the 1st Indochina war against France (1945-1954), and during the 2nd Indochina war against South Viet Nam and the USA (1954-1975), the support and back up from the Chinese Communist were very important for the victory of VC. China gave VC everything, from weapon to food and supply, even man power.
However, in early 1970, there was a dispute between China and The Soviet Union. The VC turned their back to China and befriended to the Soviet Union: Viet Nam invaded and occupied Cambodia (Pol Pot regime), who was one of Chinese ally in Southern Asia . Especially when Cam Ranh Bay, a strategic military position, was leased to The Soviet Union.
China got really mad, the conflict between Viet Nam and China erupted openly. In 1979, Chinese Forces attacked and invaded North Viet Nam .
Viet Nam revenged by repatriating all Vietnamese with Chinese origin. Because Ong Ngoai is a Chinese, you could leave Viet Nam .
b/ The tough question.
Then, in the 4th visit, on February, 1979, your mother asked me a very tough question. “Should she leave me alone in jail and bring you out of Viet Nam ”.
Remember, at that time, there was absolutely no relationship between Viet Nam and the USA , both countries still considered each other as the greatest enemy. I thought of the families in North Viet Nam , in East Germany , in North Korea . The members of these families had been far apart from each other for more than 30 years. They were even only separated by a wall, a river or a manmade border... Now if you go, between us will be the immense Pacific Ocean .
It means, if you leave Viet Nam , I may never see you again!
However, my dear children, the answer was:
“Go, for the future of our children, Go! If God has pity on us, we will reunite, if not, I accept it”. (According to VC policy at that time, the children of the former regime officials even could not enroll in the universities. .. you were seriously discriminated because of my résumé...)
3. The departure for Hong Kong .
Returning to Qui Nhon, your mom prepared to escape with Bà Ngoại family. Before the departure, she invited Bà Nội to Qui Nhon to see you for the last time. Bà Nội came to see you also meant that the trip was approved by your dad family. (Leaving the husband in jail and going abroad is something terrible and unacceptable by the Vietnamese tradition).
Your departure began on May 23, 1979.
There are two kinds of Boat People, your situation is called “unofficial departure” (đi bán chính thức), it means you gave VC the gold and they verbally allowed you to go. However you could prepare for the trip openly. Other people, such as Chú Huy, (Uncle Huy), had to escape, it is called “đi chui” or “đi vượt biên”. This kind is extremely dangerous. They had to prepare everything for the trip secretly, such as buying the boat, fresh water, gas, foods, boarding location... everything must be in absolute secrecy. Hundred thousands perished at sea because lack of fresh water, foods, gas or by storm and disoriented, raped, killed, robbed by pirates. If the trip was discovered by police, people would be jailed, even executed (Chú Huy will be asked to write down his trip for you, he and the men in his boat even had to struggle with VC polices, kicking all 3 of them to the sea, confiscated their rifles and escaped...).
The departure of people like you was much easier, however it is still very dangerous and suicidal. ( One boat, with nearly 200 refugees from Qui
Nhơn to Hongkong vanished at sea, nobody survived).
Each passenger gave 5 ounce of gold to the organizer, this man would share the gold with the police. He bought an old wooden fishing boat, the one carrying you to Hong Kong was only 60’ long and 10’ wide, it means the size just double that of our living room. He rebuilt the boat to 3 levels to carry 252 people. It was so crowded that only kids could lie down, all adults had to sit in the same position during the trip lasted for 7 days. Every people totally got soaked by the sea’s water. You all got seasick and clothes are tainted and caked from vomiting, especially Trang. Bà Ngoại brought along a lot of food, but nobody could eat.
The first danger was the “captain”, he lied to the organizer, and he claimed that he was a navy officer so that his family could get a free trip. When the boat just left the Qui Nhon harbor for a few miles, he confessed that he did not know how to steer the boat, his seasick was worse than everybody. Luckily, one of the passengers was really a former navy officer, he took control of the boat, relied only on the sun and stars for the directions, because the compass was misplaced at the boarding time.
Because the wooden boat was so old, the sea water leaking in a lot, people had to use a pump to drain the water out. On the 2nd day, the pump suddenly stopped, people had to use the hands to scoop the water out of the boat. However man power was not enough, water kept coming higher and higher. A very strict order was applied: “The boat was in very dangerous situation of sinking, except for the clothes wearing on the body, everyone had to throw away everything, such as garment, shoes, hats... Even fresh water, the most important for survival at sea, also is poured away 50%. Your mother quickly changed your dirty clothes by 2 sets of clean ones. To save water, whenever you insisted, your mom used the cap of the bottle to give you water. Fortunately, on the next day, the pump was fixed, it just got stuck by the vomiting stuffs.
Four days passed, people saw nothing but the blue sky and immense dark water. A lot of ladies were so disappointed, they cried out loudly, some openly accused their husbands of bringing them to the death... in the evening of the 5th day, still nothing but the sky and the immense dark water, however, the sea became rougher and rougher, in the sky, the cloud turned very dark. These were the signal that a big storm was coming soon.
Suddenly, people saw 2 tiny dark spots on the horizon, the 2 spots became bigger and bigger, when they came closer, people shouted in joy: They were 2 Hong Kong fishing boats. One of the boats circled your boat, then slowed down and a young man shouted loudly that your boat was in wrong direction, instead of going to the West, the boat went to the East. If it kept going that direction, you would never meet the land because there is no island on that side. He also said loudly that a very big storm was coming, we had to get out of the eye of the storm as soon as possible.
He told your boat to follow him. However your boat was so slow, in a moment, the fishing boat disappeared on the horizon. Luckily, the fishing boat returned, he threw a rope to your boat, but no one knew how to tie up the rope, he had to jump to your boat to tie the rope himself and pulled your boat along.
Ten hours later, the lights of Hong Kong city appeared on the horizon. The young man, named Hòa Cố, told every body that he had to leave now, otherwise, he would be in trouble with the police. People offer him gold as gratitude, but he refused, pointing his finger at an old woman sitting on the rear of the boat in front of an altar. Hòa Cố said, she was his mother, she was over 80 year old, last night, the Buddha appeared in her dream, telling her to come to this place to rescue one refugee boat.
Before Hòa Cố leaving, your mother handled him $20, asking him to send 2 telegrams, one to Qui Nhơn, another to Chú Huy. I heard the good news one month later.
So finally, after 7 terrible days on the sea, May 31, 1979, your boat reached Hong Kong harbor. Police stopped the boat on the water for 7 other days to investigate if you were from mainland China or from Viet Nam . On the 5th day, Khang’s eyes were infected and swollen as big as the 2 bloody eggs, luckily, they gave you permit to land and he was admitted to hospital. You stayed in a huge dark warehouse (Kho đen), together with thousand of other refugees. (Your boat was the boat No 599). Then to the “Closed camp” (Trại cấm), where you were forbidden to contact with outside people for 2 more months. After that, your mom and other adults could go to work. At first she worked in a doll factory, later she became an assembler for a calculator factory.
You were interviewed by the UNHCR (United Nations Higher Commission for the Refugee - Phủ Cao Ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc) and because your father was an officer of the South Viet Nam Army, the US government gave you permission to immigrate to the USA . Totally, you stayed in Hong Kong for 15 months.
On August 15, 1980, you were on board the PANAM to the LAX.
4. I was out of jail.
On November 23, 1979, only 6 months after your departure, VC released me from the prison. At first, like every other people, I was extremely excited. After nearly 5 years of ordeal, disappointment, torture, starvation.. . finally I was free.
However, the excitement only occurred on the way from the jail to Saigon . When I reached Saigon , I pulled out the address of Uncle Huy and suddenly, I discovered and dismayed, this was not the address of my family... my family was gone... I was engulfed in a sadness and loneliness.. . I was only released from a small prison, a bigger one was still around me!
Two weeks later, by telegrams and letters, we communicated back and forth.
During the days I was left behind in Saigon , waiting for the reunion, I tried to studying English days and nights.
5. The Family reunion.
Few days after staying in Los Angeles , your mother filed the petition to sponsor me to the USA . Because at that time, 1980, the relationship between the US and VietNam changed rapidly and surprisingly. They allowed Vietnamese living in the USA to sponsor closed relatives from Viet Nam to the USA . The VC also slowly released all former South Vietnamese officiers from jail. The last people stayed in jail for 20 years (instead of 20 days as announced by the VC government!) . Several of them died in jail by starvation, torture, hard labor, exhaustion and diseases. Some even were executed.
I submitted all necessary papers to Hanoi officials, and bribed them with gifts and gold. (These money I received from your mother). I got the passport and boarded a VC airplane to Bangkok , Thailand , then on a PANAM to the LAX on March 12, 1984.
Finally, our family reunited after 9 years living far apart.

Đúng 20 năm sau, ngày 12 tháng 3, 2004, tôi đã đọc đoạn văn trên cho cả nhà nghe. Và thật là ngoài sự dự đoán của vợ chồng tôi, tất cả con cháu, dâu rể đã lắng nghe một cách vô cùng chăm chú, mắt rươm rướm nước... cả thằng cháu ngoại 7 tuổi, cũng há hốc miệng ra nghe từng chữ, tôi vừa đọc xong thì cháu tới tấp hỏi tôi đủ chuyện, nhưng với trí óc non nớt của cháu làm sao tôi có thể nói cho cháu hiểu được, thí dụ, tại sao chúng nó lại bắt ông ngoại vào jail, tôi đành lấy chuyện good guy - bad guy để giải nghĩa cho cháu. Đã vậy, cháu lại cứ nhất định đòi xin một bản, má cháu nói rằng cháu sẽ có một bản in rất đẹp cùng với The Family register, nhưng cháu vẫn không chịu, tôi đành phải đưa cho cháu bản nháp này.
Nhưng đáng nói hơn cả là hai cháu gái, các cháu đã nói nhỏ với nhau:

“Bảo sao, tối nào ba má cũng lái xe xuống tận Westminster để tham gia biểu tình chống hình Hồ Chí Minh và Cờ VC, mãi tới nửa đêm mới về”!
Kính thưa tất cả quí vị, tôi chân thành đề nghị quí vị cũng cố gắng, nếu vị nào chưa ghi, cố gắng ghi lại, hay là kể ra để cho các cháu ghi chép lại những biến cố đau thương mà mỗi gia đình và mỗi cá nhân chúng ta đã phải trải qua trong những ngày tháng tang thương đau khổ của dân tộc. Những câu chuyện mà chắc chắn còn thê lương và bi thảm gấp cả ngàn lần câu chuyện của gia đình chúng tôi.

Ngoài mục đích là mối dây liên kết mọi người trong nhà bây giờ và mai sau, nó còn sẽ trở thành những tài liệu lịch sử rất quan trong cho hậu thế, cho lịch sử của Hiệp chủng Quốc Hoa Kỳ và nhất là cho Quê hương Việt Nam thân yêu của chúng ta. Mọi người, kể cả những người Cộng sản Việt Nam, cũng đều đã biết, trong một tương lai rất gần, một chế độ thực sự Dân Chủ Tự Do sẽ hiện diện trên quê hương Việt Nam — bằng chuyển tiếp ôn hòa hay là bằng bạo động đẫm máu —, lịch sử dân tộc Việt Nam từ 1945 trở về sau sẽ được viết lại hoàn toàn. Khi đó, những chuyện riêng tư của mỗi người chúng ta, của mỗi gia đình chúng ta sẽ là những sử liệu vô giá, vì nó là những bằng chứng sống, không ai có thể chối cãi được.
Hoa Kỳ là một quốc gia rất trẻ, chỉ mới được thành lập hơn 200 năm nay, nghĩa là chúng ta cũng là những Pioneers, những người Tiên Phong Lập Quốc. Xin hãy mạnh dạn ghi chép lại. Đừng âm thầm mang theo những tài liệu quý giá đó lên... Đồi Hồng cùng với chúng ta.
Tôi là người nổi tiếng lắm mồm (notorious for being talkative), vợ con, dâu rể đều đã biết rõ, nhưng chắc là để cho yên nhà yên cửa, mọi người đều đã im lặng nghe tôi giảng bài trong các buổi family meetings. Sau này các cháu đã lớn, đã thành ông nọ bà kia ngoài xã hội, tuy tôi không dám lộng hành như xưa, nhưng vẫn thỉnh thoảng lợi dụng thời cơ để lén lén vài câu ngắn gọn. Thí dụ, trong ngày Lễ Mother’s Day vừa qua, tôi đã cười cười nói:

“Sáng hôm nay, một xướng ngôn viên của đài số 5 đã nói thế này: Hôm nay là ngày Lễ Mẹ, nhưng tôi phải cám ơn Cha tôi. Tại vì ông đã chọn cho tôi một người Mẹ tuyệt vời.”

Gia đình Vũ linh Châu - Liêu Ngọc Anh

Quốc Hận 30 tháng Tư.
NHÂN NGÀY QUỐC - HẬN 30 THÁNG 4 : 65 NĂM NHÌN LẠI .
Lê Thành Nhân


Nhân Ngày Quốc Hận năm nay, đa số đều chỉ “nhìn lại 35 năm” thôi. Mặc dù tôi không phải là một sử-gia hay môt chính-trị-gia, tôi cho là không đúng vì đã bỏ sót một giai-đoạn lịch-sử quan-trọng chứa đựng những hi-sinh to lớn của những chiến sĩ Quốc-gia đấu tranh chống lại các thế-lực quốc-tế để giành lại độc-lập cho Dân-tộc trong và sau đệ nhị thế chiến. Tôi chỉ là một “thất phu” đã tận mắt chứng kiến cuộc nổi trôi của vận Nước qua 7 chế độ ở Việt Nam từ 1945 đến 1975. Chính mắt tôi đã bao lần nhìn thấy cảnh quê hương bị tàn phá, đồng bào bị đàn áp, khủng bố, tù đày, giết hại. Chính tôi cũng đã từng trải qua 10 năm trong ngục tù CS. Tôi muốn ghi lại dưới đây cho những ai không được trực tiếp chứng kiến như tôi.

I. KHỞI ĐẦU CUỘC CHIẾN QUỐC-CỘNG: 1945

A. Phía Cộng-sản: do Hồ Chí Minh cầm đầu, tuân hành chỉ-thị của CS quốc-tế do Liên xô và Trung Cộng lãnh đạo, chủ-trương chuyên chính vô sản và đặt quyền lợi gia-cấp vô sản (đảng CS) trên quyền lợi Dân-tộc.
B. Phía Quốc-gia: gồm các chánh đảng, lực lượng yêu nước theo chủ nghĩa “dân-tộc” (nationalism) và nguyên tắc dân chủ tự do kiểu Tây Phương (phần lớn dựa vào Bản Tuyên Ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cuộc Cách-mạng 1789 của Pháp, đã được Liên Hiệp quốc biến thành Bản Tuyên ngôn Nhân-quyền Quốc-tế).
Hãy nói rõ thêm về chữ “quốc-gia”. Chữ “quốc-gia” không được nhiều người hiểu rõ, nhứt là các thế-hệ trẻ. Lịch-sử của chữ đó bắt nguồn từ chữ “Etat du Vietnam”=Quốc-gia Việt Nam, mà nước Pháp nhìn nhận độc-lập sau đệ nhị thế chiến. Những người chống lại Việt Minh và Cộng-sản quốc tế của HCM đều theo về phía chánh-phủ Quốc-gia. Sau tháng 12, 1946 thì “chánh-phủ VN Dân-chủ Cộng-hòa” của HCM bị đánh chạy về biên giới Việt-Trung. Cuộc chiến Quốc-Cộng khởi đầu từ đó và kéo dài đến ngày hôm nay.
Ý-nghĩa chính-trị của từ-ngữ “người quốc-gia” là “người theo chủ nghĩa dân-tộc”, vì chữ nationalism hay nationalist là do chữ gốc nation=dân-tộc mà ra, đối lập với “người theo chủ nghĩa quốc-tề cộng-sản” (internationalism) . Người theo “chủ nghĩa dân-tộc” hay “người Quốc-gia” thì đặt quyền lợi của dân tộc mình và quốc-gia mình lên trên hết. Còn người theo cộng-sản quốc-tế thì sẳn sàng hi-sinh quyền lợi tổ quốc mình để phục-vụ quyền lợi của các đảng cộng sản quốc-tế như Trung cộng, Liên xô. Người Quốc-gia không thể bán rẻ Đất Nước mình cho ngoại bang. Hiểm họa Việt cộng bán rẻ quyền lợi Đất Nước cho Nga cộng và Tàu cộng không cần phải đợi đến ngày hôm nay mới biết được, mà đã bắt đầu từ ngày HCM gia nhập đảng CS ở Pháp (1920). Vậy, câu chuyện HCM có công giành độc-lập cho Đất Nước (như đảng CSVN tuyền truyền) chỉ là một huyền-thoại để lừa bịp mọi người mà thôi. Cái gọi là “Tư tưởng HCM” mà đảng CSVN đang đề cao để thay thế chủ-nghĩa Marxist và Leninist bị nhân loại vứt vào sọt rác của lịch-sử, thực chất là loại tư-tưởng vọng ngoại, bán nước, phản dân-tộc. Việc đảng CSVN đã dâng đất, dâng biển Việt Nam cho Trung Cộng ngày nay đã là một thực tế không còn chối cải gì được nữa. Hàng chục ngàn đảng viên thực tâm yêu nước từng bị HCM lừa gạt đã xé thẻ đảng sau khi nhận biết sự thật nầy. Hiện-tượng nầy mỗi ngày càng lan rộng sẽ đưa đảng CSVN đến chỗ tan rã. “Đảng CSVN có thể lừa gạt một nười, hai người,.... một ngàn người, chớ không thể lừa gạt tất cả mọi người. Đảng CSVN có thể lừa gạt một lần, hai lần.. một ngàn lần, chứ không thể lừa gạt người ta mãi mãi” (dựa theo một danh ngôn của TT Lincoln)
Do không hiểu thấu đáo ý-nghĩa của chữ “quốc-gia” nên nhiều tổ chức đấu-tranh của người Việt Quốc-gia đã dùng những danh xưng lệch lạc như ”người Việt Tự do”, “người Việt Tỵ-nạn”, …. Cũng y như vậy, nhóm chữ “Cờ Quốc-gia” bao hàm đầy đủ ý nghĩa hơn nhóm chữ “Cờ VNCH”. Còn các chữ “Cờ Việt Nam Tự do” và “Liên-minh Việt Nam Tự do” thì hoàn toàn vô nghĩa.

II. CÔNG CUỘC CHIẾN ĐẤU GIÀNH ĐỘC-LẬP VÀ TỰ CHỦ CỦA NGƯỜI VIỆT QUỐC-GIA:

Sách sử của CSVN lừa bịp mọi người và viết: Việt Nam được độc-lập từ 2 tháng 9, 1945 nhờ công lao của HCM và đảng CSVN. Sau đây là các sự kiện lịch-sử mà chính người viết cũng đã tận mắt chứng kiến:
Sau khi đảo chánh Pháp đêm mồng 9 tháng 3 năm 1945, Nhựt trao độc-lập ngay cho Việt Nam lần đàu tiên với Chánh-phủ Trân Trọng Kim. Lá cờ Quốc-gia màu vàng được khai sinh từ đây (Cờ Quẻ Ly). Nếu Nhựt không thất trân thì cuộc diện thế giới ngày nay ắt đã khác.Sau khi trở lại Đông Dương, Pháp công nhận VN độc-lập trong Liên-hiệp Pháp: Chánh-phủ Quốc-gia được tái lập cũng với Quốc-trưởng Bảo-Đại như thời Chánh-phủ Trần Trọng Kim. Chánh-phủ Quốc-gia tồn tại từ 1948 đến 1955 rồi chuyễn sang đệ I Cộng-hòa, chấm dứt chế độ quân-chủ. Cờ Quốc-gia có nền Vàng và 3 Sọc đỏ từ đó (1948) đến nay.Đệ I và đệ II Cộng-hòa (1955-1975).Quân dân Miền Nam đã chiến-đấu vô củng anh-dũng để bảo vệ nền độc-lập của Việt Nam trước âm-mưu cướp nước ta của Nga, Tàu qua tay sai của chúng là CSVN. Hơn 200,000 chiến sĩ Quốc-gia đã hy-sinh để bảo vệ Tổ-quốc, cọng với cả triệu đồng bào vô tội. Con cháu chúng ta hãy nhìn cho thật kỷ sự thật hôm nay: tập-đoàn CS HCM là Việt gian đang bán Nước cho Tàu, hay Phía Việt Nam Quốc-gia bán Nước?
Trên đây là chưa kể thời kỳ từ 1862 đến 1945 với nhiều phong trào “dân-tộc” (Quốc-gia) yêu nước đã nỗi lên chống Pháp trước và sau khi đảng CSVN được khai sinh (1930), trong đó Việt Nam Quôc-dân đảng là thí dụ điển hình nhứt. Trong suốt hơn 4000 năm, dân tộc ta đâu cần có đảng CSVN mới đánh đuổi được ngoại xâm. Trái lại, đảng CSVN đã cổng rắn Trung cộng vào nhà cướp nước, hại dân chúng ta hôm nay. Sự chia rẻ Quốc-Cộng do đảng CSVN tạo ra đã tiêu hủy sự đoàn-kết dân-tộc vốn là yếu tố quyết định trong việc chống ngoại xâm bảo vệ độc-lập của ông cha ta. Ngày nào còn chế độ CSVN thì ngày ấy Dân tộc VN còn bị chia rẻ và bất lực, Đất Nước VN còn bị nô lệ ngoại bang. Hiện nay đảng CSVN còn đem sự chia rẻ đó để phá hoại cộng-đồng Người Việt hải ngoại bằng Nghị-quyết 36 của Bộ Chính-trị.
Xin hãy nhìn: Ấn độ nhờ không có đảng CS mà đã được độc-lập từ năm 1948 và đang trở thành một cường quốc với một dân tộc đoàn kết hùng mạnh

III. KẾT QUẢ ĐẾN NGÀY HÔM NAY:

Với sự yểm trợ hùng hậu của Liên xô và Trung Cộng, phía CS đã thắng người Pháp và Phía Quốc-gia (Hiêp-định Genève 7/1954), thôn-tính phân nửa nước ta từ vĩ-tuyến 17 trở lên. Về tuyên truyền thì phía CS biết sử dụng chiêu bài mị dân “giải-phóng thuộc-địa”. Nước Mỹ thì vừa ra khỏi Chiến tranh Triều tiên (1951-1953), không dám nhảy vào cứu Pháp bị sa lầy ở Điên Biên phủ, sợ làn sóng chống đối của dân chúng Mỹ vốn rất sợ chiến tranh và chết chốc. Hoa Kỳ đã sáng suốt không ký vào Hiệp- định Genève (7/1954) và nỗ lực củng cố Miền Nam Quốc-gia bằng chế độ Việt Nam Cộng-hòa, dân chủ và tiến bộ như Tây phương.Nền hành chánh và Quân-lực VNCH được thế giới xếp vào bực nhứt Đông Nam Á. Cảnh-sát QG của VNCH dẹp biểu tình tinh nhuệ hơn bất cứ nước nào khác. Dù đang chịu đựng chiến tranh, kinh tế VNCH chỉ đúng sau nước Nhật. Trước ngày CSBV đem 12 sư đoàn vào bức tử Miền Nam, không có bất cứ dấu hiệu nào khiến cho Miền Nam phải thất trận, ngoại trừ sự bội ước của chánh khách Hoa Kỳ từ khước cung cấp súng đạn cho Quân-lực VNCH như đã cam kết.
Vì nghe theo cố vấn của Kissinger, Hoa Kỳ đã sai lầm thảm hại khi quyết định rút ra khỏi Việt Nam và Đông Nam Á, giao cho Trung Cộng vai trò làm “cai thầu” khu-vực, đồng thời trục lợi từ thị trường tiêu thụ của hàng tỷ người Tàu.
Kissinger đã phạm 3 lỗi lầm chiến-lược quan trọng : a. Lần đầu tiên trong lịch-sử mình, Hoa Kỳ đã phải mang vết nhơ phản bội đồng-minh mình. Đệ nhứt cường quốc Hoa Kỳ từ nay không còn đáng tin cậy nữa trên chính trường quốc-tế.
b. Không tiên đoán nỗi khã năng lớn mạnh nhanh chóng của nước Tàu. Hoa Kỳ đã vỗ béo con “hổ Trung cộng” để bây giờ nó sẽ trở lại ăn thịt mình.
c. Không biết được trử lượng khổng lồ về tài nguyên thiên nhiên (dầu mõ) của vùng Biển Đông. Số tài-nguyên nầy (phần lớn là năng lượng) có khã năng đưa Trung cộng lên hàng đệ nhứt cường quốc thế giới và đánh bại Hoa Kỳ. Hiện Trung cộng đã đem tàu chiến, tàu ngầm đến trấn giữ: nếu muốn trở lại, cái giá mà Hoa Kỳ phải trả chưa chăc là nhỏ.

IV. CÁC BIẾN-CỐ LỊCH-SỬ BẤT LỢI CHO PHÍA QUỐC-GIA

1. Tập-đoàn HCM (HCM, Lê Hồng Phong, Trường Chinh, …..) được Nga, Tàu đào tạo để đem phong trào CS Quốc-tế về quảng bá ở Đông Dương (1920-1945). CS Quốc-tế được tổ chức và lãnh-đạo liên tục.
2. Trung Cộng chiếm Trung Hoa Lục địa (1949) làm hậu phương vững chắc cho VC. Trước 1949, quân Pháp-Việt đã chiếm ưu-thế ở Đông Dương.
3. Pháp bị phe CSQT (Nga-Tàu) đánh bật khỏi Đông Dương (1954). Hoa Kỳ không tiếp cứu Pháp sau trận Điện Biên phủ.
4. Hoa Kỳ rút khỏi Đông Dương và gián tiếp giúp cho con “Hùm Trung Cộng” lớn mạnh (từ 1972 tới nay) bằng chánh-sách giao thương.
5. CSVN được phe CS quốc-tế viện trợ quân-sự vô giới hạn. Phe thế giới Tự do lo cho quyền lợi của chính họ trước nhứt. Áp lực của dân chúng trong chế-độ dân chủ tạo sự thiếu liên tục trong chánh-sách đối với đồng minh., trái ngược với chế độ độc tài của CS.
6. Chế độ thực dân chủ-trương tiêu-diệt hết các nhà lãnh-đạo Quốc gia có tài và không cho phép đào tạo hàng ngũ lãnh đạo mới. Cuộc khủng hoảng lãnh đạo của chúng ta còn kéo dài đến ngày hôm nay.

V. HIỂM HỌA HÔM NAY: CÁC HÌNH-THỨC XÂM-LƯỢC CỦA TRUNG CỘNG

1. Mất lảnh-thỏ, lãnh hãi, Hoàng sa , Trường sa, tài nguyên kinh-tế trên thềm lục địa. Chưa chi mà đồng bào ta ở nhiều tỉnh Miền Trung đã bắt đầu chết đói vì không được phép đánh cá ở những nơi mà ông cha họ đã từng làm ăn từ mấy trăm năm nay. Thềm lục địa VN hiện là một trong những nơi có trữ lượng dầu mõ lớn nhứt thế giới.
2. An-ninh quốc-phòng: VN hoàn tòa bị Trung cộng bao vây kín, không có lối thoát.
3 Mất hải lộ chuyễn vận huyết mạch giao thông giữa châu Âu, Châu Úc và châu Á đi ngang hải phận VN, tác hại nặng nề đến nền kinh tế quốc-gia VN.
4 Các hợp-đồng cho thuê đất rừng 50 năm đương nhiên biến VN thành một thuộc địa của Tàu.
5 Với các dụ án khai thác quặng mỏ, xây dựng nhà máy, hạ tầng cơ sở được giao cho các “công-ty”Tàu thầu thì hàng trăm ngàn lính TC ngụy trang là công nhân lập làng, lập chợ khắp nơi như chính trên đất nước Tàu.
6. Chủ trương xua đàn ông Tàu qua lấy gái Việt đẻ Hán hóa dân ta.
7. Tuồng (dumping) hàng hóa hư hỏng, độc hại qua đầu độc người Việt Nam, gây hậu quả di truyền lâu dài vô cùng nguy hiểm cho nhiều đời con cháu chúng ta (còn hơn chất đọc da cam nhiều lần).
8. Phá hoại nặng nề nền kinh tế VN: nền công kỹ nghệ sản xuất của VN bị phá sản vì không cạnh tranh được với hàng lậu TC, ngân sách quốc-gia thì thất thu…Mà hễ thất thu thì phải chạy qua Tàu xin viện-trợ,… nên không mong gì thoát ra khỏi được sự lệ thuộc vĩnh viễn vào mẩu quốc Tàu! Đây là hình-thức “xâm-lược” vô cùng hiểm độc.

VI. THỬ VẠCH RA VÀI PHƯƠNG-SÁCH CỨU NƯỚC

1. Giải-pháp1.- Thay đổi từ bên trong.

Đảng CSVN tự nguyện trao trả quyền lãnh-đạo Đất Nước lại cho Toàn Dân để cứu Nước, vì chủ nghĩa CS đã bị loài người và lịch-sử đào thải, đã đưa Dân tộc đến bờ tiêu vong hiện nay với họa Bắc xâm, và bế tắc về ngoại giao, chính-trị, kinh tế, nhân tâm, v.v. . Đảng CSVN đã bị đẩy vào thế làm một “con tin” của Trung Cộng nên dù có muốn cũng không thể lãnh đạo công cuộc chiến đấu chống lại Trung cộng được. Liên xô trước đây chỉ bị bế tắc về kinh-tế mà tạo được “tiền-đề” cho Gorbachev “phi Cộng-sản hóa” Liên xô mà không cần nổ một phát súng hay đổ một giọt máu. Dân tộc Đức cũng đã được “phi Cộng-sản hóa” một cách êm ả vì, dân tộc Đức có một ý thức cao độ về quyền lợi sống còn của dân tộc mình. Suốt 45 năm chiến tranh lạnh dân tộc Đức không hề để cho thế lực ngoại lai xúi giục tàn sát lẫn nhau: Đông Đức đã không đem xe tăng Liên xô sang “giải phóng Tây Đức”, như Đảng CSVN đã “giải phóng Miền Nam”. Để hoàn thành nghĩa vụ quốc tế, đảng CSVN đã quyết đánh đế quốc Mỹ đến …. người Việt Nam cuối cùng”, và thực tế đã đem cả chục triệu sinh linh người Việt để “đánh Mỹ cứu Nước”. Giờ đây, “đảng” lại phải tốn cả chục triệu thanh niên VN nữa để đuổi Tàu mà chưa chắc được, nếu không nhờ đến Mỹ! Ý-thức đặt quyền lợi Dân tộc lên trên hết cũng được thấy ở dân tôc Nhật. Sau khi bị hai quả bom nguyên tử, phe quân phiệt Nhật thay vì bám lấy quyền lực đã tự nguyện rút lui để cho Nhật hoàng ký hòa-ước đầu hàng Đồng-Minh, cứu dân Nhât khỏi nạn diệt vong.

2. Giải-pháp 2. Lực-lượng yêu nước quốc nội phải đứng lên thay đổi chế-độ

Không có chế độ độc tài nào mà tự nguyện từ bỏ địa vị thống trị và quyền lợi của họ, trừ khi bị bắt buộc. Muốn tạo ra một sự thay đổi chế độ (regime change), các lực lượng dân tộc yêu nước như thanh niên, sinh viên, trí thức, quân đội, công nhân, đảng viên thức tỉnh, v.v. phải đứng lên thành-lập “Phong-trào Quốc dân cứu Nước” đấu tranh một cách có tổ chức và lãnh đạo. Chỉ cần một cuộc xuống đường với vài trăm ngàn người tại Hà Nội là có thể lật đổ chế độ. “Quân đội nhân dân” chả lẽ lại đi chỉa súng bắn lại nhân dân, trong khi họ hy sinh chiến đấu chống ngoại xâm, bảo vệ Tổ-quốc. Thời cơ bây giờ là lý tưởng, vì không còn ai tin tưởng vào một đảng CSVN phản quốc nữa. Ngọn cờ “chống ngoại xâm” bao giờ cũng là sự thôi thúc mạnh mẻ nhứt đối với dân tộc Viêt Nam trong hơn 4000 lịch sử.

3.Giải pháp 3.- Chánh-phủ Lưu vong (của lực-lượng Quốc-gia hải ngoại)

Khi nước Pháp bị Đức chiếm và dựng lên Chánh-phủ Pétain làm tay sai cho Đức.
Tướng DeGaule phải chạy qua nước Anh thành lập Chánh-phủ lưu vong để lãnh đạo công cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Đức quốc xã. Nhà Cầm quyền Hà Nội và Đảng CSVN hiện chỉ là tay sai của đảng CS Trung quốc, không do toàn dân Việt nam bầu ra nên không phải là đại diện hợp pháp của nhân dân Việt Nam. Vì mối tương quan lịch sử đó Nhà cầm quyến Hà Nội KHÔNG thể lãnh đạo công cuộc đấu tranh chống Trung cộng được. Nhất định phải có một Chánh-phủ không phải là “con tin” của Trung cộng.
Nhiều giải-pháp có thể thực hiện được:
a. PHỤC HỒI TƯ CÁCH PHÁP LÝ CỦA VNCH
Tướng Dương Văn Minh là tổng thống bất hợp pháp dựa vào Hiến-pháp của đệ II Cộng hòa. Bởi vậy có thể triệu tập lại lưỡng viện Quốc-hội của đệ II Cộng-hòa để đại diện cho VNCH và cử Chánh-phủ lãnh đạo cuộc kháng chiến chống sự xâm lược của Trung cộng hiện nay.
b. TRIỆU TẬP QUỐC DÂN ĐẠI-HỘI (Hôi-nghị Diên-Hồng)
Nếu giải-pháp a. trên đây không thực-hiện được thì phải triệu tập một “QUỐC DÂN ĐẠI HỘI” để có tư cách tạm thời đại diện nhân dân Việt Nam, phủ nhận tư cách đại diện của ngụy quyền Hà Nội, là tay sai của đảng CS Trung quốc.
Các giai-đoạn cần thực hiện:

1. Phát động một PHONG-TRÀO QUỐC DÂN CỨU NƯỚC2.Triệu-tập một QUỐC DÂN ĐẠI-HÔI (HÔI-NGHỊ DIÊN HỒNG)3. Đặt ra cơ cấu và cử nhân sự lãnh đạo công cuộc chống ngoại xâm theo khái niệm Chánh-phủ Lưu vong của De Gaule.

4. Giải-pháp 4.- Trung-lập-hóa Bán đảo Đông Dương
Giải-pháp “Trung-lập-hóa Việt Nam” bây giờ là thích hợp nhứt và cần thiết nhứt. Đây là giải pháp ít tốn kém xương máu nhứt và có giá trị chiến lược lâu dài cho 3 dân tộc trên bán đảo Đông Dương nhứt. Nhìều thức giả đã đưa đề nghị nầy trong quá khứ trong đó có GS Vũ Quốc Thúc và nhiều chiến lược gia khác.
Yếu tố thuận lợi của chúng ta là 4 triệu người Việt ở hải ngoại hiện nay có thể vận động ngoại giao với các quốc-gia có thế lực, nhứt là Hoa Kỳ để chấp nhận giải-pháp nầy. Nó sẽ mang lại nền hòa-bình lâu dài cho Việt Nam để tái thiết Đát Nước, mà không tốn phí ngân sách quốc-phòng.
Cần ghi nhận một điều là trong quá khứ Phía VN Quốc-gia chúng ta đã thất bại một phần là vì không biết sử dụng vũ khí ngoại giao như Đài-Loan và Do Thái là những nước còn nhỏ hơn VNCH gấp nhiều lần, mà vẫn tồn tại được.

KẾT LUẬN

Đối với người Việt Quốc-gia yêu Nước tình thế hôm nay chưa hẳn là tuyệt vọng, nhưng chúng ta phải thay đổi toàn diện từ cách nhìn đến cách tổ-chức, và làm việc của mỗi người chúng ta và mỗi tổ-chức chúng ta. TỔ-CHỨC KHOA HỌC VÀ LÃNH-ĐẠO HỮU HIỆU là hai yếu tố mà các tổ chức đấu tranh ở hải ngoại chúng ta chưa có trong 35 năm qua.
CƠ HỘI NÀO CHO DÂN TỘC VIỆT NAM?
Gần 4 triệu người Việt tỵ nạn CS ở hải ngọai hiện nay là một lực lượng hùng hậu có thể huy động vào công cuộc cứu quốc. Dù thương hay ghét nước Mỹ, phải nhìn nhận là để chống lại nước Tàu hiện nay, chỉ có thể nhờ đến sức mạnh quân sự, ngoại giao, kinh-tế, tài chánh và kỹ thuật của Hoa Kỳ. Sau đây là những cơ may (opportunities) của chúng ta:
Chúng ta có tiếng nói của những công dân Hoa Kỳ để ảnh hưởng chánh sách của Hoa-Kỳ.Chánh quyền Hoa Kỳ đang chủ trương trở lại Á châuChánh quyền Hoa Kỳ đã ký nhiều hiệp ước với Việt nam kể cả hiệp ước quân sự và nguyên tử lực để có khã năng can thiệp vào Việt Nam nếu VN bị Trung cộng uy hiếp. Hoa Kỳ đã biết sửa chửa một số lỗi lầm quá khứ của mình.Chánh quyền Hoa Kỳ đang “ly gián Nga với Trung cộng” và liên minh với Ấn độ, Pakistan để bao vây Trung cộng. Các tướng lãnh Hoa Kỳ đã công khai báo động về hiểm họa quân sự của Trung cộng từ vài năm nay rồi. Gần như cả thế giới đang chống lại tham vọng hiện nay của Trung cộng ở Biển Đông, từ Á sang Âu: Nhựt, Đại Hàn, Nam Dương, Phi Luật Tân, Mã Lai, Ấn độ, EU.
Hoa Kỳ và các cường quốc dân chủ còn nắm giữ “con bài tẩy kinh tế “ của Trung Cộng: dân chúng Trung cộng nổi loạn ngay nếu Tây phương ngưng nhập cảng hàng Trung cộng.Hoa Kỳ cũng đang nắm con bài tảy về kinh tế và tài chánh đối với VC. Hoa Kỳ đang cho Hà Nội xuất cảng tối đa vào Hoa Kỳ để phải bị lệ thuộc vào Hoa Kỳ. VC cũng đang vay một số nợ ngoại tệ khổng lồ của các định chế tài chánh mà Hoa Kỳ kiểm soát. Hoa Kỳ hiện là nước đầu tư lớn số 1 tại VN nên sẽ giữ vai trò quyết định đối với nền kinh tế và tài chánh VN.Xin nhắc lại, sau 70 năm được xây dựng kiên cố, thành trì CS quốc tế Liên xô đã sụp đổ không do bom đạn hay hỏa tiển của phe Tự do mà là do bế tắc kinh tế và tài chánh mà đảng CS Liên xô không giải quyết nổi.
Cái chế độ lỗi thời, phản dân, bán Nước ở Hà Nội hiện nay liệu có xứng đáng để tồn tại hay không?
Đồng bào hải ngoại, các tầng lớp thanh niên, sinh viên, trí thức, quân nhân, công nhân yêu nước tại quốc nội từng bị “Đảng” lừa gạt gần một thế kỷ nay, xin hãy trả lời câu hỏi đó, và hãy hành động cúu nguy Tổ quốc!

HẢI-NGOẠI,

Mùa Quốc Hận 2010
Lê Thành Nhân

VIỆT CỘNG ÂM MƯU DÙNG SV DU HỌC
ĐỂ KHỐNG CHẾ SV GỐC TỴ NẠN.

Buổi họp đặt biệt tẩy chay nhóm s/v du học tự ý dựng BCH/SVVN .
Thursday, April 29, 2010, 5:07 PM

Nhận được khẩn báo của một số anh chị sinh viên San Jose City College , sẽ có một buổi họp đặc biệt để kêu gọi s/v ứng cử vào BCH Hội s/v Việt-Nam San Jose City College ,vào lúc 12:30 PM ngày hôm nay 29/4/10 .
Theo nguồn tin từ s/v cho biết chương trình họp đã được một nhóm s/v du học ( đã mờ ám qua mặt tất cả s/v cũng như một số giáo sư V/N ở trong trường tự dựng lên một BCH mới là s/v du học ).
Nhận được tin này LL/SQTĐ/QLVNCH gồm các C/H Nguyễn minh Đường , NgôTôn, Phạm Tấn & Hoàng Thưởng, và một số hội đoàn trong cộng đồng VN tại Bắc Cali đã có mặt để ngăn chận âm mưu đánh lận con đen này của nhóm du học sinh này.
Trong buổi họp khi tất cả s/v đưa ra ý kiến đều không chấp sự ra đời mờ ám của BCH của s/v du học & đề nghị ghi danh ứng cử BCH mới . Mọi s/v đều đồng ý . Sau đó hai s/v (gia đình tỵ nạn cộng sạn) đã ghi danh ứng cử vào 2 chức vụ Chủ tịch & Phó C/T , tuy nhiên buổi họp này chỉ mới là ghi danh ứng cử . Trong tương lai sẽ có bầu cử .
Điều đáng quan tâm trong buổi họp này là sự hiện của một số giáo sư V/N trong cộng đồng tỵ nạn c/s , rất đông đồng hương V/N & các anh chị em s/v V/N của trường ,đã bẻ gãy âm mưu đồng hóa giữa s/v tỵnạn cộng sản và s/v du học .
Trong thời gian tới nếu có những thông tin từ các s/v trong trường về cuộc bấu cử BCH của hội S/V V/N Sanjose City College chúng ta sẽcó mặt để hổ trợ cho các em .
San Jose ngày 29/4/2010
Hoàng Thưởng LL/SQTĐ/QLVNCH tường trình từ San Jose

CẦN PHẢI AM TƯỜNG
Sao vẫn cứ hận thù VIỆT CỘNG?


Ngày 30-12-2009, giờ 02:24
“Chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt hơn ba mươi năm, sao (bên thua) vẫn cứ hận thù?”“Chiến tranh đã kết thúc từ bao nhiêu năm nay rồi, đã đến lúc (hai bên) chịu hòa giải chưa?”Những câu hỏi này đã được nghe nhiều lần, nhất là từ khi bang giao giữa hai nước Việt-Mỹ được cải thiện, mặc dầu vậy cho đến ngày hôm nay vẫn chưa có được câu trả lời rốt ráo.Trả lời một cách vắn tắt thì không hài lòng, nhưng nếu chỉ có một phút để phát biểu thì xin được ngắn gọn như sau:1. Chiến tranh Việt Nam của người Mỹ đã chấm dứt nhưng chiến tranh Việt Nam của người Việt Nam thì chưa, và vì bản chất của hai cuộc chiến hoàn toàn khác nhau cho nên phản ứng hận thù hay hòa giải của những người liên hệ cũng khác nhau.2. Ðối với một quốc gia bị phân hóa trầm trọng bởi chiến tranh thì Hòa Giải phải là việc làm đầu tiên của kẻ thắng để bảo tồn nguyên khí và sức mạnh dân tộc. Hòa giải hay không là toàn quyền của kẻ thắng. Người thua mà đòi phải có hòa giải là không biết mình biết người…3. Ở Việt Nam đã không có Hòa Giải chỉ vì kẻ thắng là những người cộng sản cực đoan đầy kiêu hãnh và tham vọng, đã quyết tâm áp dụng chủ nghĩa Cộng Sản với Ðấu Tranh Giai Cấp mà bản chất là Phân Biệt Kì Thị để cai trị. Hòa giải trong bối cảnh này là một ý niệm đi ngược lại với chính sách cai trị của kẻ thắng. Một cuộc Hòa Giải đúng nghĩa, là một công bằng xã hội cho người thua lẫn kẻ thắng, vì thế đã và sẽ không bao giờ xẩy ra.4. Cho đến ngày hôm nay, 35 năm sau cuộc tàn chinh chiến, vấn đề hòa giải giữa người thua và kẻ thắng đã trở nên lỗi thời và vô nghĩa. Hận thù đã không phải là hậu quả của không có hòa giải giữa đôi bên. Hận thù đây chính là hậu quả của tất cả những gì mà đảng CS đã và đang làm cho cả một dân tộc. Câu hỏi đúng ra phải là Cộng Sản đã làm gì từ bao nhiêu năm nay?

Sao vẫn cứ hận thù?Hai cuộc “Chiến tranh Việt Nam”Ðối với người Mỹ, Chiến Tranh Việt Nam là một cuộc chiến tranh trực diện giữa Mỹ và Cộng Sản Bắc Việt và là một điểm nóng của cuộc Chiến Tranh Lạnh giữa Mỹ và Liên Xô. Một tên gọi khác chính xác hơn cho cuộc chiến này là “Chiến Tranh VN của Người Mỹ” và đúng là nó đã chấm dứt cách đây 35 năm. Người Mỹ đã hăm hở tham chiến trong những năm 1964-1969 rồi từ từ rút quân. Người lính Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam ngày 30/4/1975 khi Saigon đang sụp đổ trước sự tấn công của quân thù. Năm 1995 quan hệ bang giao giữa hai nước dược tái lập, hận thù và hòa giải không còn là điều bận tâm giữa hai kẻ cựu thù.Ðối với người Việt,”Chiến tranh VN Của Người Mỹ” chỉ là một phần của cuộc xung đột kéo dài giữa Người-VN-Cộng-Sản và Người-VN-Không-Cộng-Sản, đây chính là cuộc “Chiến Tranh VN của Người Việt Nam”.Cuộc xung đột dai dẳng và đầy bạo động này đã có nguồn gốc và manh nha rất sớm từ 1930 là năm Hồ Chí Minh thành lập Ðảng Cộng Sản Việt Nam trong kế hoạch xâm lăng toàn cầu của CS Liên Xô. Mục đích tối hậu của Ðảng này là thống trị nước Việt Nam bằng một triều đại mới theo kiểu độc tài cộng sản. Muốn thế, bằng mọi cách HCM phải làm cho bằng được ba việc là 1/ đuổi được thực dân Pháp, 2/ chấm dứt vương triều nhà Nguyễn và 3/ tiêu diệt những người Việt bất đồng chính kiến. Người CSVN với tham vọng một quyền lực tuyệt đối đã là nguyên nhân của mọi biến động tang thương nhất trong lịch sử Việt Nam hiện đại.Theo thứ tự thời gian, “Cuộc Chiến VN của Người VN” có thể được chia ra làm 3 giai đoạn; 1930-1954, giai đoạn tiềm ẩn dưới thời Pháp thuộc; 1954-1975, giai đoạn công khai khi người Mỹ can thiệp, và kể từ 1975 trở di là cuộc chiến chính trị của Người Việt Tị Nạn Hải Ngoại bắt tay với Người Việt Dân Chủ Trong Nước để tranh đấu cho tự do và nhân quyền chống lại độc tài Cộng Sản.Cộng-Sản và Không-Cộng-SảnSự xuất hiện của Ðảng Cộng Sản đã chia lực lượng chính trị VN ra làm hai khối, CS và Không-CS.

Và chính vì khối Cộng Sản chủ trương phải tiêu diệt tất cả các người bất đồng chính kiến để sửa soạn cho việc chiếm đoạt chính quyền sau này mà hai khối đã trở thành hai kẻ tử thù.Khối CS, còn gọi là Quốc Tế CS, rất có tổ chức và giỏi kế hoạch, các thủ lãnh của khối này được huấn luyện và chỉ đạo bởi Liên Sô và Trung Cộng, sẵn lòng giết người để đoạt mục đích. Châm ngôn của khối này là “cứu cánh biện minh cho phương tiện.”Khối Không-CS, còn gọi là Quốc Gia Không-CS, thật ra đã hiện diện trên chính trường VN từ 1847 là năm đầu tiên người Pháp tấn công VN. Vì bản chất phức tạp, khối này về tổ chức thì không thuần nhất còn về chính trị thì ngây thơ. Mục đích đấu tranh của khối này là để giành lại chủ quyền quốc gia trong tay thực dân Pháp chứ không phải là để độc quyền cai trị đất nước.Các thành phần của khối này bao gồm vị vua cuối cùng của triều Nguyễn là Bảo Ðại và nội các của ông, tất cả các nhóm vũ trang chống Pháp dưới những danh nghĩa khác nhau, và tất cả những Trí Thức Tư Sản đang cố gắng thay đổi vận mệnh dân tộc bằng giáo dục và chính trị bất bạo động. Các vị lãnh đạo của khối này thường có chủ trương hợp tác hay hòa hoãn với nhau dễ cùng chống Pháp. Một cách ngây thơ họ đã hợp tác ngay cả với kẻ đang tìm mọi cách để giết mình là những người Cộng Sản! Châm ngôn của khối này là“không thành công thì thành nhân”.Bản chất tàn ác của chủ nghĩa CS đã tạo ra một tình trạng chiến tranh với biết bao tử vong xung đột. Người giết người và bị người giết ở mọi nơi mọi lúc. Chủ trương sắt máu của Cộng Sản không phải chỉ để tiêu diệt các dối thủ chính trị đương thời (khi chưa nắm chính quyền) mà còn được áp dụng để hành hạ và tàn sát nhân dân vô tội (sau khi đã nắm được chính quyền) nhằm triệt hạ tận gốc rễ mọi mầm mống chống đối trong tương lai. Sự viện dẫn cứu cánh là các ảo tưởng đẹp đẽ của chủ nghĩa để biện minh cho phương tiện là các hành vi cướp của giết người đã là ngón sở trường của Cộng Sản từ khi lập đảng cho đến ngày hôm nay.Công Sản và “Hòa Giải”Những xung đột bạo động giữa hai khối người Việt càng ngày càng gia tăng trong khoảng 1930 đến 1975. Ngày cuối tháng tư 1975, người CS đạt được muc đích, họ đã thắng trận và thống trị cả hai miền đất nước, triều đại mới của những người cộng sản đã được thành lập.

Trái với những gì mà họ nói về Hòa Giải Dân Tộc, việc đầu tiên mà các thủ lãnh CS đã làm là một cuộc trả thù thâm hiểm và tàn độc.Tất cả mọi người miền Nam đều có tội, đặc biệt là tất cả những ai đã trực tiếp tham gia vào cuộc chiến đều phải bị trừng phạt nặng nề. Nếu họ đã chết, mồ mả của họ sẽ bị xâm phạm để linh hồn không được an nghỉ. Nếu họ vẫn còn sống sau nhiều năm tù khổ sai cải tạo thì tội chết đã xong nhưng tội sống vẫn còn. Ngoài việc phải kéo dài cuộc sống tối tăm tận đáy xã hội, họ còn phải nén lòng nhìn cảnh đám con cái vô tội bị kì thị không ngóc đầu lên được để mà thấm thía cho cái đau cái nhục của những người thua trận.Còn đối với toàn miền Nam thì CS đã có chủ trương: san bằng xã hội bằng cách đổi tiền và đánh tư sản. Thực chất đây là một cuộc cướp đoạt tiền bạc và tài sản của toàn bộ nhân dân miền nam một cách có hệ thống. Người dân miền nam dược bần cùng hóa trong một sớm một chiều. Ðảng và nhà nước gọi đó là Xóa Bỏ Giai Cấp và Công Bằng Xã Hội. Và đây mới chỉ là bước đầu của cuộc Cách Mạng Vô Sản, một mô hình cách mạng đẫm máu kiểu Liên Xô và Trung Cộng đã giết chết hàng trăm triệu người vô tội trên toàn thế giới.

Trả Thù Chiến Tranh và bần cùng hóa xã hội là hai đòn thù của CS Hà Nội đánh người miền Nam trong những năm 1975-86 đã tạo ra một thảm cảnh chưa từng có trong lịch sử. Hàng triệu người miền Nam liều chết vượt biển bỏ nước ra đi, họ là những Thuyền Nhân mà chỉ có hơn một nửa sống sót đến được bờ bên kia. Các thủ lãnh Hà Nội đã thóa mạ họ là những kẻ phản quốc, ăn mày, đĩ điếm v.v… Còn cuộc Cách Mạng Vô Sản, tiếng là để nâng cao sản xuất thì ngược lại đã gây ra đói kém triền miên, người dân đã phải ăn thực phẩm của gia súc, lại thêm một sự kiện nữa chưa hề có trong lịch sử miền Nam.Hậu quả của trận đòn thù này là một thảm kịch: Tổ Quốc Việt Nam xinh đẹp với Saigon là “Hòn Ngọc Viễn Ðông” đã biến thành một trong những quốc gia nghèo đói nhất thế giới. Năm 1986, trước áp lực của một sụp đổ kinh tế không có cơ cứu vãn, Hà Nội bị buộc phải xét lại toàn bộ kế hoạch phát triển của mình và đã chọn cách Mở Cửa Từ Từ cho Kinh Tế Thị Trường nhưng tuyệt đối không nới lỏng gọng kìm Chuyên Chính Vô Sản.Người Việt tỵ nạn và Hà NộiCùng trong khoảng thời gian này, những người tỵ nạn Việt Nam, do những cố gắng vượt bực của từng cá nhân trên vùng đất mới đã thay đổi được hiện trạng của chính mình. Họ đã sống quây quần với nhau thành những Cộng Ðồng VN-Không-CS lớn mạnh tại nhiều nơi trên thế giới, nhất là ở Mỹ.Từ ngày Hà Nội mở cửa, họ đã trở về quê cũ thăm gia đình và bạn bè, đem theo nhiều tỷ Mỹ kim mỗi năm. Làm như vậy, một cách trực tiếp, họ đã cải thiện sự nghèo đói của đám đông cùng khổ trong nước, trong đó có gia đình bà con của họ, nhưng với cái giá phải trả là đã làm giầu cho đám Cộng Sản tham nhũng và vô tình đã gián tiếp củng cố cho chính cái chế độ tàn ác mà họ đang muốn thay đổi này.

Hà Nội rất thích tiền bạc và tài sản của người tỵ nạn, coi đây là nguồn tài nguyên béo bở để khai thác nhưng hiển nhiên là không tin tưởng và có cảm tình gì với những người này. Hà Nội tích cực moi tiền của Việt kiều bằng mọi cách như chiêu dụ về nước làm ăn, du lịch, buôn bán, từ thiện v.v… nhưng Hà Nội cũng biết rằng Dân Chủ, Tự Do, Nhân Quyền và Tôn Giáo cũng theo đường này mà về nước vì thế tiền thì thích lấy nhưng lòng thì rất úy kị. Hà Nội, bằng mọi cách, muốn kiểm soát và thao túng những cộng đồng tỵ nạn này từ gốc rễ.Hãy nghĩ về diều đó: có một Ðảng Cộng Sản của một tiểu quốc ở Ðông Dương đang đặt kế hoạch để kiểm soát hàng triệu công dân Mỹ trước đây từng là nạn nhân của họ, ngay trên đất Mỹ. Nghe thì khôi hài đấy nhưng đó là sự thật mà đảng CSVN đang quyết tâm thực hiện. Cái khó khăn lớn nhất của Hà Nội là không sử dụng được bạo lực trong kế hoạch này. Công an, nhà tù và đe dọa bẩn thỉu chỉ công hiệu ở trong nước. Ở ngoài nước, các thủ lãnh Hà Nội đành phải tạm thời thu lại nanh vuốt, đổi giọng kêu gọi “đối thoại” và “hòa giải”.Và khi mà CS Hà Nội phải đổi giọng đóng kịch thì chuyện lạ xẩy ra, những kẻ phản quốc, ăn mày, đĩ điếm ba mươi năm trước nay bỗng nhiên biến thành anh chị em, những khúc ruột sa nghìn dậm và ghê hơn nữa, thành Việt kiều yêu nước. Những danh từ sáo rỗng này thật ra đã khuấy động cái ký ức cô đọng về sự tàn ác của CS trong những năm sau cuộc chiến càng khiến cho người Việt tỵ nạn khó lòng quên đi và bỏ qua mọi chuyện.Người Việt Nam hải ngoại đã quyết tâm chống lại tham vọng thống trị của Hà Nội với cường độ mạnh mẽ bội phần hơn là Hà Nội đã tưởng. Người Việt Nam hải ngoại đang phất lá cờ vàng lịch sử khắp mọi nơi trên thế giới để phản đối các thủ lãnh Hà Nội với cái đảng CS tham nhũng và tàn ác.

Nhưng còn hơn thế nữa, Người Việt Nam hải ngoại muốn đối chất cặn kẽ với Ðảng Cộng Sản
(1) về việc dâng đất và biển của tổ quốc cho ngoại bang,
(2) về trách nhiệm trong việc suy đồi tàn tệ của môi trường sống, văn-hóa, xã-hội và
(3) về sự vi phạm trầm trọng tự do và nhân quyền của người dân trong nước.Vết thương không lànhHơn ba mươi năm đã trôi qua, người Việt tỵ nạn đã YÊN ổn trên vùng đất mới.

Ðời sống của họ trông bề ngoài có vẻ bình thường tốt đẹp nhưng chính họ biết rằng họ không được như vậy. Tận đáy sâu của bóng tối ký ức, những gì còn lại của một tổ-quốc-đánh-mất và sự hiện diện lì lợm của một chế độ độc- tài lỗi-thời tham-tàn vô-trách-nhiệm vẫn tiếp tục gây ám ảnh đau xót.

Với thời gian, vết thương của cuộc chiến tuy đã khép nhưng không lành, nó mở vào bên trong!
Los Angeles,
Tháng Tư 2010
(Không thấy tên Tác Giả)


Thursday, April 29, 2010

NHÀ VĂN LÊ NAM LẠI ÐOẠT THÊM GIẢI THƯỞNG TRUYỆN NGẮN

***Mt68: Ai cũng vui mừng, nhưng cũng có người quan ngại bởi vì LÊ NAM nổi tiếng thì VC không thể nào không dòm ngó. Nếu chúng tìm cách khai thác ngòi bút quá trẻ của LÊ NAM như hơi hướng mà Lê Nam đã hư cấu vụ MỸ LAI thì chẳng có gì lợi ích cho người Quốc Gia cả.
Hy vọng Phụ Huynh của Lê Nam sẽ luôn có ý kiến lưu ý, nhắc nhở gì về âm mưu thâm đọc của VC được chút nào chăng ?!!!/- Mt68

Tin Hoa Thịnh Ðốn - Nhà văn người Mỹ Edward Jones và nhà văn Úc gốc Việt Lê Nam là hai người mới nhất được trao tặng giải thưởng Malamud của Văn Bút Hoa Kỳ về các truyện ngắn, theo nhóm tổ chức giải thưởng này cho biết vào ngày hôm qua. Hai tác giả truyện ngắn sẽ nhận được mỗi người 2500 Mỹ kim, vì sự đóng góp của họ cho thể tài truyện ngắn. Nhà văn Jones từng đoạt giải thưởng Pulitzer cho cuốn tiểu thuyết của ông với tựa đề là The Known World, lấy bối cảnh thời trước cuộc Nội Chiến Hoa Kỳ. Ông cũng là tác giả của hai tuyển tập truyện ngắn được đánh giá cao là Lost in the City và All Aunt Hagars Children, viết về tầng lớp lao động da đen.
Nhà văn Lê Nam là một luật sư chuyển qua làm văn sĩ, bắt đầu nổi tiếng trên thế giới với tập truyện ngắn The Boat, đoạt được nhiều giải thưởng trong năm 2009. Ông sinh tại Rạch Giá, Kiên Giang, thân phụ ông là một quân nhân trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa từng bị đi tù cải tạo. Gia đình vượt biên bằng đường biển sang Mã Lai, rồi đến định cư tại Úc. Ðề tài thuyền nhân là một nguồn cảm hứng lớn trong tác phẩm của ông.(SBTN)
Posted on 29 Apr 2010

XIN NHẮN CHUYỂN ĐẾN "MY LIÊN" -
Tác giả Bài Tường Thuật về ĐÊM NGHE NHẠC...

***Mt68: Anh Sáu Trắng ơi !
Chúng tôi đăng bài mà KHÔNG CÓ LỜI BÌNH LUẬN , là vì sơ sót không đọc kỹ để thấy cái câu trích bên dưới.

Chính cái người "BÁC ĐỒ" nói ra câu nầy mới là kẻ KHỐN NẠN-MỌI RỢ. Chứ không phải dân mình khi xưa hay khán giả đêm văn nghệ đó đâu.

Bởi vì xét ra NHỮNG NGƯỜI VN KHI XƯA , trong số đó nhứt định phải có TIÊN TỔ, ÔNG BÀ, CHA MẸ của BÁC ĐỒ có đúng không anh Sáu ?!!

Còn chuyện MY LIÊN thuật lại câu nói của "BÁC ĐỒ" hay bịa chuyện thì trách nhiệm hoàn toàn ở tác giả. Chúng tôi không thể nào suy đoán gì khác hơn.

RIÊNG KHÁNH LY đã như vậy mà còn lôi nhạc TRỊNH CÔN SƠN ra hát thì KHÔNG CÓ GÌ NGU và ĐẦN hơn !!! Cám ơn những nhận xét CHÍNH XÁC của anh Sáu Trắng.

Lý do chúng tôi chọn đăng là vì phần mô tả SỰ PHẢN ĐỐI TÍCH CỰC của khán giả, đã nói lên ý chí và quyết tâm chống cộng của đồng bào tỵ nạn chúng ta, lúc nào cũng sẵn sàng vạch trần NHỮNG ÂM MƯU TUYÊN TRUYỀN XẢO TRÁ CỦA BỌN NGƯỜI ĂN CƠM TỴ NẠN MÀ THỜ MA VIỆT CỘNG .

Từ xa chúng tôi không tin là KIỀU CHINH và KHÁNH LY đã vô tình , không biết qua cuốn phim sẽ chiếu trong đêm văn nghệ đó !!! Bây giờ chỉ có nước đổ lỗi cho VÔ TÌNH và XIN LỖI như KHÁNH LY là qua mặt được mọi người tỵ nạn chúng ta hay sao ???!!!./-
Mt68.

Trích y từ bài tường thuật của My Liên:

["Bác Đồ đã nói:
"Dân VN mình ngày xưa trông như mọi. Ai đời đầu thì chít khăn, chân thì chân trần. Nếu nghèo không có tiền mua giầy, dép thì cứ lấy khăn trên đầu bó chân lại đi chắc chắn sẽ đỡ đau chân hơn. Mấy thằng Tây cũng đểu thật, thấy dân VN sống theo kiểu mọi đi chân đất như thế mà vẫn làm ngơ, chẳng nói lên một điều."Qua buổi trình diễn nhạc thính phòng Chủ Đề Du Mục tôi mới thấy dân Việt Nam ngày nay tuy đã văn minh hơn, không ai còn chít khăn trên đầu đi chân đất như mọi đời xưa nữa, nhưng cốt lõi mọi rợ từ ngàn năm trước vẫn chưa bỏ được. Câu chuyện Đêm Nghe Nhạc Thính Phòng đến đây cũng chấm dứt một cách rất mọi rợ, ngang xương. Xin chào các bạn nhé. "]

saunguyen66@gmail.com>Subject: Fwd: Fw: [cvaxagan] ĐÊM NGHE NHẠC "THE FRIENDS OF OUR ENEMY" Do KHÁNH LY và KIỀU CHINH HỖ TRỢ.

To: Date: Tuesday, April 27, 2010, 11:56 PM

Kính gởi LS Le Duy San,
Tôi đã nhận được (từ một người bạn) bài viết của tác giả My Lien về đêm văn nghệ "The Friends Of Our Enemy" do LS chuyển. Xin cám ơn LS.Toàn bài viết không có gì đáng chê trách; tuy nhiên, trong phần kết luận (highlight màu vàng), tác giả (My Lien) đã dùng hai tiếng "mọi rợ" để gán ghép cho hành động của những người tham dự đêm văn nghệ đó thì tôi thấy quá nặng!

Sự phản ứng đúng lúc của khán giả khi xem bộ phim "Shadow Man" là hợp lý, và cũng để chứng tỏ cho những người còn mơ về "thiên đường cộng sản" thấy rằng chúng ta, ở hải ngoại, lúc nào cũng mang "căn cước tỵ nạn CS" theo bên mình. Hành động phản đối đó không thể được xem là "mọi rợ" như tác giả My Lien đã "phán" một cách quá chủ quan và vội vàng...!!!

- Vậy My Lien là ai? Có lẽ LS Le Duy San biết rõ. Tôi không tham dự đêm văn nghệ hôm đó, nay được đọc bài tường thuật của My Lien, tôi rất vui, nhưng niềm vui chợt "tắt ngúm" ngay sau khi đọc phần kết luận như đã trình bày trên đây. Rất tiếc tôi không có email của tác giả My Lien, nên hy vọng LS San sẽ có vài lời với tác giả My Lien để cho những người mang "căn cước tỵ nạn" khỏi phải đau lòng khi đang sống trong một xã hội dân chủ và văn minh nhứt thế giới mà bị một người "chê" là "MỌI RỢ"...!!!
Kính chào Luật Sư,

Nguyễn Văn Sáu
(CSV/QGHC)

CHIẾN DỊCH BÔNG HỒNG ĐỎ HẢI NGOẠI CỦA VIỆT CỘNG

Lời nói đầu:
Nhiều người Việt miền Bắc di cư năm 1954 đã thuật lại cho dân miền Nam biết về những thủ đoạn thâm độc của CS, nhưng có một số không tin; đặc biệt là vài người trong giới trí thức khoa bản, họ tin vào lòng chân thành của CS để "hoà hợp hoà giải". Khi miền Nam bị rơi vào tay CS thì một số bị vào tù hoặc phải cao bay xa chạy; số còn lại vẫn còn tin nơi "thực tâm hoà giải giữa những người Việt với nhau", chỉ trích chính quyền CS như họ đã từng làm dưới thời "khôngđân-chủ" của Thiê.u-Kỳ. Đối với Đảng, việc nầy không thể tha thứ được; người của Đảng thì được lệnh chỉ trích đảng, nhưng người không thuộc guồng máy tuyên truyền của đảng thì sẽ như cá cắn câu: CS đã từ từ khớp miệng họ lại, đóng cửa các tờ báo như Tin Sáng của tên gian Ngô Công Đức, Tiếng Chuông, Đối Diện của "linh mục thiên tả" Thanh Lãng và nhốt họ vào địa lao. Một thời gian sau khi được thả, họ lại rán nói vài câu trần tình đầy sự bất mãn (như linh mục tiến sĩ Chân Tín,được thả vào 12/5/93 và "cha" Nguyễn Ngọc Lan vào 1992). Sau đó, người ta không còn nghe họ nói gì nữạ Họ là những kẻ đặt lòng yêu nước thương nòi không đúng chỗ (chỉ trích chính phủ Quốc Gia, nhưng lại tin CS) và cuối cùng họ phải gánh hậu quả của việc không có lập trường vững chắc. Họ đinh ninh rằng có thể "cải hóa" CS dựa vào tình dân tộc, nghĩa đồng bào. Tuy nhiên họ đã bị phản bội vì không hiểu rõ người CS. Họ lầm lẫn vì cứ xem CSVN cũng là người VN thuần túy như họ. Sự thật không phải như vậy vì người CS ở đâu cũng thế; họ là những người của một hệ thống "đại đồng" và "quốc tế"; họ là đệ tử của Lê-nin. Lê-nin đã từng nói trong tập 2 và 3, cuốn VI của Lê-nin toàn tập như sau:
"Đối với kẻ thù (của gia cấp vô sản), khi cần phải hợp tác thì cứ hợp tác"
nhưng
"Người cộng sản không được tỏ ra ngại ngùng trước chuyện phản bội; kẻ nào chống lại sự phản bội tức là anh ta đã theo quan điểm tư sản chứ không phải quan điểm vô sản".
Đi sâu vào trong bài, ta sẽ thấy tại sao khó có thể cải hóa người CS được. Thật sự ngày nay, có lẽ ít có ai dám đi thử xem tư tưởng trên của Lê-nin kia ra sao.
Dân 2 miền Nam Bắc đã từng bị Đảng CS "chơi xỏ", không phải một mà nhiều lần. Một số khoe với các bạn miền Bắc vào sau 1975 rằng họ đâu còn sợ bị lừa nữa khi kinh qua các vụ đổi tiền và đánh tư sản. Nhưng các người nầy nói rằng, các anh đã lầm to, các anh chưa nếm đủ hết các màn xảo trá của CS Hà Nội đâu! Điều nầy có đúng không? Thời gian qua cho ta thấy là câu nói kia của các người miền Bắc rất đúng.
Vì sao người ta bị lừa mà vẫn lao đầu vào "lửa"? Bởi vì các màn lừa lọc đều khác nhau. Không lẽ một số rất ít trong chúng ta ngu muội tới mức độ chưa thấy rõ CS? Khi đã chạy trốn CS., bỏ quê hương, mồ mã tổ tiên, thân nhân và nhà cửa tức là ta đã thấy rõ chế độ đó như thế nào rồi. Đó là một sự lựa chọn có ý thức trong tự dọ Đã quyết định chối bỏ một chế độ để ra đi, tức là đã có thái độ chính trị rõ ràng được bày tỏ. Nay lại quay đầu về cùng với các tay "ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản" để hổ trợ chế độ độc tài bằng cách nầy hay cách khác; không có ý chí sắt đá tin vào lý tưởng mình đang theo đuổi. Về vấn đề nầy ta vẫn còn thua xa người CS. Đó phải chăng đây là một thái độ, một lập trường tư tưởng bất chính, phản phúc, phản bội với chính bản thân mình trước, và sau với đồng bào cùng ra đi với mình trên những chiếc thuyền mỏng manh?
Sự phản phúc thấy rõ nhất trong quá khứ là ở một thiểu số trong thành phần được may mắn đi du học nước ngoài trước 1975. Trong khi những người cùng lứa tuổi phải giải gió dầm sương, liều mình bảo vệ hậu phương, bảo vệ gia đình họ để họ an tâm đi học. Những người chiến sĩ kia chỉ mong người có may mắn hơn được học thành tài hầu báo đáp phần nào sự hy sinh kia, thì lại phản trắc và lưu manh, không biết đâu là chánh nghĩa, chạy đuôi theo bọn "bồ câu đỏ" tố khổ lại "đám cực đoan vàng" -- các người đang bảo vệ gia đình của min`h ở quê nhà. Rồi, theo sự ru ngũ của VC, đám "một dạ hai lònh" nầy đã nghe lịnh từ quan thầy CS, len lỏi vào trong các cơ quan quốc tế và nằm chờ cơ hội. Nay, chính những kẻ "ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản" đó lại chài người nhẹ dạ, chưa bao giờ biết CS là gì, để giúp CS.
Các kinh nghiệm từ xưa tới nay đốc thúc ta nhớ kỷ là nên có một lập trường dứt khoát; lập trường này không bao giờ sai lầm và không có gì lay chuyển nổi: không giúp CS bành trướng. Dù là CS Tàu hay CSVN, họ đều tàn bạo, xảo quyệt và khát máu; đặc biệt là CSVN, họ có thể được xem là tên đứng đầu trong thành tích xảo trá và hay bắt chước đàn anh nhất trong các nước CS trên thế giới xưa và naỵ Họ biết lúc nào đứng lên cũng như biết lúc nào nằm mẹp xuống. Họ vẫn không ngừng dòm ngó và suy xét làm sao chủ nghĩa kia được sinh tồn để lấn át đi những gì mà dân tộc ta xây đắp qua mấy ngàn năm đầy máu và nước mắt.


Chuyện gì đã xãy ra mấy năm trước đây chắc bây giờ không còn ai nhớ nữạ "Ôn cố nhi tri tân" vẫn là phương thế soi rọi cho người sau biết rõ mình đang làm gì, lợi và hại ra saỏ Bài "CHIẾN DỊCH HOA HỒNG ĐỎ HẢI NGOẠI CỦA CSVN" được đăng lên với mục đích đó. Số người bị vướn vào chủ nghĩa CS qua muôn tình huống thì rất nhiềụ Bọn họ có thể là triết gia, tiến sĩ, bác sĩ, kỹ sư, văn sĩ, họa sĩ, sinh viên, nông nhân, thợ thuyền,... Đa số nghe theo lời dụ dỗ của CS qua công tác gọi là TRÍ VẬN (công tác lừa dối quần chúng). Bọn họ cũng có thể là "vài" kinh tài cho VC; nhiều người trung gian chuyển tiền nầy được kết nạp kín đáo vào Hội Việt Kiều Yêu Nước với giấy chứng nhận, giấy giới thiệu của giới chức VC ở hải ngoại cấp cho để khi về VN được giúp đỡ dễ dàng. Từ chỗ ham lợi vào Hội Việt Kiều Yêu Nước để buôn bán với VC, vừa có lợi tiền bạc, lại được sự nâng đỡ của các đồng chí khi về thăm quê hương, đi tham quan,...Rồi từ đó tính đến chuyện móc nối tuyên truyền, dụ giỗ gia nhập Đảng, làm cán bộ nằm vùng ở hải ngoại, chỉ khoảng cách...một gang tay! Những người này được CS nhận định và lợi dụng như thế nào, ta sẽ tìm hiểu qua bài "Chiến dịch...".
Điều đáng để ý nhất là một số người bị chài mà xưa kia chính gia đình họ hay chính bản thân họ đã bị CS tù đàỵ Những người nầy đã được CS giảng giải về "lòng yêu nước kiểu CS" hay nhận vài sự thi ân liền quay về làm việc cho CS (quay về với "dân tộc" là quay về với đảng). Một trong những thí dụ nầy là trưòng hợp của Hà Văn Lâu.
Cán bộ CS được đào luyện về chính trị (nhồi sọ) và lòng hận thù giai cấp liên tục từ khi còn ở nhà trường, và cứ như thế, ngày nầy qua tháng nọ, họ trở thành những kẻ xảo quyệt, chuyên dùng mưu mô để làm sao có lợi cho Đảng. Với sự chuẩn bị như thế và với lối suy nghĩ một chiều, họ sẵn sàng hy sinh mù quán cho "lý tưởng CS" dù có đi ngược với quyền lợi của quần chúng. Họ phải làm đủ cách để con mồi vào rọ, nhất là những con mồi chưa bao giờ sống trong thế giới của họ.
Ta tự đặt thêm câu hỏi tại sao CS lại có thể lừa được quá nhiều người, không phải một lần mà rất nhiều lần? Câu trả lời có thể là CS là những tay tuyên truyền và nói dối chuyên nghiệp; họ đặc biệt giỏi ở chỗ khơi dậy lòng yêu nước của người khác để lợi du.ng. Từ VN, họ đã gởi nhân viên đi khắp nơi và, chỉ trong một khoảng thời gian, họ đã gôm tụ được một số "cảm tình viên gốc...ngụy, nhứt là giới trẻ non nớt và tự phụ", không vững ý chí và sáng suốt. Những người nầy, đã được giới thiệu đọc những sách phản chiến, được "sinh hoạt" , "giúp đỡ", "bồi dưỡng" và kết cuộc họ đã làm việc không công cho CS.
Một phương pháp đáng để ý khác nữa là "dùng gậy ông đập lưng ông". Phương pháp nầy dược chính thức áp dụng bởi CS. Gần đây và rõ ràng nhất là vụ CS dùng nó để các người theo đạo Phật tố lẫn nhau. Sư và ni cô "quốc doanh", phối hợp với sư và ni cô "công an" bắt đầu đè bẹp những người cùng theo một lý tưởng tôn giáo với mình. Bên công giáo cũng thế, xuyên qua cánh tay của Đảng, Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam (the Vietnam Fatherland Front) đã dùng linh mục quốc doanh Huỳnh Công Minh để chờ tiếm quyền của Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình (vì vậy CS không muốn Vatican tấn phong một vị khác) hoặc tên linh mục "có vợ" Phan Khắc Từ nổi tiếng "linh mục hốt rác" trước 1975 ngày xưa để dò xét sinh hoạt công giáo cho Đảng ở Saigon.
Ta hãy đọc kỹ một trong những cách chài người của CS để đừng bao giờ khinh thường họ cả. Ngoài ra, hãy để ý tới vài nhóm phản chiến được gài trong "religious groups"; chính những nhóm nầy đã hổ trợ cho VC xâm chiếm miền Nam và gây bao đổ vỡ tan thương cho bao gia đình .


Chúng ta sẽ thấy trong tương lai những hiện tượng xảy ra y như những gì mà người ta đã biết về người CS khi họ dùng các phương pháp nầy để hại bao thế hê đi trước. Thực vậy, ở mỗi thế hệ, một số người đã bị sa vào lưới trong đó chỉ có rất ít, cả già lẫn trẻ, được may mắn thoát khỏi chủ thuyết mà thôị Cứ như thế bánh xe trớ trêu của con tạo cứ xoay dần và nghiền nát những kẻ ít may mắn đó.
Ngạn ngữ Mông Cổ có câu:
"Không phải tất cả những người cười với anh đều là bạn, cũng như không phải tất cả những người làm anh bực mình đều là kẻ thù".
Cho tới 1988, Hà Nội thường không ngớt gọi tập thể người Việt tỵ nạn chính trị tại hải ngoại là những phần tử "gian manh, lười biếng", không chịu ở lại "xây dựng đất nước" mà chạy theo "bơ thừa, sữa cặn của đế quốc". Một mặt, CS gây biết bao hãi hùng cho dân và làm họ phải bỏ chạy, còn mặt khác thì đánh tiếng cho người Tây phương biết là đám người Việt kia chỉ là những kẻ "hèn nhát và ăn bám" để người ngoại quốc không cho họ có chỗ dung thân: CS đã đưa họ vào thế lưỡng đầu thọ đ
i.ch. Sau đó, CS lại nói khác: người Việt tị nạn cũng là "những Việt kiều yêu nước" nếu họ đem tiền về giúp kẻ đuổi họ đi hoặc hãy hợp tác với họ Một vài Việt gian đã làm được việc này: gần đây ở Little Saigon, Phạm Đăng Long Cơ (bác sĩ) và Dean Lâm -- anh của Tony Lâm (Lâm Quang, người bán bún ốc mười mấy năm được bầu làm nghị viên thành phố Westminster, Orange County, California; thời hạn 2 năm) -- đã đưa Lê Văn Bằng (đại sứ VC tại Liên Hiệp Quốc) và 2 tướng VC dạo chơi và ăn uống thoải mái, rồi cùng thăm viếng những cơ sở làm ăn của người Việt ở Wesminster.
Khi nhìn lại quá khứ, chúng ta mới hiểu rõ người CS thật giỏi tài nói lươn lẹo; họ ỷ "có đất và dân" nắm trong tay nên dằn dặt cho đám "phản tặc" biết tay.
Thật vậy, khi vầy khi khác có chi lạ và đó cũng là một trong các thói quen của CS: họ chỉ hợp tác, hữu nghị, khi lâm vào thế cần sự giúp đỡ và xuôi chiều để tồn tạị Xưa kia trong thời chiến tranh với Pháp, Hồ Chí Minh có nói câu:
"Khi cần thì cờ tam tài (cờ của Pháp) cũng treo".
Câu này suy rộng ra là khi Đảng đang ở thế nguy hiểm thì nếu cần bán nước cho Pháp, qui lụy cho Nga - Tàu, bắt tay lại với "đế quốc" Mỹ thì không sao, miễn là Đảng được vững và tồn tạị Đó là tư tưởng Hồ Chí Minh mà CSVN hiện đang giữ gìn, nghiên cứu và áp dụng. Nhưng có một điều là "tư tưởng" nầy có khác gì các câu nói của Lê-nin ở trên?
Vào khoảng đầu năm 1988, một tờ nhật báo ở Pháp mang tên Paris Soir có đề cập đến một tổ chức hoạt động KINH TÀI và PHÁ RỐI của CSVN tại các quốc gia hải ngoại -- nơi có nhiều người VN tỵ nạn -- và được mệnh danh là "Hoa Hồng Đỏ". Ngoài ra chiến dịch này còn mang một cái tên khác là chiến dịch "Mạng Nhện". Có 2 cán bộ CS đặc trách chỉ huy và vận động cho chiến dịch trên là Huỳnh Trung Đồng và Lê Quang Sơn. Trước đây tổ chức này đã có cơ quan truyền thông chính thức là các tờ báo Cái Đình Làng, Thái Bình, Việt Kiều Yêu Nước, Hồn Nước và những tờ báo thân hữu của họ là Mằm Non, Thanh Niên Hành Động,...Mục đích là tuyên truyền cho CS nhắm vào 2 chủ điểm sau:
1. Kinh tài: CS cho xây dựng các cơ sở kinh tài hải ngoại (một số đã thực sự hoạt động liên tục kể từ 1976), trong dịch vụ buôn bán, gửi quà, tiền và vật dụng về VN, kể cả các dịch vụ đưa người vượt biên, xin thủ tục ODP (Operation Departure Program). Họ cũng liên hệ đến các tổ chức lo các chuyến về thăm VN.
2. Chánh trị: Nhằm phá rối cộng đồng tỵ nạn, gây xáo trộn mọi sinh hoạt cộng đồng, nhất là sinh hoạt chính trị.


Sau đây là một bài báo của Hoàng Văn Trác trên "Ngày nay", số 160, 1/6/1988 nói kỹ hơn về vấn đề nàỵ Sống trong những thể chế dân chủ, chúng ta có quyền tin hay không tin vào bài nầỵ Tuy nhiên, đây cũng là một tài liệu để ta suy ngẫm.
Sau khi thi hành bản án tử hình ĐINH BÁ THI tại Phan Thiết, Bộ Chính trị đảng CSVN tại Hà Nội đưa tên đại tá có nhiều kinh nghiệm về tình báo và khuynh đảo là HÀ VĂN LÂU, sang nắm trọn guồng máy tình báo nước ngoài tại Liên-Hiê.p-Quốc. Đi theo phụ tá cho Hà Văn Lâu là Nguyễn Ngọc Dung, nữ Trung tá, nguyên chỉ huy trưởng tình báo và phản gián quân khu 7 của Trung tướng CS Trần Văn Trà.
Mới đây, Hà Văn Lâu còn được tăng cường thêm một tình báo cỡ gộc nữa, đó là Phạm Ngọc Ân.
Bộ máy tình báo và khuynh đảo của Hà Văn Lâu được đặt trực tiếp dưới quyền điều khiển của Bộ Chính trị tại Hà Nội, thay vì thuộc bộ ngoại giao của họ.
Không cần phải dầy công tìm hiểu, mà chỉ cần căn cứ vào yếu tố trực thuộc Đảng, người ta cũng có thể lượng định được vai trò quan trọng mà Trung Ương Chính Trị Bộ tại Hà Nội sắp đặt cho bộ máy nầy, nhằm cũng cố địa vị của họ đối với thế giới bên ngoài và triệt hạ đối thủ là khối hơn một triệu người Việt tị nạn khắp thế giới, đặc biệt tại Mỹ. Vẫn biết rằng, đối với CS, thì Nhà nước với Đảng là một. Nhưng khi một cơ quan được đặt trực tiếp với Đảng (tức Trung ương Chính trị bộ), có nghĩa là chủ trương, đường lối, nội dung kế hoạch của cơ quan đó sẽ cứng rắn hơn, sắt máu hơn, và vì thế phải được giao cho những cán bộ từng chứng tỏ "Trung với Đảng, hiếu với dân". Đảng lại có kỹ luật của Đảng, để một khi đi ra ngoài vòng kỹ luật đó, thì chỉ có lãnh mã tấu như Đinh Bá Thi, Trung tướng Nguyễn Bình đã lãnh.
Cho nên, việc Bộ Chính trị Hà Nội đặt guồng máy tình báo và khuynh đảo của Hà Văn Lâu trực thuộc Đảng, cho ta một nhận xét rất rõ ràng, về tầm mức quan trọng của họ nhằm vào hàng ngũ tị nạn chúng tạ Kế hoạch của họ được thực hiện từng bước, mỗi bước gọi là một cánh hồng. Trong bài nầy, ta hãy lượt qua những bước chính họ đã đi; đó là bốn bước căn bản, được gọi là Cánh Hồng 1,2,3 và 4.
A.- Cánh hồng 1: Kết hợp
Đinh Bá Thi, người CS có công nhất trong việc dành chiếc ghế đại diện cho CSVN tại Liên-Hiê.p-Quốc, và cũng là đại diện dầu tiên của CSVN tại diễn đàn quốc tế nầy, bị cơ quan phản gián FBI Mỹ bắt vào trưa ngày 31/1/1978 cùng với tên tay sai người Mỹ là Donald L. Humphrey (có vợ Việt) và TRƯƠNG ĐÌNH HÙNG (con trai luật sư Trương Đình Dzu), khi cả ba bị bắt quả tang đang ăn cắp tài liệu mật của Mỹ và bị Hà Nội giết tại Phan Thiết.
Khi Đinh Bá Thi chết, thì hệ thống tình báo và khuynh đảo của Hà Nội trong kế hoạch "Hoa Hồng Đỏ" đã thực hiện được bước đầu trong bốn bước của toàn bộ kế
hoa.ch. Bước đầu nầy là bước "Kêt Hợp" (Cánh hồng 1).
Cánh hồng 1 đã được Đinh Bá Thi và nhóm sinh viên Việt Nam du học do sinh viên Nguyễn Thái Bình là đầu (Nguyễn Thái Bình bị CIA bắn chết trên không phận biển Nam Hải khi tên nầy trở về VN năm 1969, một tên sinh viên khác lên thay Bình dường như là Ngô Bá Long), có nhiệm vụ kết hợp các cán bộ CS rải rác khắp nước Mỹ, mà vì lý do chính trị, họ đã phải phân tán và thu vào trong bóng tốị Ta còn nhớ những năm 1976-1978, hầu hết mọi gia đình VN tại Mỹ đều nhận được tờ báo THÁI BÌNH (là tên của sinh viên Nguyễn Thái Bình). Tờ Thái Bình được phát hành, vừa có mục đích tuyên truyền, vừa để kết hợp cán bộ qua đường giây PO Box.
Cũng như năm 1956, khi Hà Nội bắt đầu kế hoạch tập trung cán bộ nằm vùng khắp Nam VN, họ đã dùng nhiều hình thức, nhưng dấu hiệu rõ ràng nhất, mà chính quyền VNCH lúc đó không để ý, là cuốn phim "Mưa Rừng", do cán bộ CS nằm vùng Kim Chung thực hiện. Nội dung cuốn phim là một chuyện tình, như nội dung của bất cứ cuốn phim thường nào khác. Nhưng hình ảnh cuối cùng được chiếu trên màn bạc, là hình một đóa hoa hồng đỏ tươi, với một con bướm vàng bay lượn nhiều vòng, và cuối cùng đậu lại ngay giữa bông hồng. Màu đỏ của hoa hồng tượng trưng cho nền cờ đỏ. Còn bướm vàng tượng trưng cho ngôi sao vàng. Hình ảnh cuối cùng của cuốn phim nầy, là một lệnh tập trung cho cán bộ nằm vùng toàn quốc. Tờ Thái Bình sau đó thấy mất tăm, nhưng để thay thế, CS cho ra đời tờ CÁI ĐÌNH LÀNG, nhưng tờ nầy cũng thấy ngưng, sau khi người đứng đầu là Dương Trọng Lâm bị bắn chết.
Ngoài việc kết hợp cán bộ CSVN mà CS đã có sẵn, Đinh Bá Thi tìm đến những tay Mỹ phản chiến thứ nặng nhất, để phối hợp và yểm trợ, trong số nầy, hai người CS đáng tin tưởng hơn cả là Don Luce (tên ký giả đã tạo ra huyền thoại chuồng cọp Côn Sơn) và Jane Fonda đã dõng dạc đứng chửi Mỹ ngay tại Hà Nội:
"Nhân dân Mỹ và nhân dân yêu chuộng hoà bình khắp thế giới, hãy vùng lên, cùng với nhân dân yêu chuộng hoà bình tại VN, xây dựng một nền Hoà Bình trên phần đất nầỵ" (báo Nhân Dân, số 1485, ngày 28/4/1964).
Ngoài 2 người Mỹ nầy, CS làm danh sách những tay phản chiến mà họ tin tưởng vẫn còn ủng hộ họ, sau khi đã trực tiếp giúp họ qua chiến thắng 75. Trong số những người và tổ chức được Đinh Bá Thi kết hợp lại, đầu tiên phải nói đến hai hội đạo METHODIST và QUAKER, là hai hội đạo cực kỳ phản chiến đã từng đứng đầu tổ chức cuộc biểu tình lớn lao tại Central Park, Nữu Ước ngày 27/4/64, cuộc biểu tình nầy được mệnh danh là "Diễn hành chống chết" (March against Death). Những Coretta King (vợ muc sư King), Kennedy, McGovern cũng được bọn CSVN tiếp xúc và kết hợp.


Một thành phần khác cũng được lệnh kết hợp, là số cán bộ CS được Hà Nội gởi sang Mỹ qua ngã các đoàn vượt biên. Ta còn nhớ, mấy năm trước đây, những bộ mặt từng tung hô CS và hợp tác với họ trong cuộc chiến, như TRẦN NGỌC CHÂU, HOÀNG NGỌC GIÀU là những người ta không nghi ngờ gì cả, đã được Hà nội gởi sang đây để tiếp tục hoạt động cho ho.. Hàng trăm cán bộ khác không được nêu tên tuổi, nhưng cơ quan phản gián FBI đều biết rõ tung tích của ho.
Móc nối lại những thành phần từng hoạt động cho họ Liên lạc với những thành phần mới xâm nhập qua đường giây tị nạn. Củng cố thêm thành phần phản chiến cũ, CSVN coi như đã hoàn tất giai đoạn "Kết Hợp" tức "Cánh Hồng 1". Bước thực hiện kết hợp nầy, CSVN đặt ra như một bước căn bản, như tài liệu học tập của họ đã ghi:
"Thông suốt đường lối Đảng, nắm vững chỉ tiêu Cách Mạng, kết hợp nhịp nhàng giữa bạn và ta, bước 1 tiến vững vàng, để ta bước qua bước tiến 2 (Học tập số 2, 6/76).
***
B. Cánh hồng 2: Vòng tay
CS gọi giai đoạn nầy là "Vòng tay", nghĩa là tìm bạn khắp nơi, đứng về phía họ để yễm trợ họ, như họ đã làm trong cuộc chiến và họ đã thành công. Người tổ chức và cho phát động bước tiến 2 là HÀ VĂN LÂU, đại tá thâm niên và có nhiều kinh nghiệm nhất về khuynh đảo trong hàng ngũ cao cấp của CSVN.
Sở dĩ Hà Nội phải xét lại và củng cố thêm hàng ngũ bạn của họ, vì sau 1975, rất nhiều thành phần phản chiến Mỹ đã phản tỉnh, trong số đó, cay cú nhất cho Hà Nội là Joan Baez, người nữ ca sĩ nổi danh, cặp bài trùng của Jane Fonda, từng hết lời ca ngợi cộng sản Việt Nam, và coi Hồ Chí Minh như một "Washington Việt Nam".
Hà Nội cũng nhận định và đánh giá chính xác tiềm năng đấu tranh của khối người Việt Quốc gia hải ngoại, để thấy được rằng, khối Quốc gia nầy là một trợ lực chính trong nỗ lực của CS nhằm củng cố địa vị của họ trên bình diện quốc tế, nhất là đối với Mỹ, hy vọng cuối cùng để cứu vãn tình trạng kiệt quệ về kinh tế, và đôn đốc về chính trị của họ
Đưa vòng tay lớn ra để tìm thêm bạn, CSVN đã thấy rõ thế yếu của mình. Nhưng CS không tìm bạn theo đúng nghĩa của bạn, mà CS tìm bạn theo tiêu chuẩn mà họ gọi là TIÊU CHUẨN CÁCH MẠNG, và nhất là để đáp ứng nhu cầu giai đoạn. Ta thấy CS phân loại bạn mà họ muốn thu thập và tìm kiếm, ra hai loạị
1. Bạn lâu dài:
Gồm những thành phần mà quá trình hoạt động có thể chứng minh được lòng trung kiên đối với chế độ CS. Những đảng viên CS Mỹ, những thành phần phản chiến cũ còn giữ vững lập trường. Những Don Luce, Stanley Karnow, Michael McLean, Trần Tam Tĩnh,...là những thành phần được CS coi là đồng chí và là bạn lâu dài.
Chủ đích của CSVN khi thu nhập những bạn lâu dài nầy, không phải chỉ để có thêm bạn, mà chính là để, từ những thành phần cốt cán nầy, sẽ ảnh hưởng đến nhiều địa hạt khác, thành phần khác, hầu thu lợi và lôi kéo đứng về chiến tuyến của họ Hay nói cách khác, những thành phần mà CS coi là bạn lâu dài, được CS sử dụng như một vết dầu loan. Một Donald L. Humphrey không phải tự nhiên mà điên khùng đi lấy cắp tài liệu ngoại giao mật của chính quốc gia mình cho Đinh Bá Thi để lảnh án tù 6 năm. Một Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ, bên cạnh lòng nhân từ, đạo đức của các ngài, chắc chắn các ngài còn bị ảnh hưởng từ ngoại vị Ngoại vi đó có thể là Kennedy, là đám sinh viên thiên tả tại đại học Harvard, Massachussetts, hay Pennsylvania, là những đại học nổi tiếng phản chiến. Để các ngài không nhìn thấu được cái quỉ quyệt của CSVN, nên mới có bản nhận định 19/11/70, một nhát búa nặng ngàn cân, đập xuống chính quyền Mỹ.
Một bản chính trong bản nhận định đó: "Bất cứ lợi ích nào, dù lớn lao đến đâu, mà chúng ta hy vọng đạt được qua việc tiếp tục tham chiến tại VN, cũng không thể bù đắp được những tàn phá về sinh mạng do cuộc chiến đó gây nên." (At this point of history, it seems clear to us that whatever good we hope to achieve through continued involvement in this war is now outweighed by the destruction of human life and moral values which it inflicts).
Những Coretta King, Kennedy, Ramsey Clark, tự họ không làm gì đáng phải làm cho chính phủ Mỹ bó tay về vấn đề VN, nhưng tự họ đã lôi cuốn hàng trăm ngàn người Mỹ khác, là vì khờ khạo không một chút hiểu biết gì về bản chất của CS, đã cùng nhau xuống đường, hò la, lên án việc tham chiến của Mỹ tại VN là phản đạo đức (morally wrong) phản hòa bình (against peace).
Tất cả những người Mỹ ngớ ngẩn một cách tội nghiệp đó. được CSVN coi là bạn trung thành, bạn lâu dài của họ, vì nhờ họ, mà CS được thêm những thành phần khác đứng sau lưng, nghĩa là CS đã thành công trong chiến lược vết dầu loang. Chính những thành phần nầy đã tạo chiến thắng cho họ năm 1975.
Dĩ nhiên, trong thành phần mà CS coi là bạn lâu dài, CS còn sử dụn g họ trong nhiều phạm vi hoạt động khác, tùy theo khả năng, để gài vào các nhiệm vụ như gián điệp, trí vận, học đường vụ,...
2. Bạn giai đoạn:
Gồm những thành phần mà CS biết rằng, chỉ theo họ vì hoàn cảnh, vì nhu cầu, hoặc ở một thế kẹt nào đó. Cũng được coi là bạn giai đoạn những người không theo họ, nhưng cũng không chống họ, nhưng lại chống kẻ thù của họ.


Những thành phần được CS coi như bạn giai đoạn không nhất thiết phải theo họ, không cần thiết phải biết về chủ thuyết cộng sản của họ, chỉ cần đừng chống họ, nhưng chống các đoàn thể quốc giạ Trường hợp điển hình, như Phong Trào Liên Ban Đông Nam Á, một thời hoạt động mạnh tại Pháp, tuy nói rằng họ không theo CS, nhưng họ lại có một chủ trương rất mập mờ, là liên kết những người da vàng để chống lại người da trắng. Họ không chịu dùng quốc kỳ vàng 3 sọc đỏ. Chủ tịch của phong trào này là ông Hoàng Văn Mười, một cái tên rất lạ đối với người VN chống cộng. Tổng thư ký của phong trào này là cô Trần Thị Thanh Nga, con gái cố Thượng Nghị sĩ Trần Chánh Thành, tuy không theo CS, nhưng chị ruột của cô Nga là Trần Thị Ý Hoa, lại là một cán bộ CS thứ dữ. CS đã kích các đoàn thể khác, nhưng chưa một lần nào nhắc đến Phong Trào Liên Ban Đông Nam Á. Cho nên người ta đặc một dấu hỏi lớn về phong trào này, nếu không phải do CS tổ chức thì cũng được CS giật dây theo lối bạn giai đoạn.
Chúng ta còn nhớ một phong trào quái dị khác được thành lập tại Saigon năm 1955 do một số trí thức miền Nam chủ trương gồm có các ông TRỊNH ĐÌNH THẢO, TRƯƠNG ĐÌNH DZU, LÂM VĂN TIẾT đứng ra thành lập, đó là Phong Trào Bảo Vệ Hoà Bình. Phong trào này không phải là tổ chức của CS, nhưng được CS ủng hộ và thúc đẩỵ Người ta thấy chủ trương của phong trào này thiên về CS một cách rõ ràng, chủ trương đó là đòi hỏi những bên ký hiệp định Geneva 1954 phải thi hành những điều khoảng ghi trong hiệp định, và họ nhấn mạnh đến điều khoản tổng tuyển cử 1956. CS Bắc Việt lúc đó cũng cương quyết đòi hỏi Mỹ và Nam VN phải tổ chức tổng tuyển cử, vì với bộ máy kìm kẹp miền Bắc, thêm vào là hàng chục ngàn cán bộ được gài vào miền Nam, chắc chắn tổng tuyển cử sẽ mang lại phần thắng cho CS.
Những cá nhân và đoàn thể được CS coi là bạn giai đoạn, bạn nhu cầu, là những cá nhân và đoàn thể thuộc loại vừa kể trên. Nghĩa là những cá nhân, những đoàn thể không phải nhất thiết phải theo họ, dĩ nhiên, theo họ và phục tùng họ là nhất, nhưng họ cần các thành phần đó đừng chống đối họ là được. Chủ đích của CS khi lôi kéo những thành phần nầy, trước hết là chỉ để chặt bớt chân tay của địch.
Đối với khối người Việt tị nạn, CS cũng áp dụng lối chọn bạn như họ đã áp dụng trong thời chiến trước đâỵ CS biết rằng, đối diện với thực tế, họ đang trong thế quá yếu kém so với lực lượng chống cộng hùng hậu của ngưòi tị nạn, và nhất là đại đa số người tị nạn đều có những mối hận cay đắng với họ. Do đó, dùng những thủ đoạn bịp bợm, dụ dỗ những thành phần này trở thành người CS, hoặc thành loại bạn trung kiên của họ là điều họ không hề nghĩ đến. Điều mà họ nghĩ đến và cố gắng thực hiện, là biến càng nhiều càng tốt những người chống họ, thành những người không chống ai cả. Bước đi này của CS tương tự chủ trương của họ từ ngàn xưa mà ai cũng đã biết:
"Cái gì của tôi, tôi giữ đến cùng. Cái gì của anh, chúng ta thương thuyết."
Chính vì thủ đoạn này của CS, mà ta thấy có một số người Việt tị nạn đặt chân lên dất Mỹ năm 1975 với đầy ắp một lòng căm thù CS, bỗng dưng một thời, quên cả thù cũ, ngớ ngẫn tuyên bố:
"Phải no bụng đã mới chống cộng được."
Một số khác, từ căn bản, họ là những người chống cộng, nhưng chỉ vì một bất mãn cá nhân, quay mặt đi không còn nhìn nhận đoàn thể, bạn hữu của mình nữa, và cũng được CS coi như những người bạn giai đoạn.
C. Cánh hồng 3: Xâm nhập lũng đoạn.
Giai đoạn nầy là giai đoạn quan trọng nhất của chiến dịch, vì nó là thành quả của 2 giai đoạn trên, và nhất là một bảo đảm cho giai đoạn saa. Giai đoạn này thất bại, coi như cả chiến dịch thất bạị Vì thế, CS đã điều nghiên rất kỹ, họ lấy kinh nghiệm cũ, trau dồi thêm phần kỹ thuật mới để áp dụng kế hoạch trong giai đoạn 3 nầy.
Ta thử nhìn xem, CS đã đi như thế nào trong giai đoạn xâm nhập và gây lũng đoạn.
1- Xâm nhập:

Bài học ôn:
Vào những năm đầu của cuộc tỵ nạn, tức khoảng 1975-1977, CS Hà Nội đánh giá rất thấp tập thể người Việt tỵ nạn trên thế giớị Họ quan niệm rằng, các đoàn thể của người tỵ nạn hầu hết được lãnh đạo bởi những người thuộc các thành phần rất bê bối, tham nhũng, nhiều tội ác, dốt nát. Những người nầy có nói, cũng chẳng ai nghẹ Nhận định của Hà Nội không phải hoàn toàn vô căn cứ, vì thực ra cũng có một số ít người lãnh đạo của một vài hội đoàn, tỏ ra quá kém cỏi và thiếu hẳn tư cách lãnh đạọ Vài ba hội đoàn nầy, dần dần thấy biến mất dạng.
Nhưng, vào những năm sau này, khi khí thế đấu tranh của người Việt lên cao, có tổ chức và được hậu thuẫn của cả tập thể người Việt lẫn một số quốc gia tự do, lần lượt ra đời, thì Hà Nội bắt đầu chuyển hướng, và mục tiêu chính của họ tại hải ngoại, không phải chỉ còn nhắm vào lãnh vực chính trị, kinh tế, ngoại giao nữa, mà đồng thời phải ra sức tiêu diệt tiềm năng đấu tranh của "bọn tàn dư Ngụy", tức là khối người Việt tỵ nạn. Những hội đoàn các Cộng Đồng tôn giáo, nhất là Công Giáo, Lực Lượng Thanh Niên Tự Do Âu Châu, Tổ Chức Người Việt Tự Do, là những hội đoàn được cộng sản chú tâm nhiều nhất. Việc Hà Nội đưa Hà Văn Lâu sang Mỹ, cũng không ngoài chủ đích tìm cách khuynh đảo khối người Việt tỵ nạn, như hắn đã làm được tại Thái Lan.
Trước hết, nhìn lại quá khứ đấu tranh suốt 30 năm, ta thấy CS đã chứng tỏ một kỹ thuật xâm nhập và gài người rất tinh vi vào các doàn thể, các tôn giáo và ngay cả quân độị Những trường hợp điển hình mà ta chưa quên, phải nói vụ Huỳnh Văn Trọng, phụ tá đặc biệt của TT Nguyễn Văn Thiệụ Đây là một cán bộ CS lọt được vào một chức vụ cao nhất thuộc phía hành pháp. Cho đến nay, sau nhiều năm mất nước, về phía Việt Nam Cộng Hòa, ông Thiệu và ông Đặng Văn Quang, có lẽ ít ai biết Trọng đã lọt được vào Dinh Độc Lập qua ngả nào (2 quyển sách mới có nói về vụ Huỳnh Văn Trọng, hiện mang quân hàm tướng công an VC). Có người cho rằng, CS Hà Nội dùng tiền, vì vụ đổ bể, mô..t vị đại tá làm việc trong dinh đã được nghe ông Thiệu quở trách ông Quang và ông Quang trả lời:
"Moa làm tiền cho cả nhóm chứ riêng gì cho cá nhân moa".
Có người lại cho rằng, chính CIA đã đưa Trọng vào qua trung gian ông Quang, vì ai cũng
biết ông Đặng Văn Quang là tay CIA nặng ký vào bậc nhất trong số những người VN cộng tác với cơ quan tình báo chiến lược nầy.
Qua ngã nào thì tên cán bộ CS nầy cũng đã lọt vào ngồi bên cạnh ông Thiệu suốt mấy năm trời, và sau nầy người ta chẳng còn ngạc nhiên gì, khi những kế hoạch tối mật được soạn thảo tại Dinh Độc Lập, chính phủ ông Thiệu chưa kịp thực hiện thì Hà Nội đã được thông báo đầy đủ. Chẳng hạn như những dự tính chính trị đưa ra áp dụng tại Hội Nghị Paris năm 1971, Dinh Độc Lập đánh mật điện cho phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa đêm hôm trước để sáng hôm sau trưởng phái đoàn đưa ra hội nghị Khi VNCH vừa đưa ra, Nguyễn Hữu Thọ đã cười nhạt và hắn phản pháo không một sơ hở. Kế hoạch đánh chiếm Hạ Lào năm 1972 cũng thế, theo lời một sĩ quan Tham mưu Lữ đoàn Nhảy dù, thì CS đã biết trước tất cả nên chỉ việc nằm chờ, bao nhiêu sinh mạng chiến sĩ VNCH để lại trên chiến trường một cách oan uổng. Ông Thiệu phải chịu trách nhiệm trước lịch sử.
Trường hợp chuẩn tướng NGUYỄN HỮU HẠNH, người đã cùng Dương Văn Minh ra lệnh cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đầu hàng CS sáng 30/4/75, đã bí mật liên lạc với tướng CS TRẦN VĂN TRÀ, trong suốt thời gian Trà làm Trưởng Phái Đoàn Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam tại hội nghị quân sự bốn bên tại Tân Sơn Nhất, mà không một ai hay.


Cựu dân biểu TRẦN NGỌC CHÂU, lợi dụng bất khả xâm phạm của một dân biểu, cùng sát cánh với KIỀU MỘNG THU và các "Thày", công khai đánh phá ta ngay tại Sàigòn, nhưng lại âm thầm thảo kế hoạch và trao tin mật cho em ruột là Trần Ngọc Hiền, đại úy tình báo CS Bắc Việt.
Đại tá PHẠM NGỌC THẢO, một cựu Trung Doàn Trưởng CSBV, giả vờ hồi chánh, bịp cả chế độ đệ I và đệ II Cộng Hoà. Với chức vụ Tỉnh trưởng Kiến Hoà, Thảo (Tướng TRẦN BẠCH ĐẰNG của VC đã vinh danh và tổ chức truy điệu cho Thảo năm 1980-81 ở Saigon) đã gây nên không biết bao tội ác tầy trời với dân chúng, mục đích của Thảo là để gây căm thù giữa dân chúng đối với chính quyền Việt Nam Cộng Hoà (có lẽ vì vậy mà một số dân Bến Tre theo CS; báo chí ngoại quốc khi tường thuật về những "tội ác" chỉ biết Thảo là quân nhân của quân lực VNCH; tên Thảo nầy thật thâm độc;). Thảo bị giết tại Hố Nai năm 1969. Sau 30/4/75, cộng sản cải mộ Thảo và đưa về chôn cất tại nghĩa trang dành riêng cho tử sĩ cộng sản.\
Trên mặt trận văn hóa, cộng sản đội lốt nhà văn VŨ HẠNH (mặc dầu cố gắng nhưng vẫn chưa vào đảng được sau 1975; thất chí, Vũ Hạnh không còn sáng tác như hồi trước 75 nữa), đào Kim Cương, đào tiếng chuông vàng đất Bắc Kim Chung, là những CS nằm vùng và đắc lực cho Hà Nội.
Ngoài những tên CS nằm im lìm trong các cơ quan chính quyền,lập pháp cũng như hành pháp, quân đội, văn hóa, báo chí, ta còn thấy những tên CS đội lốt nhà tu, trí thức, chính khách, công khai tiếp trợ cho đồng bọn dưới nhiều danh nghĩa. Những linh mục PHAN KHẮC TỪ, với khổ nhục kế "Kẻ Hốt Rác" để nắm thành phần lao đô.ng. "Linh mục" NGUYỄN NGỌC LAN, lợi dụng tự do báo chí để viết sách, viết báo cổ võ chủ thuyết cộng sản, mà ghê gớm hơn hết là cuốn "Đường Hay Lô Cốt?". Linh mục TRƯƠNG BÁ CẦN (nay lòi ra là linh mục quốc doanh ở Saigon), luôn luôn dùng tòa giảng để kêu gọi chấm dứt chiến tranh (theo đường lối CS, nghĩa là Mỹ phải rút, miền Nam phải buôn súng). Những tên cộng sản đội lốt nhà sư: THÍCH ĐÔN HẬU, THÍCH MINH CHÂU, THÍCH NHẤT HẠNH, sư cô HUỲNH LIÊN, là những tên CS ồn ào nhất, chính những tên CS ngụy trang nhà tu nầy đã chủ trương đưa bàn thờ Phật xuống đường, rồi ngồi chắn trên cầu Gia Hội, An Cựu tại Huế, không cho quân đội tiếp viện, chính vì thế mà các đơn vị thuộc sư đoàn I Bộ binh tại An Lộ bị thiệt hại nặng nề vào đầu tháng 4/1966 vì không được tiếp viện.
Ngoài các tên CS đội lốt nhà tu vừa kể, người Việt Nam không thể nào quên được những tên trí thức ăn cơm quốc gia từ đời cố nội ngoại của họ, nhưng vẫn ngu xuẩn vùi đầu đứng trong hàng ngũ kẻ thù trong cuộc chiến tàn bạo giết hại bao người trong 30 năm. Điển hình hơn hết là bọn Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc tại Huế với các tên LÊ KHẮC QUYỂN, VĨNH KHA, HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG, LÊ TUYÊN, HOÀNG VĂN GIÀỤ Giữa lúc bọn "Cứu Quốc" hoành hành tại Huế, thì tại Saigon, đồng minh của họ cũng múa lên một nhịp bài hát "Cứu Quốc" do các tên nằm vùng Huỳnh Tấn Mẫm, Cao Thị Liên, Lý Quí Chung, Lý Chánh Trung, Hồ Ngọc Nhuận, Kiều Mộng Thu, Trần Ngọc Châu, "linh mục" Nguyễn Ngọc Lan...


Nhìn lại thế cờ bố trí trên mặt trận xâm nhập của CS Hà Nội tại miền Nam trong quá khứ, người quốc gia hải ngoại ngày nay không thể không cảnh giác. Cảnh giác để không bước vào trong dĩ vãng, để đến nỗi một tên CS nằm ngay trong cơ quan đầu não tối cao của quốc gia mà vẫn không hay biết. Một tên nằm vùng trong làng báo chí suốt 15 năm mà không hề bị lộ tông tích. Những cố vấn, những phụ tá, những thầy tu nằm vùng đó hiện nay không thiếu gì trong hàng ngũ người Việt tỵ nạn hải ngoại.
Bài học mới:
Những bước căn bản được soạn thảo cho kế hoạch xâm nhập thời chiến, cộng sản vẫn giữ nguyên để áp dụng cho kế hoạch xâm nhập hàng ngũ quốc gia tại hải ngoại. Nghĩa là có những tên lính tiên phong đóng vai tu hành, học giả, sinh viên, nhà buôn và một số những người Việt không có kinh nghiệm, được gài vào hàng ngũ tỵ nạn. CS chỉ thay đổi mục tiêu, để thay vì đích thân đứng ra tổ chức những cuộc khuynh đảo, họ đã dùng những phần tử trên để gây lũng đoạn chia rẽ, phá nát hàng ngũ ta, hầu tru diệt một chướng ngại vật và tránh hậu hoạ trong tương lai.
Trước hết về mặt chìm, ta thấy CS len lõi, bố trí người của họ ngay quanh tạ Những tên sinh viên du học trước đây, nay là những nhà khoa bảng đóng vai cố vấn, phối trí cho một vài đoàn thể quốc gia, lâu lâu tổ chức Tuần Lễ Văn Hóa, nói là thuần túy văn hóa nên không trương cờ quốc gia nàọ Những hội đoàn này, có một vài nơi mới được thành lập, nhưng cũng có một vài nơi, họ tách từ các hội đoàn quốc gia chính ra để thành lập hội đoàn khác. Ta cũng thấy ít lâu nay, những bàn tay vô hình đã đi thu lại các chương trình truyền hình tuyên truyền cho CS, như Vietnam: a History", The First Complete Account, The Ten Thousand Day War,..., những cuốn phim video nầy được chuyền tay cho đồng bào xem miễn phí. Ai đã bỏ công ra thu, ai đã chi tiền để thu? Người thơ ngây đến đâu cũng trả lời được xuất xứ của việc làm nầỵ Một số người quốc gia cũng biết thế, nhưng vì tò mò, nên vô tình cứ tiếp tay cho kẻ thù.
Những chiến dịch thư nặc danh bôi bẫn những người quốc gia, hạ danh thế những nhà lãnh đạo tôn giáo, gây chia rẽ giữa các hội đoàn chống cô.ng. Những chiến dịch tuyên truyền rỉ tai, phao tin đồn nhảm nhắm đích danh một số người lãnh đạo đoàn thể quốc gia tôn giáo.
Những tổ chức du đãng, buôn lậu, giết người, hành động phi pháp, để gây tiếng xấu cho tập thể người quốc gia tỵ nạn.


Tất cả những hành động được thúc đẩy bởi những bàn tay vô hình, ném đá giấu tay đó, không ai khác hơn là những tên CS chìm. Đến đây ta lại nhớ vụ xích mích Phật giáo và Công giáo đã xảy ra tại Saigon năm 1964. Mấy tháng sau vụ đảo chánh 1963, Phật giáo và Công giáo trải qua thời kỳ rất căng thẳng tạo nên do những ngộ nhận. Một toán đặc công cộng sản đã dùng một chiếc xe Lam ba bánh có gắn loa, chạy đến khu Vạn Hạnh kêu gọi Phật tử phải đến ngay chùa Ấn Quang để giải cứu các Thầy, vì có bọn Công giáo quá khích dang vây và đập phá chùạ Chiếc xe Lam đó, lại chạy đến khu ngã ba Ông Tạ là nơi có đông đảo người Công giáo di cư, kêu gọi đồng bào Công giáo phải lên ngay toà báo Xây Dựng (báo Công giáo) để cứu cha Nguyễn Quang Lâm và các cha, vì có bọn Phật tử Ấn Quang đang phá nhà thờ Huyện Sĩ và đốt tòa báo Xây Dựng. Một cuộc ẩu đả bằng dao và gậy gộc, súng nhỏ đã xảy ra tại cả 2 nơi Ấn Quang và nhà thờ Huyện Sĩ giữa thanh niên Công giáo và và thanh niên Phật tử. Cuộc ẩu đả diễn ra trong một ngày, làm hàng trăm thanh niên đôi bên bị thương. Cảnh sát đặc biệt đã bắt được chiếc xe Lam cùng ngày và gồm luôn cả 4 tên đặc công CS chủ trương, tránh cho Saigon một cuộc Thánh chiến, mà hậu quả không thể lường được.
Về mặt nổi, CS xâm nhập và đang tổ chức những hội đoàn, hoặc lấy chính danh là đoàn thể CS, hoặc ẩn núp dưới một danh nghĩa khác. Những hội như Hội Việt Kiều Hải Ngoại, Hội Các Nhà Văn, Hội Truyền Thanh Truyền Hình, Hội Phật Tử Hải Ngoại, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Tự Trị, là những hội do CS tạo nên làm điểm tựa cho thế đứng của họ tại nước ngoài.
Gây lũng doạn:
Xâm nhập được hàng ngũ địch bằng nhiều cách, dưới nhiều hình thứ'c, hoạt động bên địch với nhiều danh hiệu khác nhau, CS mới có thể tìm được đất đứng, tạo được vị trí hành động. CS bước thêm bước nữa trong giai đoạn của Cánh Hồng 3 nầy, đó là lũng đoạn, là gây chia rẽ giữa người quốc gia với nhau.
Những hình thức bôi bẩn do CS chủ trương, hoặc xúi dục người quốc gia chủ trương bôi bẩn lẫn nhau, xảy ra nhan nhản khắp nơi tại Oregon, tại Louisiana, tại Washington và nhiều nơi khác toàn nước Mỹ, đã đôi khi làm người quốc gia nản chí, nhất là khi biết chắc những đòn hạ nhục đó, do chính anh em, bạn hữu cùng một chiến tuyến với nhau, mà chỉ vì óc tị hiềm, tự ái cá nhân, bất bình, đã vô tình lọt đúng vào bước tiến gây lũng đoạn của CS nhằm vào hàng ngũ quốc gia.
D. Cánh hồng 4: Xây Dựng:


Trong cuộc chiến gần 40 năm, chưa có một tên CS nào thành công trên lãnh vực khuynh đảo bằng viên Đại tá Hà Văn Lâu.
Hà Văn Lâu sinh năm 1918 tại Huế, con trai Tuần phủ Hà Văn Ngoạn là Hội viên của Hội Liên Hiệp Pháp. Hà Văn Lâu nguyên là viên sĩ quan mật thám quân đội Pháp, đào ngũ theo Việt minh năm 1945 và được Võ Nguyên Giáp giao ngay trọng trách gián điệp, tình báo trong quân độị Hà Văn Lâu trở thành đảng viên thực thụ CS năm 1950, và trở thành một sĩ quan tình báo chiến lược của Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng. Hà Văn Lâu lập được rất nhiều công đối với CSVN, mà một trong những công lao đó là khuynh đảo để nắm được vào khoảng 60,000 Việt kiều tại Thái Lan, tạo một hậu thuẫn rất mạnh về chính trị và quân sự cho CS suốt cuộc chiến Việt Nam. Người ta sang Thái Lan về đều ngao ngán, vì thấy Toà Đại sứ Việt Nam Cộng Hoà không làm gì để phổ biến chính nghĩa, trong khi CS phản quốc, lừa bịp được Việt kiều, bằng cớ, là hầu hết các gia đình bên đó đều treo hình Hồ Chí Minh. Trong các lễ của CS. CS tổ chức Việt kiều tham gia đông đảọ Một số nhỏ những gia đình người quốc gia sống rất cô đơn, một số khác nêu cao chính nghĩa quốc gia liền bị giết.
Bài học thành công về Việt kiều tại Thái Lan là bài học rất quí đối với CS, cho nên Hà Nội đã vội đưa Hà Văn Lâu sang Mỹ thay Đinh Bá Thi với một giấc mơ, là cũng biến đổi một triệu người Việt tị nạn thành khối người như Việt kiều ở Thái Lan. Nhưng CS cũng biết rằng, khối người VN một triệu nầy, không phải 60,000 Việt kiều Thái Lan, vì thế, CS đã phải mang cả một bộ tham mưu chuyên về tình báo và khuynh đảo như đã trình bày ở đoạn I và CS đã phải tung nguyên một chiến dịch gọi là Hoa Hồng Đỏ để thực hiện cho được mặt trận đánh thẳng vào khối người Việt tị nạn. CS chưa thành công, bằng cớ là sau chín năm với từng bước tiến (từng cánh hồng), CS tỏ Ra còn quá yếu ớt so với thực lực của khối quốc giạ Nhưng đừng vội nghĩ rằng CS đã thua cuộc. Qua bao kinh nhiệm, ta thấy kẻ bỏ cuộc trước chính là phe Tự Do, phe Quốc Gia, chứ không phải CS. Nhất là hiện nay, tình trạng phân hóa giữa người Quốc Gia hải ngoại vẫn còn trầm trọng; nghĩa là chúng ta vẫn còn tạo môi trường để vi trùng CS có thể sống và phát triển.
Cánh hồng 4, hay giai đoạn Xây Dựng của CS đã bắt đầu, nhưng CS không hề đặt thời điểm phải hoàn tất. Điều nầy có nghĩa là họ sẽ "đánh trường kỳ". Tài liệu học tập đã ghi rõ, đối tượng xây dựng chính của họ là thế hệ thứ 2, tức là lứa tuổi đang lớn lên, chưa có một ý niệm gì về CS, chưa bị nếm mùi cay đắng nào từ cs ( CS giả vờ che đậy cho những việc làm tàn bạo trong quá khứ bằng cách nói là họ làm sai và "những con nai vàng ngơ ngác" tin là CS cũng là những kẻ biết "hướng thiện"). CS đã tập trung được cán bộ, từ cấp tiểu bang, thành phố, mà họ gọi là "đường giây 3 cụm chiến lược" (tức Trung tâm Waterside Plaza, nơi phái đoàn Hà Văn Lâu đặt bản doanh, các tiểu bang và thành phố). CS móc nối hệ thống những tổ chức và cá nhân yểm trợ ho.. CS xâm nhập các tổ chức và đoàn thể ta để gây lũng đoạn.


Giai đoạn 4 được phát động, nếu họ thành công, có nghĩa là người quốc gia phải đối đầu, không phải từ hệ thống cán bộ, từ những thành phần yểm trợ, mà ngay từ tập thể, có khi ngay từ gia đình (người trẻ non dạ không tin lời cha mẹ kể về những kinh nghiệm với CS). Người quốc gia chúng ta sẵn sàng chấp nhận cuộc đấu trước khi tình trạng quá muộn chưa?
THAY LỜI KẾT:
Người CS luôn mang trong người hai thứ võ khí: bản kinh chiều êm ái, nhẹ nhàng. khi cất lên có tác dụng làm người nghe đi dần vào một giấc ngủ miên man. Và một con dao bén nhọn, giết người rất nhanh.
Hai thứ võ khí nầy, được người CS xử dụng trong một kết hợp vô cùng nhịp nhàng, uyển chuyển. Có những trường hợp cần phải cất lên bản kinh, chờ cho đối phương mê ngủ, rồi bất thần đưa lưỡi dao đi một đường ngọt xớt vào giữa tim đối phương. Có những trường hợp bản kinh và lưỡi dao cùng được hoà nhịp một lượt. Cũng có những trường hợp người CS chủ quan, xử dụng lưỡi dao mà không cất lên bản kinh, bị chặn lại, họ tức khắc rút dao về, bản kinh lại được cất lên, chờ cho đối phương mê ngủ, họ mới hạ thủ.
Việt Nam, với bản kinh chiều được NHẤT CHI MAI (một nữ Phật tử, ngây thơ hay cố ý thiên tả, tự thiêu để đòi hoà bình theo kiểu CS; theo đó phong trào của Nhất Chi Mai muốn miền Nam phải "trở về với "dân tộc" tức là với CS") cất lên qua lời cầu thống thiết, vào đúng lúc phần thắng trong cuộc chiến đang nghiêng về phía quốc gia:
"Hãy sống dùm tôi, hãy thở dùm tôi, quả tim nầy dành cho thù hận, cho hoà bình".
Bản kinh HOÀ BÌNH của Nhất Chi Mai được kết thúc bằng cái chết tự thiêu của cô cho Hoà Bình giữa lòng thủ đô Sàigòn đã được những McGovern, Kennedy, Coretta King, Jane Fonda, KIỀU MỘNG THU, TRẦN NGỌC CHÂU, THƯỢNG TỌA THÍCH TRÍ QUANG, LINH MỤC PHAN KHẮC TỪ, BÀ NGÔ BÁ THÀNH đồng loạt phụ xướng, và đã lừa được dư luận Mỹ. Không một chần chờ, Hà Nội rút lưỡi dao khỏi bao đi một đường lút cán ngay giữa trái tim Nam Việt Nam. Thế giới sử đã ghi lại, hôm đó là ngày 30/4/1975, lúc 10 giờ sáng. Bản khai tử của Việt Nam Tự Do hiện còn lưu trữ tại Toà Bạch Ốc, Washington. D.C., Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Bản sao được trao cho điện Kremlin tại Mạc Tư Khoạ, nước Nga Xã Hội Chủ Nghĩa Liên Bang Sô Viết.
Sau một thập niên kể từ ngày Việt Nam Cộng Hoà bị bức tử, không phải không có những người đã thức tỉnh; Michael Novak, tác giả cuốn sách phản chiến nhất nước Mỹ: cuốn "Vietnam: a crisis of conscience". Joan Baez, người đã cùng Jane Fonda, ca ngợi Hồ Chí Minh như một Washington Việt Nam. Gần đây hơn, hai nữ bác sĩ VN trên 20 tuổi đảng. cháu ruột của tên trùm đỏ Đặng Xuân Khu, là bác sĩ Đặng Kim Thoa và bác sĩ Đặng Kim Thu, đã giã từ thiên đường CS, trốn sang Phi Châu tìm tự do.
Nhưng, một thập niên, thời gian vẫn chưa đủ. Và những chứng tích: South Yemen, Ethiopia, Mozambique, Việt Nam, Lào, Cam Bốt, Congọ cũng chưa đủ cho một số người thức tỉnh, trong đó có một số người Việt tị nạn. Cho nên mới có những hiện tượng những hiện tượng Thích Nhất Hạnh, linh mục Trần Tam Tỉnh.


Không muốn hiểu CS hay không hiểu CS là quyền của những người ngây thơ, dại dột. Quyền của những đồng minh chơi với bạn theo nhu cầu giai đoạn, giúp bạn theo phong cách của một Thái Thú. Quyền của những người mang tị hiềm vô lý, mặc cảm cá nhân, bất đồng nhỏ mọn.
Nhưng, người quốc gia chân chính, những nạn nhân trực tiếp của suốt 40 năm bịp bợm, lừa dối, gian manh từ người CS không có cái quyền đó. Cái quyền mà người quốc gia có là quyền tỉnh thức để không bị ru ngủ bởi bản kinh chiều.
Cảnh giác để khỏi bước vào cái bẫy "dùng bạn của địch đánh địch, dùng địch đánh địch, chia địch để địch bị cô lập và tự diệt". Chưa tìm được cho mình những cái quyền đó, thì đừng nói đến kết đoàn, và nhất là đừng ôm hoài bão dành lại phần đất và tất cả những gì CS đã trắng trợn cướp khỏi tay ta.
Lời nói cuối:
Những lời cảnh cáo nói trên tưởng cũng quá đủ.
Ngoài ra, bài báo nầy còn cho ta thấy một quá khứ đầy sai lầm của những người, vì non kinh nghiệm về chính trị hơn CS hay vì bị lừa dối bởi những phần tử CS hay thân cộng, đã nhiều khi hy sinh thân mình đem đất miền Nam hiến vào tay CS. Người chiến sĩ của VNCH quá là tội nghiệp, họ chết vì nhiều viên đạn không phải từ kẻ thù ngoài mặt trận mà từ vài huynh đệ chi binh và từ vài người ở hậu phương thiếu sáng suốt bắn ra. Kết quả lại phải vào tù ra khám khi miền Nam sụp đổ. Sau đó, hậu phương nầy cũng bị "dần" cho te tua mà một số phải chạy bán sống bán chết và bị người anh em CS khinh bỉ, gia đình thì tan nát, không thể nào gầy dựng lại được nữa. Hàng trăm ngàn người bị chìm sâu dưới đáy biển, một số lớn may mắn hơn tìm được bến bờ và phải nhoi lên vô cùng vất vả tạo lại cuộc sống từ con số không.
Đây là những kinh nghiệm đau thương, được trả bằng máu và nước mắt. Chúng cho thấy, chúng ta đang đương đầu với "những người CS" đầy kinh nghiệm chứ không phải là những người VN thân thương chân chính. Mỗi người đại diện của CS mà ta gặp trong và ngoài nước phải được xem là những tay tình báo giỏi và vô cùng lão luyện về chính tri.. Tôi có đọc ở đâu đó là nhà ngoại giao của CS hay nói trắng ra ông đại sứ phải là tay gián điệp thượng thặng của họ. Dĩ nhiên những nhân viên của ông ta cũng thế.


Ta đang nói về những người tôn thờ Đảng và chỉ có đảng mà thôi. Tất cả những liên hệ với họ đều không ít thì nhiều dĩ nhiên là có lợi cho họ, hay ít ra không thiệt hại gì cho họ cả. Ta cũng biết rõ ràng ta cũng là những con mồi ngon của họ và họ sẽ "thấu cáy" lúc nào cũng được. Vậy, một lời khuyên, hãy tỉnh thức mà dọn đường sẵn để "rút dù" trong an toàn nếu có "chung chạ" với ho.. Nếu không thì uổng một đời vì chơi với CS không phải là trò đùa, mà là "một trò chơi vô cùng nguy hiểm và nguy hiểm".


Ý thức hệ của CS không cho phép những người "nửa nạc nửa mỡ" sống chung với họ lâu dài. Nghĩa là, sau một thời gian, phải nhập về bên họ hay sẽ bị quăng đi khi nhu cầu không còn cần thiết nữa. Chuyện quá khứ đã bày ra đó, đừng nên bỏ ngoài tai. Bằng cấp dù cao tột bực tới đâu cũng không cứu vãn nổi thân phận, nếu như ít để ý tới chính trị của CS. Vì nghĩa đồng bào xin được bàn vài câu chói tai, nhưng chúng không phải chỉ được dựa trên chuyện hão huyền./-

Bấm chữ "Older Posts" trên đây để xem tiếp .... Dưới Là Bài Cũ Theo Từng Tháng.

 
*** Nếu Thích QUẢNG BA, Thích Phước Tấn bất chấp dư luận can ngăn mà về VN tham dự Phât Đản do Việt Cộng tổ chức tại Hà Nội vào tháng 5/2008. Thì đương nhiên 2 Cộng Sư nầy đã đứng ra khiêu khích và tuyên chiến với cả Cộng Đồng Tự Do Hải Ngoại chúng ta ...