*** VIỆT CỘNG ĐANG ĐẨY MẠNH KẾ HOẠCH THÀNH LẬP HỆ THỐNG "CÁC HỘI DOANH GIA VIỆT KIỀU" ĐỂ BIẾN THÀNH CÁC TỔ KINH TÀI VÀ TÌNH BÁO Ở HẢI NGOẠI. ***VIỆT CỘNG HÃY TỰ TRẢ LỜI:"AI-VĂN KIỆN NÀO ĐÃ GIAO CHO ĐẢNG CỘNG ĐỘC QUYỀN CAI TRỊ ĐẤT NƯỚC MUÔN NĂM ???" *** Rồi đây, Cờ máu Việt Cộng cũng sẽ biến mất như Cờ búa liềm Liên Sô. Đó là sự thực sau nầy ! *** HỒ CHÍ MINH là một tên LƯU MANH NHỨT THẾ GIỚI - Vì dám lấy TÊN GIẢ để làm QUỐC TRƯỞNG VIỆT CỘNG từ 1945 - Thế Giới chưa ai DÁM GẠT cả một dân tộc như vậy !!! ***Quảng Ba đã công khai gia nhập Phật Giáo Quốc Doanh Việt Cộng Hải Ngoại cùng với Như Huệ, Tâm Phương ... Quảng Ba tự xưng khơi khơi chức vụ Hoằng Pháp Úc-Tân Tây Lan không kèn không trống ... *** VỢ CHỒNG HENRY DANG (Đặng Văn Hiền, Gốc QGHC và đương kiêm Chủ Tịch Hội Đồng Hương An Giang) đã xác nhận CÙNG về Hà Nội dự VESAK là chuyện có thật 100% - Từ nay CẶP VỢ CHỒNG nầy sẽ không thể nào TRÀ TRỘN vào các sinh hoạt Cộng Đồng Tự Do như trước ... *** Linh Mục Bùi Đức Tiến, Bs. Trần Thanh Nhơn, Bs. Nguyễn Ngọc Hương mong Việt Cộng sống lâu để họ được trở thành THÁNH TỬ vì mượn từ thiện để đánh bóng tên tuổi cá nhân ...

Monday, May 31, 2010

Tản Mạn:
Dân Chủ và Nhơn quyền: Ưu tư và Thắc Mắc
________________________________________________________________________________________________
Phan Văn Song


Đã từ lâu nay khi có một Phái đoàn Nhà Nước Xã hội Chủ nghĩa Việt nam qua Âu Châu đến thăm Quốc hội Âu châu xin tiền thường hay bị chất về vấn đề tình trạng Nhơn quyền ở Việt nam rằng hiện nay vẫn còn bị xâm phạm và nhiều người không đồng tư tưởng, không đồng ý kiến, vẫn còn bị giam cầm. Người đại diện và trưởng phái đoàn Cộng Hòa Xã hội chủ nghĩa Việt nam ung dung, tự tại, trả lời không ngượng miệng là Quốc hội Âu châu chỉ biết nghe những tin thất thiệt và hiểu lầm Việt nam, vả lại quan niệm Nhơn quyền ở Đông phương và Tây phương khác nhau:theo định nghĩa Tây phương, quan niệm Nhơn quyền là quyền một con người cá nhơn, còn ở Đông phương (chúng tôi) quan niệm Nhơn quyền là một quan niệm quyền một cộng đồng, một tập thể con người:

Nhơn quyền ở Việt nam do Đảng Cộng sản chỉ đạo, được định nghĩa theo tư duy của Đảng Cộng sản:
Quyền tự do Tôn giáo và tự do Tín ngưỡng cũng phải theo định nghĩa của Đảng Cộng sản cầm quyền, là quyền của một tập thể, một cộng đồng Cộng sản , nay được song tịch vào quốc tịch Việt nam, trước thờ các ông có râu xồm: Các Mác, Lê Nin, Xì ta lin... ngày nay tiếp tục thờ một xác chết ướp khô, đệ tử chơn truyền của các vị thánh râu xồm ấy với cuốn Thánh kinh được gọi là Tư tưởng Hồ Chí Minh; và Nhà nước do Đảng cộng sản cầm quyền không chấp nhận những quan niệm thờ phượng khác.
Về quan niệm Yêu quê hương, yêu Tổ quốc giang san cũng thế: quan niệm yêu quê hương là yêu quê hương xã hội chủ nghĩa, yêu Tổ quốc giang san là Tổ quốc giang san Xã hội chủ nghĩa, núi liền núi sông liền sông, vì thế thà nên giao núi, giao sông, giao biển, giao đảo cho quan thầy Trung Hoa giữ, chắc ăn hơn, còn hơn giữ lấy một mình sợ không kham, phần dân chúng thì dân chúng phải biết tuân lệnh, không được biểu tình phản đối...dù chỉ phản đối đả đảo và chống Tàu.
Nhưng có một điều cũng lạ, biểu tình một nhơn quyền, và là một nhơn quyền tập thể, đó là quyền phát biểu của một tập thể công dân để nói lên sự không đồng ý không bằng lòng của mình đối với nhà nước cầm quyền. Biểu tình là nghề ruột của chàng Cộng sản lúc còn nằm vùng ở Việt nam Cộng hòa đã từng sử dụng xúi dân thời ấy chống nhà nước Việt nam Cộng hòa lúc ấy, vậy mà ngày nay vị thủ trưởng nhà cầm quyền Cộng sản, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phải đọc đít-cua ra lệnh Cảnh sát Công an của mình phải dẹp biểu tình: chống biểu tình lại biến thành một quốc sách, và quyền biểu tình, một Nhơn quyền tập thể dân chủ, cũng biến thành một món hàng quốc cấm.
Vậy quan niệm Nhơn quyền là quyền của một tập thể một cộng đồng cũng không có ở Đông phương tuốt, hay chắc các ông Cộng sản muốn nói rõ là “ở Đông phưong Cộng sản”. Sao các ông không nói toẹt ra là ở xứ Việt nam Cộng sản chúng tôi chẳng những không tôn trọng Nhơn quyền, mà ở xứ chúng tôi thực sự là không có Nhơn quyền. Người dân Việt nam không có quyền gì cả. Và vì không có quyền nên chẳng làm Chủ, vậy thì Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt nam cũng không có Dân chủ. Ce qu'il fallait démontrer. CQFD.
Như vậy các vị dân biểu Tây phương sẽ hiểu và sẽ không đòi đi thăm Việt nam như các anh Dân biểu Quốc hội Âu châu Mario Panella và Thượng Nghị sĩ Ý Mario Peducca để phiền nhiễu nhà cầm quyền Việt nam phải lo lắng cấm không cho các vị ấy vào Việt nam, vì sợ tập thể nhơn dân Việt nam vì quá giận, sẽ hành hung họ, vì các vị người Tây phương, thiếu ngoại giao và thiếu thông tin, cả gan dám hỏi thăm đến tình trạng giam cầm của tù nhơn không đồng chánh kiến và dám đấu láo trên mạng vi tính và tình trạng Nhơn quyền ở Việt nam.
Ngành Ngoại giao Việt nam nó cao cả như vậy. Quan niệm và từ ngữ Khoa học Chánh trị của Việt nam ngày nay đã đi vượt thời gian và không gian, ngay đến cả chúng ta, tuy là những người gốc Việt đọc Việt ngữ, vẫn không hiểu nổi chiều sâu đầy triết lý những quan niệm khoa học chánh trị ấy. Nên người viết cũng thấy cần có những suy nghĩ để đặt lại những định nghĩa triết học chánh trị ấy:

Cộng Hòa hay Đế Quốc? Xã hội Nhà Nước hay Xã Hội Dân Sự?
Phát huy Dân Chủ bằng Tổ chức Xã Hội
hay bằng Tổ chức Luật Pháp ( Pháp trị)?

1/ Định nghĩa và tổng kết tình hình hiện nay của nền Pháp trị:
Pháp trị: giấc mơ của các hệ thống cơ chế Nhà nước Dân chủ trên thế giới. Ở Pháp, ngay từ những năm sau Thế Chiến II, 1945, sau mỗi lần có thay đổi chánh phủ lãnh đạo là mỗi lần đều có nói trong chương trình sự cần thiết là phải sửa đổi chế độ Luật Pháp Nhà Nước. Ngay cả ngày hôm nay trong các thể chế Cộng hòa, với định nghĩa một đất nước thống nhứt, “một và không phân chia” (un et indivisible), quan niệm phân chia quyền hạn (séparation des pouvoirs) hay tam quyền phân lập, hay quan niệm phân chia quyền lực cho nhơn dân, dân chủ tham dự, vẫn còn mù mờ không rõ ràng. Tại sao khó khăn như vậy? Có phải tại từ ngàn xưa, quyền lực thường nằm trong tay kẻ cầm quyền: thời của các Vua Chúa, độc đoán, độc tài? Ở Pháp thí dụ, ngay từ những ngày đầu nền Cộng Hòa, Jean Bodin (Angers Pháp 1530 – Laon Pháp 1596), tuy, là nhà luật gia với một tư tưởng rất “Tân Thế giới” (“Không có của cải hay sức mạnh nào bằng con người – il y a ni richesse ni force que l'homme” Six Livres de la République Livre V Chapitre II – Sáu sách Tham Luận về nền Cộng Hòa, Tập V Chương II), vẫn có cái suy nghĩ cho rằng, “dù với một nền Công hòa, cũng nên giao quyền lập Pháp cho các Nhà Cầm quyền.”.... Và ngay với cả chúng ta ngày nay, chúng ta, những nhà luật gia hay chánh trị gia tân thời, chúng ta vẫn, một cách quá khứ, lẫn lộn cầm quyền và làm luật: “Nếu ta cầm quyền ta sẽ ban những Luật như thế nầy ....”. Ở Pháp thiên hạ vẫn còn giữ và tôn sùng những kỷ niệm các vị cầm quyền sáng giá: Vua Henri IV đã dẹp yên vấn nạn Giáo Chiến, tướng Bonaparte, những tranh giành ảnh hưởng sau cuộc Đại Cách Mạng, tướng De Gaulle, những vấn nạn do các Đảng Phái...Và ngày nay, với tình hình khủng hoảng kinh tế, một quốc gia như nước Pháp phải trả một cái giá rất đắt (thì giờ và tiền bạc) vì phải vòng vo thương thuyết tìm những giải pháp chánh trị và kinh tế; hoặc phải sử dụng ở chỗ nầy những luật phá rào kinh tế (dérèglementation) hoặc phải bãi bỏ ở những chỗ khác những rào cản thuế vụ (niches fiscales), hoặc phải ban bố ơn huệ tài chánh bằng những luật thuế vụ khuyến khích (incitations fiscales), .... trong khi chỉ phải thẳng thừng áp dụng những biện pháp cải tổ do các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp, .... thuộc cả hai phe cầm quyền và đối lập đề nghị: thuộc cả hai trường phái: (kinh tế thị trường) tự do và (kinh tế chỉ đạo tục gọi là trường phái) xã hội.


Nhưng cái việc phải làm để cải tổ nền Pháp trị mà chúng tôi nghĩ là rất cần thiết, đó là cải tổ ngành Tư pháp, vì chúng tôi chuyên nghiệp về Luật học, ngành Tư pháp phải được độc lập và thoát khỏi quyền lực chánh trị, và nếu có thể, trao quyền kiểm soát cho dân (Quốc hội). Ngành Tư pháp phải được độc lập, ngành Tư pháp phải có nhiều quyền tự do hơn, nhiều vì có nhiều quyền lực hơn, ngành Tư pháp phải có nhiều trách nhiệm hơn: Viện Kiểm Soát, hay Tối Cao Pháp Viện phải được độc lập (thoát khỏi ảnh hưởng quyền lực chánh trị) và phải do dân cử nghĩa là những thành viên phải là những đại diện của các dân cử hay do dân cử. Chương trình và đường hướng chánh trị của ngành Tư pháp phải được đưa ra bàn cãi trước Quốc hội hằng năm và biểu quyết.
Không dám nói đến những quốc gia độc tài như Việt nam Xã hôi Chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt nam độc quyền lãnh đạo chỉ biết phân nhiệm cho tam quyền, và chỉ đạo và chỉ định luôn cho Nhân dân bằng Đảng cử dân bầu người dân cử.

2/ Cộng hòa, Đế quốc Dân chủ, quân chủ:
Theo thông lệ thiên hạ hay cho Cộng hoà và Dân chủ là hai quan niệm hoặc đối nghịch lẫn nhau hoặc thay thế nhau. Theo Aristote:
Cộng hòa là định nghĩa cho một thể chế tổ chức xã hội mà lợi ích hằng đầu là phục vụ cho lợi ích chung - (Rès Publica = phục vụ cho cái chung – pour La Chose Publique). Quyền lực do Pháp luật áp dụng bình đẳng cho mọi thành phần cá nhơn có tự do trong xã hội. Thể chế ngược lại là thể chế độc tài và được gọi là đế quốc.
Dân chủ – quyền lực ở nhơn dân - chỉ là phương thức quản trị. Phương thức có thể dùng hoặc Quân chủ (monarchie) hoặc một giai cấp quý phái (aristocratie) để quản trị. Một quốc gia có một nền Cộng Hòa có thể dùng phương thức quản trị Quân chủ: Vương Quốc Anh, Vương quốc Bỉ, Đan Mạch, .... phương thức một giai cấp quý phái như thời Cộng hòa Venise, và Dân chủ như các quốc gia cộng hòa ngày nay trên thế giới.
Nhưng nếu chúng ta nghiên cứu kỹ, phân tích đi sâu vào trình độ Văn hóa và giai cấp, các nhà cầm quyền ngày nay trên các quốc gia tiên tiến đếu xuất thân từ những Trường Đại học chuyên môn về Luật học và Chánh trị học đào tạo những chánh trị gia đặc biệt: ở Mỹ Harvard, Columbia, .... ở Anh Oxford, Cambridge.. và đặc biệt ở Pháp các trường Chánh trị học (Sciences politiques) và trên tất cả Trường ENA (Quốc Gia hành Chánh),.... vậy thì đây có phải là một giai cấp quý tộc bằng cấp không? Nghiên cứu kỹ hơn tí nữa chúng ta sẽ thấy ở những địa hạt quản trị lãnh đạo kinh tế, tài chánh và luật pháp, với phương thức bảo trợ lẫn nhau; các nhơn viên Ngân hàng cao cấp biến thành thành viên (member-associate), các Luật sư cao cấp biến thành những Luật sư associates, ... ngành nghề quản trị lãnh đạo đất nước đều phải qua hệ thống bảo trợ nghề nghiệp. (cooptation professionnelle) ..Phần quản trị lãnh đạo thực sự bình dân do dân cử chỉ còn ở phần hạ tầng cơ sở... như Xã trưởng các làng xã nhỏ.....
Đệ Ngũ Cộng hòa Pháp sử dụng phương thức hỗn hợp: một nền Cộng hòa, một Tổng thống dân cử với một quyền hạn quân chủ, với một chánh phủ quý tộc, quan chức hành chánh xuất thân từ trường ENA. Thậm chí Đảng đối lập khi Tả lúc Hữu cùng đều do các viên chức cùng lò ENA điều khiển. Hiến Pháp thành lập nền Đệ Ngũ Cộng Hòa Pháp nầy phát xuất từ những ý kiến của Tướng De Gaulle không lấy gì làm Dân chủ lắm?
Và để bổ túc cái thiếu thốn về sanh hoạt Dân chủ ấy, dân chúng thường tự tổ chức những tổ chức Xã hội Công dân. Vì hệ thống (la structure) thiếu dân chủ, người ta tạo ra những diễn viên dân chủ (des acteurs) ấy, những xã hội công dân (sociétés civiles): hội đoàn, (ở Pháp là những Hội theo luật 1901 - tháng 7/1901; ở những quốc gia theo luật anglo-saxon, những hội đoàn không làm lợi nhuận (non profit organisation), nói tóm lại danh từ được gọi chung là những hội đoàn phi chánh phủ hay ngoài chánh phủ NGO (non gouvernemental organisations), là những diễn viên dân chủ có quyền hạn tham dự vào quyền lực quản trị, hành chánh của Nhà nước.
Nhưng, nếu chúng ta những nhà Luật học, chúng ta sẽ thấy rõ rằng, chúng ta phải kêu gọi cải tổ cái hệ thống dân chủ. Sau khi đề nghị cải tổ nền Pháp trị, bằng cải tổ lại ngành Tư pháp, chúng ta phải nghĩ ngay đến cột trụ thứ hai của một nền Dân chủ tân tiến: đó là ngành Giáo dục. Khác với thể thao, Chánh trị không phải chỉ cần có mặt tham dự thôi. Tham dự vào Chánh trị chưa đủ, cần phải có những hành động, lấy những quyết định. Hiện nay, ở các nước tiên tiến và nhứt là ở Pháp, chỉ có một số ít Trường dạy cho Công dân binh thường thành những Chánh trị gia có những hành động quyết định chánh trị: Harvard, Columbia ở Mỹ, Oxford, Cambridge ở Anh và ở Pháp chỉ một Trường độc nhứt vô nhị là ENA (Quốc Gia hành chánh). Làm sao phải đem những quan niệm chánh trị, kinh tế hành chánh vào các ngành nghề khác để tạo những người quản trị đất nước tương lai với những cái nhìn hổ tương với nhau, với những góc độ nghề nghiệp khác nhau, và xa hơn nữa với những tiểu sử giai cấp khác nhau.


Một lần nữa phải nói đến Việt nam để đo lường cái mức độ xa cách thiếu Dân chủ ấy. Toàn bộ bộ máy Hành chánh do Đảng Cộng sản chỉ đạo. Ghê gớm hơn và quỷ quyệt hơn, tất cả các bực thang hành chánh đều nhân đôi. Bên cạnh bộ máy Hành chánh của Chánh phủ và Nhà nước, bộ máy Hành chánh do Đảng nằm cạnh kiểm soát. Người dân phải bị kiểm soát hai lần, một lần, phần xác do hệ thống hành chánh “dân sự” với những cường hào ác bá, cửa quyền tham nhũng bóc lột, một lần thứ hai do các apprachiks, người của bộ máy Đảng Cộng sản kiểm soát, nhưng nguy hiểm hơn là ở phần tư tưởng tức là phần hồn. Cũng lại tham nhũng hà hiếp. Còn cá nhơn các nhà chánh trị gia quản trị, tất cả đều phát xuất ở một lò đào tạo: Chủ nghĩa Cộng sản Mác Lê-nin lỗi thời cũ rích phá sản từ đã trên 20 năm nay.

3/ Phát huy Dân chủ bằng cải tổ Tổ chức Xã hội hay bằng cải tổ nền Pháp trị:
Khi chúng ta nhìn vào những phúc lợi đang được hưởng ngày nay của những công dân của những quốc gia tiên tiến trong đời sống hằng ngày, chúng ta phải nhìn nhận rằng những tiên tiến ấy là do sự thắng lợi của những đấu tranh để cải tổ Xã hội, từ những điều kiện làm việc, những luật lệ làm việc, những điều kiện tổ chức ngày giờ giữa những ngày nghỉ, ngày làm việc, lương bổng,.... vân vân, đến những luật lệ xã hội, quỹ hưu bổng, tuổi về hưu... thậm chí đến quỹ Sức khoẻ, quỹ An Sanh Xã hội, Giáo dục và cưỡng bức giáo dục, nhà ở... Nhà nước cha mẹ, nhà nước bác ái (Etat providence), vì cưu mang công dân của mình từ lúc mở mắt chào đời đến tuổi già xuống lỗ, đã tạo nên nền ổn định Xã hội và củng cố một nền Cộng hòa (thí dụ của nền Cộng hòa Pháp). Tổ chức Xã hội, và Luật lệ Xã hội là điển hình của đời sống chánh trị của số đông các quốc gia Âu châu và đặc biệt nước Pháp. Thế nhưng, Luật Xã hội có thể xóa bỏ tranh chấp giữa những cộng đồng chủng tộc không? ... những tệ nạn xã hội vẫn còn: phân chia nam nữ (gender, sexisme), kỳ thị chủng tộc, hà hiếp kẻ dưới quyền, đuổi người vô cớ ... Tổ chức Xã hội không thể giải quyết mọi vấn đề, vì Tổ chức Xã hội không thay thế được tất cả đời sống chánh trị. Chỉ có cải tổ một đời sống chánh trị mới đem những cải thiện vào Xã hội , và muốn cải thiện đời sống chánh trị chỉ có Pháp luật – Một nền Pháp luật Chánh trị (Le droit politique). Lấy thí dụ ở nước Pháp, Quỹ An sinh Xã hội ra đời sau khi nước Pháp được Giải Phóng (khỏi bàn tay xâm chiếm của Đức quốc Xã), chứ không phải nước Pháp được Giải phóng bởi Quỹ An sinh Xã hội. Nói tóm lại, ngày hôm nay, nếu chúng ta cần phát huy những cải tiến về Dân chủ, nếu chúng ta cần phát huy những hướng tổ chức xã hội để cải thiện xã hội chúng phải có một nền Pháp Luật Chánh trị chung tiên tiến và dân chủ!
Còn Việt nam? Mang một cái tên chỉ là một cái vỏ không rộng tuếch. Cộng Hòa? Việt nam không phải là một Cộng hòa, vi thiếu nền Pháp trị, vì không có sự phân chia quyền lực, tam quyền phân lập, ở Việt nam là một cuộc phân nhiệm do Đảng Cộng sản chỉ đạo. Cũng từng ấy người cán bộ cao cấp lãnh ba nhiệm vụ khác nhau. Kể cả xã hội dân sự và quyền tham dự chánh trị của người dân, Dân biểu là đại diện dân do Đảng đề cử dân bầu để gọi là, các hội đoàn, đoàn thể do Đảng tổ chức đề cử Ban lãnh đạo và gom lại trong một bộ phận ngoài nhà nước là Mặt Trận Tổ quốc (nhưng do Đảng kiểm soát). Vì không có Đảng đối lập nên Dân chủ không có, còn định nghĩa Xã hội Chủ nghĩa thì Xã hội và tổ chức xã hội cũng không tìm thấy... Nói như vậy để nhắn với các vị đại diện Nhà Nước Việt nam Xã hội chủ nghĩa chớ tuyên bố định nghĩa từ ngữ các tư tưởng hay quan niệm như Dân Chủ Tự Do Nhơn quyền Độc lập làm gì! Mong quý vị cứ thẳng thừng mà nói, hãnh diện mà nói: chúng tôi là một nước độc tài, chúng tôi là Đảng Cộng sản, chúng tôi là người Cộng sản... chúng tôi cầm quyền. Ở Việt nam, không có Tự do, không có Nhơn quyền, không có Dân chủ. Quốc gia Việt nam là một quốc gia theo chế độ Cộng sản quốc tế, chúng tôi không có biên cương giới hạn lãnh thổ gì với anh láng giềng Trung Quốc, hai chúng tôi là một. Như vậy những người gốc Việt nam ở Hải ngoại tránh khỏi phải hiểu mù mờ, và các anh Tây phương cũng rõ ràng không đi thăm Việt nam bậy bạ rủi bị dân chúng Việt nam biểu tình đả đảo phải tông cửa sau mà đi. Tội nghiệp lắm!!!


Kết luận:


Sự tương khắc giữa những Nhơn quyền (cá nhơn) và những Luật lệ Nhà nước (cộng đồng)
Xã hội là một tổ chức lấy Cá nhơn con người làm trung tâm. Luật Pháp là một tổ chức lấy cộng đồng làm trọng điểm. Hai quan niệm ấy có mâu thuẩn với nhau. Như vậy Nhơn quyền và luật lệ Nhà nước có nhiều xung khắc. Từ ngàn xưa, những luật lệ của Nhà nước đã được phát xuất ra ngay từ những thời quân chủ thạnh hành, thế kỷ thứ XVI, thế kỷ thứ XVII để bảo đảm những thành tựu về nền Độc lập, về Chủ quyền của đất đai mình, và hệ thống hóa những liên hệ giữa nhà cầm quyền và công dân. Nhơn quyền trái lại sanh sau đẻ muộn vào thế kỷ thứ XVIII nhìn nhận những quyền tự nhiên và bất khả kháng của con người (công dân) đối với một Nhà nước cầm quyền. Những quyền con người ấy đã được tuyên bố trên những Bản Tuyên Ngôn Nhân quyền của thế kỷ thứ XVIII. Nhưng sự tương khắc ấy không phải lúc nào cũng có, vì những Nhân quyền chỉ được tôn trọng khi các Quốc gia cam kết bảo đảm sự tôn trọng, đó là các Quốc gia có nền Pháp trị, hay các quốc gia có nền Cộng hòa. Vì thế khi được đặt một câu hỏi về Nhân quyền và Nhà nước, nhà Triết học Emmanuel Kant (1724 Königsberg, ngày nay là Kaliningrad Nga – 1804 Königsberg) của thời đại Ánh Sáng (époque des Lumières) đã không ngần ngại trả lời rằng: “chỉ có một cách hòa giải Nhơn quyền với Luật Nhà nước là phải có một nền cộng hòa toàn diện (république universelle) và một nền hòa bình vĩnh cửu (une paix perpétuelle).”
Nhưng còn về phần những liên quan (ngoại giao) chánh trị giữa các Quốc gia với nhau? Đế quốc, độc tài, đảng trị, ..dân chủ, ...? Muốn có hòa bình, muốn có hòa giải, hai rào cản phải được né tránh: một là phương thức ngoại giao chánh trị úp úp mở mở, đu dây giữa sự khủng bố và sự tránh chấp biểu diễn sức mạnh của các Quốc gia có Pháp trị và những Quốc gia độc tài. Hai, sử dụng những lòng nhân đạo, bác ái vô biên của quần chúng, nhưng chỉ biết tố cáo tội lỗi của các Quốc gia dân chủ Pháp trị không làm tròn phận sự ngăn cản những sự xâm phạm Nhơn quyền của các quốc gia độc tài. Giữa giải pháp quá thực tế của real politics, và cái nhìn quá Đạo đức, một con đường trung dung có thể có chỗ đứng, đó là con đường của quyền Xen lấn Nhân đạo (ingérence humanitaire) và các Tòa Án quốc tế .
Mong thay!

Đối với Việt nam, con đường Xen lấn Nhơn đạo, sẵn sàng giúp đỡ người Việt nam, nhưng không giúp đỡ nước Việt nam và nhà cầm quyền Việt nam nếu những điều kiện Nhơn quyền thiếu thốn. Cũng đừng quên nhắc nhở cho các nhà lãnh đạo Việt nam nhứt là những Đảng viên Đảng Cộng sản Việt nam là họ vẫn là những người trách nhiệm những tội ác do Đảng Cộng sản Việt nam gây ra từ 70 năm nay: Cải cách Ruộng đất ở miền Bắc 1949 đến 1956, Thảm sát Tết Mậu Thân Huế 1968, Cải tạo thương nghiệp và Chế độ lao tù tập thể và cưỡng bách lao động những quân cán chánh và gia đình của chánh quyền miền Nam sau ngày 30 thánh Tư 1975, ... những Tòa Án quốc tế có thể được thành lập để xử họ.
Viết cuối năm 2008
Hiệu đính 24, tháng 5, 2010
Phan Văn Song


T.B: Tin nóng:
Trong tuần qua, dư luận trên các diễn đàn “lề trái” và cộng đồng bloggers được dịp nóng lên trước thông tin Trung tướng công an Vũ Hải Triều, Tổng cục phó Tổng cục an ninh, đã tự hào khoe thành tích: “Trong mấy tháng qua, bộ phận kỹ thuật của “ta” đã phá sập 300 báo mạng và blog cá nhân xấu”.
Thật không ai khảo mà khai: “Lạy ông tôi ở bụi nầy”. Khoe thành tích chống mạng “thông tin” và vẫn vênh váo hãnh diện lập thành tích khoe khoang rằng ViệtNam Cộng sản tôn trọng cái Nhơn quyền số 1 là “Quyền Thông Tin và Ngôn Luận”. Thật miễn bàn ./.

* Hồ chí Minh chỉ điểm Cho Pháp (1)
bắt Cụ Phan Bội Châu để lãnh số
tiền thưởng 100,000 đồng (piasters)!
_____________________________
Thiện Ngôn
sưu tầm

Thế chiến thứ II chấm dứt, đánh dấu sự nhượng bộ đối với chính sách thuộc địa của Pháp tại Đông dương,
Do đó ỏ VN, một chính phủ mới được thành lập lấy tên Chính phủ “Liên hiệp Lâm thời” (với bản Hiến Pháp 1946), bao gồm hầu hết các đảng phái QG và thành phần yêu nước.
Ít lâu sau vi hiện tình chính trị đòi hỏi, nên đã cải đổi thành CP “Liên hiệp Cách mạng”; cuối cùng chuyển qua “Mặt trận Kháng chiến Việt minh” tuyên chiến với Pháp.
Kể từ đó Hồ chí Minh mặc sức vẫy vùng, một mình một chợ!
Cũng kể từ đó tên gián điệp Cộng sản quốc tế, Nguyễn ái Quốc hay Hồ chí Minh đã ngang nhiên du nhập học thuyết Mác-Lê và tư tưởng Mao trạch Đông đem áp đặt trên toàn cõi đất nước Việt Nam.
Bằng chứng Hồ chí Minh và đồng bọn cho thay thế Hiến Pháp 1946 –“Dân chủ, Pháp quyền” bằng Hiến Pháp 1959,1976, 1980 và 1992 …”Chủ nghiã Độc tài, Cộng sản” tại miền Bắc và toàn cõi VN sau này.
Là “một kẻ thời cơ”, họ Hồ đã không từ bỏ một việc gì nhắm có lợi cho hắn và Đảng CS.
Một trong những tội sát nhân của họ Hồ là thủ tiêu, thanh toán những thành phần yêu nước QG bằng mọi cách; điển hình là việc Hồ chí Minh chỉ điểm (1) cho thực dân Pháp bắt Cụ Phan Bội Châu tại Thượng hải (năm 1925); khiến ‘Phong trào Đông Du’ do cụ Phan khai sáng bị gián đoạn; mối hy vọng dành lại nền độc lập ‘không đổ máu’ trong tay người Pháp của nhà cách mạng lão thành họ Phan vì thế mà tan rã.

Ghi chú: (1)
(i) Vietnam: A History, tác giả Stanley Karnow, nhà xuất bản Viking, trang 112: “ Constantly hounded by French agents, Phan Boi Chau lived furtively, traveling from Vietnam to China to Hong Kong to Japan to Siam and back to Vietnam. In 1925, he was still on the run at the age of fifty-eight, when French operatives in Shanghai finally caught him. According to some accounts, he was betrayed by Communist rivals. Tried in Hanoi on charges of sedition, he (Phan Bội Châu) died under house arrest in Hué fifteen years later.”
(ii) Inside the VC and the NVA- The real story of North Vietnam’s armed forces- tác giả Michael Lee Lanning và Dan Cragg, nhà xuất bản Ivy Books, trang 38: “ To the masses he was Bac Ho –“Uncle Ho”- but he was also utterly ruthless and implacably cruel when he had to be.
In June 1925, for a reward of 100.000 piaster, he betrayed the Vietnamese nationalist Phan Bội Châu to the French, thereby collecting some badly needed revenue for his political activities and at the same time eliminating a potentially dangerous rival. Under his leadership, the Vietnamese Communist Party routinely engaged in extortion, torture, and murder. Many of the Vietnamese who saw this side of Uncle Ho did not like him at all…”



Cố Giáo sư Nguyễn Thiệu Lâu viết:
“Ký ức về cụ Phan Bội Châu”

Cách đây thấm thoát đã hai mươi năm rồi, tôi có ở Huế, nhà ở trên dốc Bến Ngự, gần nhà cụ Phan.
Tôi đã được cụ cho hầu chuyện nhiều lần.
Trước đây, mười mấy năm, tôi có dịp vào Huế, có lên viếng mộ cụ, đặt ngay trong vườn nhà cụ ở trước.
Bây giờ, nhớ tới cụ, tôi chép ra đây một vài ký ức.

* * *
Hồi đó tôi giảng học ở Trường Khải Định, giảng về môn Sử ký và Địa lý. Vốn ngưỡng mộ cụ đã lâu, nhưng không biết làm thế nào được cụ cho tiếp kiến, tôi bèn nhờ một vị phụ huynh học sinh nói trước xem cụ có cho tôi được gặp cụ không. Cụ trả lời tương tự như sau này:
“ Các ông Tây học như bây giờ, khó nói chuyện với các ông ấy lắm, vả lại tôi già rồi, lẩm cẩm, lỡ có câu gì lầm, không những người ta sẽ cười mà còn có thể mang vạ đến mình”.

Vị đó khẩn khoản mãi Cụ mới ưng thuận cho tôi đến hầu một buổi sáng Chủ nhật.

Lên khỏi dốc Bến Ngự, đến chỗ đất bằng qua ngã ba chùa Từ Đàm, ở bên tay trái, bên cạnh đường là nhà Cụ.

Một cái cổng tre con, ở giữa một hàng rào cây xanh, một cái sân đất, ở giữa có trồng mấy cây cảnh lơ thơ, rồi đến một cái nhà tranh, ba gian hai trái.

Trước khi tôi lên trên hè thì thấy một thanh niên độ hai mươi lăm tuổi, chân đi đất, quần nâu, áo cánh trắng, ở cửa bên, trong căn nhà đi ra.

- Thưa, ông lại gặp Cụ tôi?
- Thưa vâng.
- Mời ông vào chơi, Cụ tôi có nhà.

Qua cửa, tôi thấy ở gian giữa, trên một bộ ván thấp, có trải một cái chiếu đã cũ, ngồi tựa lưng vào bàn thờ gỗ mộc, trên có bộ đồ thờ gỗ mộc, giữa chiếu đặt tích nước, đĩa chén, ngọn đèn hoa kỳ và cái điếu cầy: Đó là Cụ Phan.

Cụ mặc cái quần nâu đã cũ, cái áo cánh kiểu Huế, có nút cài dưới nách. Cụ ngồi, nhưng tôi nhận thấy Cụ, thân hình vạm vỡ, trán hói thật cao, bộ râu dài, đôi mắt sang quắc…

Tôi vái chào Cụ, Cụ vẫn ngồi, nhưng ngẩng đầu về đằng trước, miệng nói “Chào ông”, và tay chỉ chỗ cho tôi ngồi trên chiếu.

- Thưa Cụ, con không giám thất lễ.

Rồi tôi tìm một cái ghế đẩu, đem lại ngồi né một góc bộ ván.

Người thanh niên lúc nẫy rót nước mời tôi.

Cụ rít một điếu thuốc lào rồi thở khói lên trần nhà. Tôi không quên được bức tranh tuyệt đẹp là cái gương mặt phương phi, cái trán cao, bộ râu dài và bạc phơ của Cụ, lộ dần ra…
Trong đám khói trắng.

Rồi Cụ hỏi tôi về việc dậy học ra làm sao, học trò có đông không, có chịu học không, vân vân…
Xong tôi vấn an Cụ. Trong mấy câu Cụ trả lời, tôi còn nhớ câu: “ Ông trông, tôi chưa chết ”.
Câu chuyện chẳng có gì đặc biệt, nhưng cũng kéo dài đến nửa giờ.

Tôi thấy các trẻ em độ mười đến mười lăm tuổi, chân đi đất, đầu húi trọc, áo cánh, cắp mấy quyển vở giấy bản, tốp hai, tốp ba, qua cổng đi vào.

- Ấy, mấy cậu học trò tôi.
- Thưa, Cụ dậy học?
- Có chứ! Dạy cho vui, Vả lại, tôi biết dăm ba chữ, bảo lại cho lũ trẻ…

Tôi muốn ở lại xem Cụ dạy học, nhưng lại sợ đột ngột quá, nên tôi xin Cụ cho phép được về.
Cụ dặn rằng: “Đã biết tôi, thỉnh thoảng ông sang chơi bên tôi cho vui.”

Tôi chắp tay vái Cụ xin về. Cụ vẫn ngồi yên, tựa vào bàn thờ, rít một hơi thuốc lào thật dài; rồi vừa thở khói, vừa gật đầu.

Sau cuộc gặp Cụ đầu tiên, tôi thường cứ dăm ngày lại hầu chuyện Cụ. Cụ coi tôi như con cháu trong nhà.
Buổi chiều thường về mùa Hạ, từ bốn năm giờ cho đến tối, Cụ ngồi uống rượu một mình.
Mâm rượu thường chỉ có vài bìa đậu phụ, quả khế, quả ớt, thỉnh thoảng vài ba miếng thịt.
Nhiều khi tôi sang, thuờng gặp Cụ đương uống rượu, Cụ cho ngồi vào hầu và thật là những dịp rất may mắn cho tôi, để nghe Cụ kể những mảnh đòi bôn ba chìm nổi của một nhà cách mạng, trong khoảng ba mươi năm hoạt động, lúc thăng lúc trầm…
Tôi nghe Cụ chỉ thấy tâm hồn tôi dần dần thu thập được ý nghĩa Quốc gia, và Dân tộc; phải gian lao mới có thể dành độc lập cho quốc gia, và giải phóng được dân tộc.
Nhưng tôi đã rất tiếc là đã không ghi được những tài liệu lịch sử Cụ cho về Hoàng Hoa Thám, về đời cách mạng của Cụ ỏ Tàu, ở Nhật, về Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, về các vụ bạo động ở Hànội.

* * *

Một hôm Cụ đang nhắm rượu với mấy quả mơ xanh chấm với muối, Cụ hỏi tôi tựa như sau này:
“ Trong Tam-Quốc có đoạn nói về Tào-Tháo uống rượu nóng với mơ xanh mà bàn luận anh hùng với Lưu-Bị.
Ý ông về quan niệm của Tào-Tháo như thế nào?”.

Tôi không biết trả lời ra sao.

Cụ tiếp: “ Tào-Tháo hẹp hòi lắm. Người anh hùng là người có chí lớn và có lòng kiên nhẫn và có tài để thực hiện chí đó. Nhưng thành hay bại, không do mình định trước được. Nếu thành thời lịch sử ghi tên, nếu bại thời là vô danh anh hung…”

- Thưa, chắc Cụ đã biết nhiều vị cách mạng của ta bị thất bại.
- Tấ cả các nhà cách mạng là anh hùng…

Hai con mắt mơ màng, Cụ đã không trả lời câu hỏi của tôi, chắc Cụ đã nghĩ tới các vị đồng chí của Cụ.

Rồi, chậm rãi Cụ tiếp: “Thất bại là lỗi tại mình. Nhưng cũng vì thời cơ chưa đến…Vả lại, người ta quá khôn, dân ta quá dại.”

Tôi hiểu Cụ ám chỉ “người ta” là ai?

Cụ không nói thêm nữa.

Bây giờ sau hai mươi lăm năm Cụ dạy, tôi nhận thấy là “người ta”, vì quá khôn nên đã thất bại nhục nhã, còn dân ta, sau khi dại, đã trở nên khôn.
Nhưng sự khôn này đã phải trả bằng biết bao nhiêu thế hệ, và thứ nhứt, mới đây, biết bao hy sinh sương máu mà trong hơn muời năm trời dân chúng điêu linh. Mà số các vị anh hùng nam, nữ đã có hàng triệu là vô danh anh hùng. “Người ta” quá khôn, nhưng cái khôn này là cái tham vô độ, thời tham mãi sao được?

* * *

Một buổi chiều mùa Hạ, tôi sang hầu Cụ, thấy Cụ ngồi ở ngoài sân. Trên một cái chõng.

Cụ đang đọc sách.

Tôi mạn hỏi sách gi.

Cụ nói bộ sách Xuân Thu

Rồi Cụ giảng cho tôi rất nhiều về Hán học.

Cụ ngồi tựa vào cái gối gỗ, dưới đất là ấm nước và một cái tô. Cụ uống một tô đầy, rít một điếu thuốc lào, trong cái điếu cầy tre, rồi Cụ bảo:

- “Tôi không mời ông sang uống nước, vì là nước vối. Nhà hết trà. Có người bà con ở Hànội vào cho ít lá vối khô và vài bánh thuốc lào Vĩnh Bảo.”

Cụ nói câu đó rất tự nhiên, vì tính Cụ tự nhiên lắm.

Bây giờ tôi mới thấm thía.
Được Cụ giảng cho ý nghĩa kinh Xuân Thu, nhưng Cụ không cho uống nước vối vì Cụ nghĩ rằng nước vối là thứ nước của người nghèo.

Nghèo như Cụ mới thật là sang.

Tôi nhân dịp hỏi Cụ về các sách Cụ trước tác, về bộ Ngục Trung thư và bộ An nam vong quóc sử
Cụ trả lời, và hai con mắt sáng quắc trở nên mơ màng:

- “Tôi trót đã viết hai bộ sách đó vì nó ghi tên tôi để lại…Nhưng ông kiếm mà xem kể cũng không vô ích…


Các con Cụ có cho tôi bết là Cụ để lại một chúc thư mà Cụ Huỳnh Thúc Kháng giữ.
Chúc thư này đã được đăng ngay trên báo Tiếng Dân ở Huế.
Tôi có lại tòa báo, xin yết kiến Cụ Huỳnh và xin Cụ cho biết vài đoạn bị kiểm duyệt.
Cụ Huỳnh bảo tôi:
-“ Đây là chúc thư của Cụ cho dân tộc. Người ta kiểm duyệt vài đoạn, ông chưa nên biết vội.”

Năm 1946, Cụ Huỳnh ở Quảng-Nam ra Hànội, tôi có được Cụ Huỳnh cho tiếp kiến và tô cũng có dịp được gần Cụ.
Có một lần, nhắc lại chuyện xưa và xin Cụ cho biết sơ qua mấy đoạn bị kiểm duyệt. Cụ trả lời:
-“ Biết làm gì? Hành động là đủ, theo gương Cụ.”

Cụ Huỳnh mất vào năm 1947, nghĩa là bẩy năm sau Cụ Phan. Chắc ở dưới suối vàng, Cụ đã kể cho Cụ Phan tất cả những sự gì xẩy ra trên đất Việt Nam, từ ngày kẻ khuất người còn…từ năm 1940 đến năm 1947.

Mộ Cụ Huỳnh đặt trên núi Thiên-Ấn (Quảng Ngãi).

* * *

Tang thương biến cải, con người trôi nổi như cái bèo, cái bọt trên dòng nước lũ, lắm khi nhớ tới người xưa, tôi nghe văng vẳng bên tai câu của Cụ Phan: “người ta quá khôn, dân ta quá dại” và câu của Cụ Huỳnh :” Hành động là đủ, theo gương của Cụ.”

Nguyễn-Thiệu-Lâu
1964

Sunday, May 30, 2010

NHÓM CU SI CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO LÀ AI ???


From: Ton That Son To: Thanh Lien ; tranvantich@ hotmail.deSent: Thu, May 27, 2010 7:12:01 PMSubject: Hoi dap


Anh Thành,

1.Tôi luôn luôn đứng sau lưng hay bên cạnh Anh để cùng nhau chống VC nằm vùng.
Thưa Qúy Vị quan tâm,Sau khi quyển sách Biến Động Miền Trung do Ông Liên Thành, cựuCảnh Sát Trưởng tỉnh Thừa Thiên và thành phố Huế ra đời, thì một nhúm gọi là Nhóm Cư sĩ Chấn hưng Phật giáo vội vã ra đời theo tôivới mục đích đối chọi với những Sự Thật do Ông Liên Thành đưa ra.Tại sao Nhúm đó phải vội vã làm như thế ? Theo tôi nhúm có 2 mục đích:-Vừa chối tội góp phần phá nát Miền Nam VN khiến cho CS Bắc Việtnuốt chửng miền Nam sau khi cấu kết với anh '' đồng minh '' Hoa Kỳ vì nhu cầu chạy làng, khiến hàng triệu triệu người VN tan nát đauthương, cho đến nay vết thương vẫn tiếp tục rỉ máu;-Vừa đánh phá Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất dưới sự lãnh đạo của đại lão HT Quảng Độ, trong mấy chục năm nay bị nhà nước VC trù dập.


Vậy Nhúm Người nầy là ai? Có hai phần: Bí mật và công khai.

1- Bí Mật-Ủy ban Tôn Giáo nằm trong trong tồ chức Mặt Trận Tổ Quốc, một tổ chức ngoại vi, hay cánh tay nối đài của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Người chỉ huy Ủy ban Tôn Giáo hiện tại là Phan Duy Nhân, một thành viên tranh đấu sắt máu của ông Trí Quang năn 1966. Y từng bị Ô.Liên Thành bắt đưa đi an trí ở đảo Côn Sơn vì hành viviệt-cộng.

Bây giờ Phan Duy Nhân chỉ huy ủy ban nầy, nghạch trật của y tương đương với chức vụ Thứ truởng, vì Mặt trận tổ Quốc hình thức như một Bộ của VNCH.Dứơi Phan Duy Nhân là đám Giao Điểm, phải kể : +đứng đầu là Hòang Văn Giàu, phụ khảo giáo sư Đại học Huế,một huynh trưởng phật tử, một kẻ trong nhóm Phật giáo tranh đấu sắt máu tại Miền Trung trong thời điểm Biến Động Miền Trung; +tiếp đó là Nguyễn Đắc Xuân, một hung thần đao phủ đói với Bà Con Huế trong Tết Mậu Thân; +Trần Quang Thuận nguyên chú tiểu của chùa Linh Mụ được gởi đi du học , sau lấy vợ. Sau 1963, với quyền lực của Trí Quang, Trần Quang Thuận là bộ Trưởng Xã Hội. +Bùi Tuởng Huân anh rễ của Liên Như làm Bộ trường giáo dục. +chồng của Liên Như là Luật sư Tài, 30/4/1975 ngấp nghé ghế thứ trưởng Quốc Phòng, phụ tá cho ngừoi anh cột chèo Bùi Tuờng Huấn Bộ trưởng Quốc phòng.

Tất cả đều do một tay Trí Quang sắp đặt trong chỉnh phủ Hòa Giải, nhưng mộng không thành. +Sau đám Giao Diểm, còn có đám Về Nguồn và đám sư quốc doanh ở hải ngoại.

2.Mặt nổi.
Bọn chúng đưa Trương Khôi lấy biệt danh BQK ra làm mặt tấn công LT với mục tiêu quyết hạ uy tín của LT và làm mất lòng tin của mọi ngừoi, hầu đánh sập phong trào ,tổ chức truy tố tội ác của bọn chúng.Trương Khôi, sinh quán quận Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, vốnhuynh trưởng Gia Đình Phật Tử chùa Phật Giáo Việt Nam tại Quận triệu Phong. Trụ trì chùa nầy là Thích Chánh Trực, một cán bộ Cộng Sản, sau nầy y làm trụ trì Chùa Kim Tiên trên Nam Giao gần chùa Tường Vân.

Trứơc 1966 và trong thời gian tranh đấu 1966 Trương Khôi làm nghề thâu thuế chợ Đông Ba, nhưng phụ trách Tiểu thương Phật Tử Chợ Đông Ba. Mỗi lần Trí Quang ra lệnh đình công bãi thị y có nhiệm vụ đi kêu gọi tiểu thuơng đóng cửa xuống đường biểu tình theo lệnh.Sau sau năm 1966 Trương Khôi gia nhập Cảnh sát Thùa thiên, cấp bậc Trung sĩ, cấp bậc thấp nhất của Cảnh sát là Trung Sĩ. Y bị LT ký lệnh sa thải vì bảo bọc cờ bạc . Sau cảnh sát y qua Xây xựng nông thôn đi từ đòan viên lên Quận đòan trưởng Xây Dựng Nông thôn quận Phú Thứ,tỉnh Thừa Thiên.Trương Khôi chưa xong trung học đệ nhất cấp, thế mà khi '' ramắt sách, anh ta xưng là cựu SV Việt-Hán. Cuốn sách '' Huế Ơi Oan Nghiệt '' là do đám Giao điểm, Về nguồn mà tôi vừa kể trên viết, y chỉ đứng tên mà thôi.Xin hỏi, đã là sinh viên tất phải có bằng Tòan phần tại sao lại đi Trung sĩ cảnh sát , sau đó là đòan viên XDNT mà không đi sĩ quan vì thế hệ của chúng ta, đàn ông chúng tôi, hoặc là đi dạy hoặc là đi Sĩ quan mà thôi.

Địa chỉ Trương Khôi : 4101 E.Hwy 50 - Apt# 17- Garden City, KS. 67846 - Cell: 615-238-7753 Email : nxbthuonghue@ gmail.com.

Lê Quang Dật: Nguyen nhân viên CSQG, bị bắt, bị sa thải vì làm nội tuyến cho Việt Cộng, hiện là cán bộ CS trong ủy ban tôn giáo vận của VC tại Hải ngoại, huynh trưởng gia đình Phật Tử Thích Quảng Đức tại Cali. USA. Phật tử sinh họat tại Chùa Điều Ngự tại nam Cali. Anh ta là một trong những người đứng ra tổ chức buổi ra mắt sách của BQK/Trương Khôi.

Tóm lại anh chị em Ủy ban TTTA đảng Cộng Sản Việt Nam và LiênThành đang đương đầu với bọn Cộng Sản tại hải ngoại./-

TTS.

Nhân Chứng Tội Ác Việt Cộng ở Tết Mậu Thân 1968.


Kính thưa Ông Liên Thành,

Tôi xin tường thuật lại chi tiết những cái chết đau thương của ông nội tôi, ba người anh, cùng một người bạn của họ, như là một nhân chứng còn sống sót sau tết Mậu Thân như là tiếng kêu oan cho gia đình tôi, cho linh hồn của những người thân trong gia đình, gia tộc tôi cách riêng, và cho những người dân Huế nói chung, thay cho tất cã những ai bị sát hại trong tết Mậu Thân 1968 bây giờ còn kẹt lại VN không có cơ hội để nói lên những oan khiên mà họ đã gánh chịu bởi Đãng Việt Gian Cộng Sãn, và bè lũ tay sai khát máu giết hại dân lành vô tội như anh em Hoàng Phủ Ngọc Phan và Nguyễn Thị Đoan Trinh v.v…
Thưa Ông,
Năm 1968, tôi đang là sinh viên năm thứ nhất trường Cán Sự Điều Dưỡng Huế. Ngoài những giờ học lý thuyết chung tại trường, bọn sinh viên chúng tôi được chia thành nhiều toán. Mỗi toán từ 8- đến 10 người, luân phiên thực tập ở các trại bệnh trong BV Trung Ương Huế.
Có những trại bệnh sinh viên thực tập theo giờ hành chánh. Có một vài nơi, như phòng cấp cứu, phòng bệnh nội thương … thì giờ thực tập được chia làm ba ca, sáng, chiều và đêm … Ca sáng từ 7giờ đến 2 giờ chiều, ca chiều từ 2 giờ đến 9 giờ tối, và ca đêm từ 9 giờ tối cho đến 7giờ sáng hôm sau.
Mỗi một nơi chúng tôi được thực tập từ 2 đến 3 tuần lễ.
Hai tuần trước tết, toán của tôi được chia phiên thực tập ở phòng cấp cứu. Ngày mồng hai , tôi và hai anh bạn vào ca đêm.
Tết năm nay ba tôi bận đi hành quân xa không về kịp ăn tết.
Thường thì mấy anh em tôi năm nào cũng vậy, đều phải về nhà ông bà nội từ trước ngày 30 tết, ở luôn cho hết ngày mồng một, rồi sau đó mới được tự do đi chơi, thăm viếng bạn bè…
Sau bữa cơm tối mồng một tết, khoảng 8 giờ 30 Anh hai lấy xe Honda của anh đưa tôi tới BV, và nói sáng mai anh sẽ đến đón.
Tối mồng một tết phòng cấp cứu hơi vắng, chúng tôi, mấy anh sinh viên y khoa và hai người nhân viên phòng cấp cứu nói đùa với nhau rằng hôm nay tụi mình… hên! Chúng tôi mang một ít mứt bánh ra vừa ăn vừa nói chuyện, vừa thay nhau thăm chừng những bệnh nhân mới nhập viện từ đêm qua chưa được chuyển trại.
Nhưng qua nữa đêm thì bắt đầu nghe có tiếng súng . Tiếng súng lớn, nhỏ, từ xa rồi mỗi lúc một gần. Chúng tôi thốt giựt mình, băn khoăn nhìn nhau, hoang mang lo sợ. Bầu không khí bắt đầu căng thẳng, mấy anh sinh viên y khoa thì nghe ngóng bàn tán, thắc mắc không biết tiếng súng từ đâu vọng lại…


Lúc đầu chúng tôi tưởng là thành phố Huế và BV bị pháo kích, nhưng không ngờ, chừng 3, 4 giờ sáng, bất thần không biết tứ ngỏ ngách nào có chừng mười mấy người tràn vào phòng cấp cứu, họ xưng chúng tôi là quân giải phóng. Đa số mặc áo quần đen, súng mang vai , bị rết ngang hông. Họ bắt tất cã chúng tôi băng bó cho một số người bị thương, đồng thời hò hét chia nhau lục soát, vơ vét, và lấy đi một số thuốc men, bông băng, dụng cụ y khoa v.v… Họ lấy sạch không chừa lại một món nào, kể cã những bánh mứt chúng tôi để trong phòng trực.
Trong lúc bọn họ đang tranh nhau lục lọi, thì ầm một cái, một tiếng nỗ rớt rất gần, đâu đó trong BV, rồi tiếng thứ hai, thứ ba…rớt ngay con đường phía trước cổng chính BV, kề phòng cấp cứu… Điện trong phòng cấp cứu vụt tắt. Thừa lúc bọn chúng nhốn nháo kéo nhau đi, chúng tôi mạnh ai nấy tìm đường chạy thoát thân.
Ra khỏi phòng cấp cứu tôi cắm đầu chạy, tôi không định hướng được là mình đang chạy đi đâu. Súng nỗ tư bề, cứ nằm xuống trốn đạn , rồi đứng lên chạy, cứ thế mà chạy. Chạy bất kể tả hữu. Cho tới khi tôi đâm sầm vào một người , định thần ngó lại mới biết đó là cha Trung, tuyên úy của BV. Cha từ phía một trại bệnh nào đó tình cờ chạy về phía tôi. Nét mặt cha cũng thất thần, đầy vẻ lo âu, nhận ra tôi, cha hỏi “ con ở mô chạy lại đây?” Tôi nói “ từ phòng cấp cứu”. Vừa nói vừa theo cha, chạy về phía nhà nguyện của BV và cũng là chổ ở thường ngày của cha. Đến đó thì đã có hai bà xơ dòng áo trắng và vài người nữa không biết từ trại bệnh nào cũng chạy lại đây. Tôi nhận ra trong số đó có xơ giám thị suốt trong sáu năm tôi nội trú tại trường trung học Jeane d’ Arc.
Cha Trung quen biết ông nội và ba mạ tôi, thỉnh thoảng ngài có ghé đến thăm ông nội nhà ở đường Hàm Nghi, nên ngài biết tôi. Không biết chạy đi đâu nữa tôi ở lại đó với cha hai bà xơ, và mấy người nữa.
Bốn năm ngàyliền chúng tôi chui rúc trong nhà nguyện, không dám chạy ra ngoài và cũng không liên lạc được với một ai từ những trại bệnh khác. Súng nỗ tư bề nên ai ở thì cứ đâu ở đó.
Sau khi đám người xưng là “quân giải phóng” ở Cấp Cứu kéo nhau đi chúng tôi không gặp, không thấy bọn VC nào nữa, hay chúng đang lẫn trốn trong những trại bệnh khác thì tôi không biết.
Tới ngày thứ năm, ruột gan như lửa đốt, không biết ông bà nội, mạ và mấy anh em tôi trên đường Hàm Nghi ra sao. Tôi nói với cha Trung, cha ơi con muốn muốn về nhà. Cha bảo, không được, súng đạn tư bề, nguy hiểm lắm, cứ ở đây với cha và mấy xơ đi đã, khi mô có lính mình xuất hiện thì mới đi được.Tôi hỏi, khi mô thì lính mình mới tới, cha nói không sớm thì muộn họ cũng sẽ phản công thôi, cha nói như để trấn an tôi và mọi người thôi chứ trên mặt cha thì vẫn đầy vẻ lo âu…
Không biết nghe tin từ đâu mà một người trong nhóm nói người ta chạy vô ở trong nhà thờ Phủ Cam đông lắm. Tôi nghe càng nóng lòng muốn chạy về nhà. Muốn đi phần vì sốt ruột muốn gặp mạ với mấy anh em tôi , phần vì đói. Đã mấy ngày không có gì ăn ngoài mấy ổ bánh mì cứng còng của Caritas còn sót lại ở nhà nguyện chúng tôi chia nhau gặm…cầm hơi!


Tôi quyết định chạy về tìm gia đình .Tôi liều. Trên người tôi chỉ có bộ đồ đồng phục dính đầy máu , tôi chạy ra phía sau cổng BV, tìm đường về nhà. Vừa chạy vừa lo, ngó tới, ngó lui không một bóng người, nhưng tiếng súng thì nghe rất gần. Không biết mấy lần vấp, tôi té xuống. Té rồi lồm cồm bò dậy, vài bước lại vấp té. Tôi lạnh run , hai hàm răng đánh bò cạp, nhìn cảnh tượng xác người nằm đây đó, máu me đóng vũng, Không biết họ bị thương đâu đó ở bên ngoài chạy vào gục chết ở đây. Quá sợ hải, tôi định chạy trở lại nhà nguyện thì bất thần thấy anh Văn hớt ha hớt hải từ cổng sau BV chạy vô.
Văn là bạn của anh Hải, anh kế tôi, hai người cùng học ở Văn Khoa. Nhà Văn ở miệt trên, gần dòng Thiên An. Mặt mày Văn xanh xao , hai mắt thất thần, trủm lơ, gặp tôi Văn lắp bắp, nói không ra hơi. Ti ơi thằng Hải bị bắn chết rồi. Hắn bị bắn ở bên Văn Khoa. Toàn thân run rẫy, tôi khuỵu xuống .Văn đỡ tôi đứng lên. Lại có tiếng nổ rất gấn. Văn hoảng hốt kéo tôi chạy lại ngồi xuống bên trong bức tường sát cánh cổng sau BV. Hai đứa tôi run rẫy ngồi sát vào nhau.Lát sau, tiếng được tiếng mất, anh lắp bắp kể. Văn nói mấy đêm rồi Văn với mấy người anh của tôi trốn đạn trong nhà thờ Chánh Tòa, { nhà thờ Phủ Cam } nhưng rồi đêm qua có mấy sinh viên của mình dắt một toán VC vô nhà thờ đọc một lô danh sách, họ lùa người đi đông lắm, không biết họ đưa đi đâu.Văn kể một hơi mấy tên “sinh viên của mình” nhưng bây giờ tôi không còn nhớ nổi.
Khi đám người bị lùa đi, thân nhân của họ khóc la thảm thiết.
Sau đóVăn, anh Hải cùng mấy người bạn rủ nhau trốn ra khỏi nhà thờ và mạnh ai nấy tìm đường trốn.
Ra khỏi nhà thờ, không biết trốn chui, trốn nhủi, chạy quanh, chạy co, làm sao mà Văn với anh Hải lại tới được trường y khoa. Anh Lộc, anh Kính đi lạc hướng nào không biết. Hai anh hè nhau chui vô phòng thí nghiêm trốn thì thấy có vài người đã bị bắn chết từ bao giờ mà những vũng máu đọng dưới họ còn tươi lắm. Văn, anh Hải hoảng hồn chạy trở ra. Chưa ra khỏi cửa thì gặp Hoàng Phủ Ngọc Phan và Nguyễn thị Đoan Trinh cùng mấy sinh viên khác nữa Văn không biết tên, chỉ biết họ đồng bọn với HPNP. Văn biết mặt Phan là vì Văn có người anh học y khoa cùng lớp với Phan.
Gặp Văn, Phan nạt nộ, tụi mi chạy trốn đi mô? Khôn hồn thì chạy qua bên Văn Khoa tập trung ở đó để đi tải thương! Hải và Văn biết không thể nào thoát khỏi sự kiểm soát của bọn HPNP nên vội vàng chạy bộ xuống Văn Khoa, hy vọng bị bắt đi tải thương chứ không bị giết.
Bọn Trinh , Phan chạy xe Honda nên họ tới trước, và cũng đã bắn trước một số người khác rồi. Hải ,Văn không biết nên lúc thúc chạy đến. Anh Hải chạy vô trước, nghĩ là sẽ gặp được một số bạn bè khác, cùng đi tải thương với nhau như lời HPNP nói.
Vừa vô tới giảng đường thì anh Hải bị HPNP bắn gục ngay. Văn mắc đi cầu, tìm chổ phóng uế nên chạy vô sau anh Hải. Mới tới cửa thì nghe tiến súng , tiếng hét của anh Hải, Văn quay đầu bỏ chạy. Chưa kịp rượt theo Văn thì bỗng ầm, một tiếng nổ đâu đó, trong sân trường đại học, khiến HPNP và đồng bọn hoảng hốt leo lên xe Honda tháo chạy. Văn thoát chết, chạy như điên, như khùng, chạy vô BV, và tình cờ gặp tôi trong đó.
Nghe anh Hải bị bắn trong sân đại học Văn khoa, tôi bỏ ý định về nhà, tôi muốn chạy qua Văn khoa tìm anh tôi, hy vọng anh chưa chết, tôi nghĩ sẽ tìm cách đưa anh vô Bv cấp cứu. Tôi khóc nói với Văn, em tới chổ anh Hải. Văn can, Ti đừng đi, tụi nó có thể trở lại. Tôi mặc kệ Văn ngồi đó, vùa khóc vừa chạy.Một lát nghe tiếng chân Văn sau lưng, miệng thì nói, Ti ơi, vô BV trốn đi, Hải nó chết thiệt rồi, mà chân vẫn bước theo tôi.Tôi như người mất hồn, vừa đi, vừa chạy, vừa khóc. Trời ơi, thật là khủng khiếp, chỉ một đoạn đường từ cổng sau BV tới sân trường VK mà không biết bao nhiêu là xác người, áo quần vung vãi khắp nơi.


Chúng tôi chạy mới tới trường trung học Jeane d’Arc, thì gặp bọn HPNP lấp ló trước cổng trường với một nhóm bộ đội Bắc Việt.Người nào mặt mày đằng đằng sát khí. Gặp lại Phan, Văn run rẩy, Phan chưa kịp nói thì Văn đã lắp bắp phân trần , em qua BV kiếm con Ti chớ em không có trốn mô, và xin xỏ , anh cho em với con Ti đem xác thằng Hải về nhà rồi em trở lại đi… tải thương !
Phan không trả lời Văn, hắn nhìn tôi ác độc, mi về nhà kêu thằng Lộc, thằng Kính xuống đây mà đem thằng Hải về. Tôi líu lưỡi, em không biết hai anh em ở mô mà kêu. Trước đây tôi không hề biết mặt HPNP, mà cũng chưa hề nghe nói tới tên người này vì trước năm 68 tôi còn là học sinh trung học.Có thể các người anh của tôi thì biết, vì họ là những lớp sinh viên đàn anh, đã từng qua những khó khăn đối đầu với đám sinh viên theo phe “ tranh dấu, lên đường xuống đường” của những năm trước.
HPNP to nhỏ gì với những người đồng bọn rồi quay lại ra lệnh cho tôi với anh Văn đem xác anh Hải về nhà. Chưa biết nghĩ cách nào để đem xác anh Hải về thìVăn thấy một chiếc xích lô của ai bị bể bánh xe sau, nằm chơ vơ cạnh vách tường trường Jeane d’Arc.
Văn gọi tôi theo anh. Chúng tôi đẩy chiếc xích lô sứt cọng gẫy càng về phía Văn khoa. Có chừng 10 xác người trong đó. Tôi không dám nhìn lâu. Chúng tôi hè hụi khiêng Hải bỏ lên xích lô. Xác anh đã cứng. Đùm ruột lòi ra ngoài trông rất khủng khiếp. Hai mắt vẫn còn mở trừng. Miệng vẫn còn há ra.
HPNP vừa đánh anh Văn bằng báng súng vừa chửi. Chuyến ni mi trốn nữa , mi gặp lại tau là mi chết! Văn run rẫy lắp bắp, dạ lạy anh, em không dám nữa mô. Rồi chúng tôi hè hụi đẩy chiếc xích lô mang xác người anh xấu số của tôi nhắm hướng cầu Kho Rèn đi lên. Nhà tôi ở trên đường Hàm Nghi. Qua khỏi cầu một chút. Suốt quảng đường từ đó về đến nhà, có rất nhiều đám lính bộ đội Bắc Việt đứng tụm năm, tụm ba. Chúng tôi không bị bắt giữ lại vì có HPNP chạy đi trước ra dấu cho họ để cho chúng tôi đi.
Khúc đường ngang trường Thiên Hựu cũng có rất nhiều xác người nằm rải rác. Nhiều vũng máu cũng như xác người bị ruồi bu đen. Đã mấy ngày không có gì trong bụng,tôi vừa đi vừa ói khan. Văn cũng vậy. Chúng tôi rán sức đẩy chíếc xích lô, trong lúc HPNP cùng hai người đàn bà nữa cứ chạy xe đảo tới, đảo lui hối chúng tôi mau lên. Tôi nghe chúng nó hỏi nhau, bên Lý Thường Kiệt , Nguyễn Huệ còn ai nữa không? Có mấy chiếc xe Honda chở gạo, bánh tét, đã tịch thu của nhà ai đó chạy thẳng vô trường Thiên Hựu.
Lúc đó bỗng dưng có mấy chiếc trực thăng xuất hiện trên trời nhã đạn xuống,Văn nói như reo bên tai tôi, Ti ơi, máy bay của mình. Mừng chưa kịp no, thì trời ơi, từ những cửa sổ trên lầu của trường Thiên Hựu những họng súng lớn nhỏ nhả đạn, nhắm hai chiếc trực thăng mà bắn, lúc đó chúng tôi mới biết là VC đang ở trong trường Thiên Hựu quá nhiều. Hoảng hồn tôi, Văn chạy lại nồi sụp xuống bên tường rào của trường tránh đạn. Phan và đồng bọn biến đâu mất. Tụi nó như ma, khi ẩn, khi hiện. Nhưng chỉ được một lát, hai chiếc trực thang bay đâu mất. Chúng tôi thất vọng, khi thấy Phan với đồng bọn xuất hiện hối chúng tôi đi.
Lên tới cầu Kho Rèn, thấy một đám người, đàn ông, đàn bà, con nít bị bắt trói chung với nhau ngồi trên đầu cầu. Họ ngồi gục đầu xuống hai đầu gối. Tiếng con nít khóc, tiếng mấy bà mẹ dỗ con, nín đi con ơi. Đi ngang qua họ mà chúng tôi không dám nhìn. Có tiếng người trong đám gọi tôi Ti ơi, quay lại tôi nhận ra chị giúp việc của mẹ tôi và vợ của một chú cùng đơn vị với ba tôi ở tiểu đoàn 12 Pháo Binh Phú Bài. Tôi đoán họ là những người từ trên Phủ Cam, chung quanh cầu Kho Rèn , Hàm Nghi và những con đường chung quanh đó chạy xuống tìm đường trốn lên Phú Lương thì bị bắt giữ.
Tôi định dừng lại hỏi thăm thì HPNP trờ xe tới nạt nộ “ đi, mau ngó chi!”
Trên đoạn đường từ Văn Khoa ngang qua trường Thiên Hựu, cầu Kho Rèn, lên tới nhà nội chúng tôi thấy nhiều người bị trói dính chùm vào với nhau đi trước mấy người mặc đồ đen đi dép râu, mang súng.
Súng nỗ tư bề mà sao không thấy bóng dáng lính mình ở đâu cã.Chỉ thấy lính bộ dội Bắc Việt khắp nơi.
Trên đường Hàm Nghi, Nguyễn thị Đoan Trinh chạy ngang nhà nào mà y thị gật đầu là y như rằng trong nhà đó có người bị bắt đem ra, người thì bị bắn tại trước nhà, người thì bị dắt đi, mấy ông bà cụ trong nhà chạy theo nằm lăn ra đường khóc la thảm thiết…Bọn lính Bắc thì cứ chửi thề luôn miệng, đéo mẹ câm mồm, ông bắn bỏ mẹ bây giờ…
Hai chúng tôi cứ nghiến răng, cúi mặt, lầm lủi đẩy chiếc xích lô mang xác Hải đi tới.
Khi gần tới nhà tôi ở số 24 đường Hàm Nghi thì HPNP và con hồ ly Trinh rà xe lại gần bảo tôi, không được đẩy vô nhà mi. Đẩy lên trên tê!
Đẩy lên trên tê, tôi hiểu đây là đẩy lên nhà ông bà nội tôi. Cũng trên đường Hàm Nghi nhưng nhà nội tôi ở trên dốc, hướng đi lên Phủ Cam. Nhà ba mạ tôi thì ở gần cầu Kho Rèn.


Tôi cũng không hề biết mặt Nguyễn thị Đoan Trinh trước đó. Trong hoàn cãnh này tôi mới biết mặt y thị là nhờ anh Văn nói. Tội nghiệp anh Văn, cứ tưỏng khi HPNP biểu cùng tôi đẩy xác anh Hải về là được tha chết. Anh Văn và tôi cũng không ngờ rằng đoạn đường từ Văn Khoa lên tới nhà nội trên đường Hàm Nghi là đoạn đường sau cùng chúng tôi đi chung với nhau trong cuộc đời này.
Lên tới nhà nội, chúng tôi đẩy Hải vô bên trong hàng rào chè tàu, bỏ Hải ngoài sân tôi với Văn chạy vào nhà , nhà vắng ngắt, đi từ trước ra sau bếp gọi ông ơi, mệ ơi. Nghe tiếng ông nội yếu ớt từ trong buồng vọng ra, ai đó, đứa mô đó? Con đây, ông nội. Nghe tiếng tôi, ông tôi hấp tấp chạy ra, bước chân xiêu xiêu, ông tôi chạy lại ôm tôi, ông khóc, ông nói, lạy Chúa lạy Mẹ cháu tui con sống. Tôi không khóc được, tôi run rẫy trong tay ông nội. Ông tưởng tôi sợ nên an ủi, con còn sống mà về được đây là phúc lắm rồi, ở đây với ông nội, không can chi mô! Nghe nói mạ mi đưa ba thằng em mi chạy lên Phú Lương rồi, không biết đi tới mô rồi, có thoát được không ? Lạy Chúa , lạy Mẹ phù hộ.
Tôi không nói vì quá mệt, kéo tay ông nội ra ngoài, thấy Văn ngồi bệt dưới nền nhà, ông hỏi, đứa mô giống thằng Văn rứa bây? Văn òa khóc, tôi khóc theo, kéo ông nội ra sân. Nhìn thấy xác Hải ông nội tôi khuỵu xuống, miệng thì kêu trời ơi, trời ơi, răng mà ra nông nổi ni…
Chúng tôi đem Hải vào nhà, đặt anh trên divan. Ông nội lấy mền đắp lên xác Hải.
Hai người anh tôi đang trốn trên trần nhà đòi xuống nhìn mặt Hải. Ông nội không cho. Anh Lộc giở nắp trần nhà sát góc tường, thò đầu xuống vừa khóc vừa nói, Ti, đẩy cái ghế đẩu qua cho anh. Tôi nghe lời ra đằng sau bếp lấy cái ghế đẩu mang lên để ngay góc phòng cho anh Lộc nhẩy xuống. Ông nội ngó lên, quơ quơ hai tay, giọng ông lạc đi, đừng xuống, ông nội lạy con, đừng xuống, ở trên đó đi mà… Anh Kính đang ở trên đó, cũng đang khóc. Lộc chưa kịp nhẩy xuống thì nghe tiếng nói, tiếng chân người ngoài sân. Anh vội vàng đóng miếng ván lại thì bọn HPNP cũng vừa vào đến.
Thấy Phan bước vô, mặt Văn biến sắc, anh lắp bắp nói với ông nội, anh Phan cho tụi con đem xác về đó ông ơi.Ông nội đứng im không nói.Hai mắt cú vọ của nó ngó ông nội hỏi , thằng Lộc, thằng Kính ở mô? Ông nội nói tui không biết. Phan gằn giọng, ông thiệt không biết tụi hắn ở mô? Tụi hắn năm mô cũng về ăn tết ở đây mà ông không biết răng được? Ông nội nói, ba ngày tư ngày tết, ăn xong thì tụi hắn đi chơi, đi thăm bà con họ hàng chứ chẳng lẻ ở nhà hoài răng? Chừ thì tui biêt tụi hắn ở nhà mô mà chỉ!
Mắt Phan ngó láo liên khắp nơi, chợt thấy cái ghế đẩu ngay góc phòng, nó cười khan một tiếng.
Tôi đứng núp sau lưng ông nội, HPNP hung hăng bước tới, xô ông nội qua một bên, nó nắm lấy tóc tôi kéo tôi ra về phía hắn. Ngó lên trần nhà la lớn, Lộc, Kính, Hiệp, tụi mày không xuống tau bắn con Ti!
Nó vừa nói, vừa xoáy mái tóc dài của tôi trong tay, nó đẩy tới, đẩy lui. Tôi đau điếng, tôi sợ, tôi run lẩy bẩy, nước mắt ứa ra nhưng không dám la thành tiếng. Ông nội tôi chấp tay lạy nó như tế sao, tui lạy anh tha cháu tui, con gái con lứa, hắn biết chi mô.
Thằng Phan càng la lớn, tau biết tụi mi trên đó, có xuống không thì nói, tau bắn con Ti. Phan xô tôi té xuống, lấy chân đạp lên lưng. Chĩa mũi súng lên đầu tôi hô một, hai,ba… Lập tức anh Lộc mở nắp trần nhà thò đầu xuống la to, đừng, đừng bắn em tau, tau xuống, để tau xuống…
Ông nội tôi chạy lại giữ cái ghế cho anh bước xuống, hai chân ông run, ông té sấp, đang lúc Anh Lộc tìm cách tuột xuống,thò hai chân xuống trước,hai tay còn vịn trần nhà, khi đôi chân vừa chạm chiếc ghế đẩu thì HPNP đã nỗ súng, đạn trúng ngay chính giửa cổ, máuphọt ra, Lộc lăn xuống sàn nhà toàn thân anh dẫy dụa mấy cái rồi nằm im.
Mặc ông nội tôi la hét thất thanh, Phan chĩa súng bắn lên trần nhà, nghe tiếng anh Kính lăn tới đâu, nó bắn tới đó, bắn nát trần nhà, hết đạn nó dành lấy cây súng của một thằng khác bắn tiếp, cho tới khi anh Kính tôi rớt xuống theo mấy miếng ván. Anh Văn ngồi bệt xuống đất, nhắm mắt, bịt tai, run lẫy bẩy, ngồi kề bên cạnh anh người tôi tê cóng, đái ỉa ra cã quần, ông nội tôi nhào tới ôm anh Kính, hai mắt trợn trừng, anh đang thều thào những lời sau cùng, ông khóc, ông chửi rủa thằng Phan, nó say máu, bắn luôn ông nội tôi. Ông tôi đỗ xuống bên cạnh anh Kính.


Bắn ông tôi xong chúng kéo nhau đi bắt anh Văn theo.Còn lại một mình, tôi bò lại ôm lấy ông nội, tôi khóc không ra tiếng, tôi thở không ra hơi, hai bàn tay tôi ướt đẩm máu, máu của ông nội tôi, tôi bò sang anh Lộc, bò sang anh Kính, tôi lay, tôi gọi, tôi gào, không ai nghe tôi hết, anh tôi không trả lời tôi , hai con mắt, bốn con mắt, sáu con mắt đều mắt mở trừng, ông nội tôi nằm im, máu trong ngực ông vẫn tuôn ra từng vòi. Tôi gục đầu xuống xác ông lịm đi. Không biết bao lâu thì tôi tỉnh lại, nhưng không ngồi dậy nổi. Cứ nằm ôm lấy xác ông nội. Tóc tôi bết đầy máu, toàn thân tôi, máu, phân và nước tiểu đẩm ướt. Tôi không còn sức đễ ngồi lên. Không biết tôi nằm bên cạnh xác ông tôi với ba người anh như vậy là bao lâu, khi tỉnh dậy thì thấy hai vợ chồng bác Hậu, vài người lối xóm nữa của với ông nội đang ở trong nhà.

Bắ
Họ dọn dẹp, khiêng bộ ngựa trong nhà bếp ra trước phòng khách ,đặt xác ông nội cùng với ba người anh tôi nằm chung với nhau. Hai bác gái đem tôi vào phòng tắm, phụ nhau tắm rửa cho tôi như một đứa con nít, bác Hậu lấy áo quần của bác mặc cho tôi.Tâm trí tôi hoàn toàn tê liệt. Tôi không còn khóc được, không còn mở miệng nói được câu nào. Ngày cũng như đêm ngồi rủ rượi bên cạnh xác của ông tôi, các anh tôi. Tôi không còn sợ chết. Nhưng sao tụi nó không giết luôn tôi? Trời hởi, trời ơi!
Nhìn thấy tôi tiều tụy, mỗi ngày bác Hậu gái khuấy cho tôi vài muổng bộ bích chi ép tôi uống. Thiệt ra nhà nội cũng chẳng còn chi. Gạo cơm, bánh mứt thì bị tụi nó khiêng đi hết rồi. Bác Hâu còn dấu được ít gạo, ít than nấu cháo uống cầm hơi với nhau.
Ngày hôm sau thằng Phan trở lại. Bác Hâu xin phép được chôn ông tôi và mấy người anh sau vườn nhà nhưng nó không cho, nói cứ để đó.
Đã hơn bảy ngày, xác đã bắt đầu sình lên và nặng mùi. Mà Phan không trở lại. Một buổi tối tụi bộ đội Bắc Việt đến lục lọi kiếm gạo. Bác Hậu xin chúng nó đào huyệt sau nhà để chôn ông nội và ba người anh tôi. Chúng nó bảo ừ thối quá rồi thì chôn đi, nhưng chỉ được đào một lỗ huyệt.
Vợ chồng bác Hậu khóc lóc năn nĩ, mấy anh ơi, người chết rồi biết chi, anh cho tụi tui dào 4 huyệt. Chúng không cho. Chúng nó phụ bác Hậu đào huyệt. Bảo đem cã bốn người bỏ xuống chung một lỗ. Lấp lẹ đi, thối quá. Bác Hậu với mấy người trong nhà không ai muốn làm, ngó nhau mà khóc…
Chiều tối hôm đó Văn trở lại với Phan và mấy thằng bộ đội . Chúng nó bắt Văn phụ với mấy thằng bộ đội khiêng từng người ra bỏ xuống huyệt. Hai vợ chồng bác Hậu theo ra vườn. Tôi kiệt sức nằm vùi một chổ nhưng tai tôi vẫn nghe rỏ những lời đối thoại trong nhà. Tôi không đũ can đãm theo ra vườn chứng kiến cảnh vùi lấp những người thân yêu của tôi. Nằm trong buồn ông bà nội nhưng tôi nghe rỏ từng tiếng cuổng xẻng đang đào đất. Tâm rí tôi quay cuồng, ruột gan tôi đòi đoạn. Trời ở đâu, đất ở đâu ? Tôi gọi ông tôi, gọi anh Lộc, anh Kính, anh Hải, không ai nghe tôi hết…
Khi bốn cái xác người được bỏ xuống, miệng lỗ chưa được lấp,thì tôi nghe tiếng súng nỗ, tiếng kêu gào của vợ chồng bác Hậu, nhưng không nghe tiếng của Văn. Tiếng bác Hậu kêu Văn ơi, Văn ơi giọng bác đòi đoạn, thì tôi biết chuyện gì đã xẩy ra cho Văn. Toàn thân tôi lẩy bẩy, tôi cảm thấy khó thở, một lần nữa cứt và nước đái trong người tôi túa ra.
Tôi nghe tiếng mấy thắng bộ đội hò hét bảo lấp đất lại. Bác Hậu Và những người hàng xóm của nội tôi đành phải làm theo. Khi tụi bộ đội VC bỏ đi, bác Hậu chạy vào buồng vò đầu ,bức tai, giọng tức tửởi, thằng Văn nằm chung với ba thằng anh mi rồi con ơi! Trời ơi, là trời ơi, bác Hậu đấm ngực, không biết thằng Văn đã chết chưa mà hắn bắt tui lấp. Văn ơi là Văn ơi, con tha tội cho bác, trời ơi người mô mà ác như rứa… Tôi lặng người,nghe bác Hậu khóc anh Văn.
Sau lần đó không đứa nào trong bọn chúng trở lại , kễ cã tụi bộ đội. Chắc nhà ông tôi chẳng còn người để mà giết, chẳng còn của cãi chi dễ mà cướp nữa.
Hơn hai mươi ngày, tôi nằm liệt lào trong nhà nội. Bên ngoài súng đạn vẫn tư bề.


Hai vợ chồng bác Hậu không nỡ bỏ tôi lại một mình, trong lúc bác nghe ngóng và biết đa số dân Phủ cam đã tìm đường chạy thoát được xuống Phú Lương. Bác năn nĩ tôi rán ăn uống thêm một chút để có sức mà chạy, không lẽ con nằm đây chờ chết? Con không muốn tìm mạ con răng?
Hôm sau nữa tôi theo gia đình bác Hậu tìm đường chạy lên Phú Lương vì nghe nói lính Mỹ, lính mình đã thấy xuất hiện chung quanh đây rồi. Đi xuống ngã cầu Kho Rèn thì cầu đã bị sập, bác theo đoàn người đi hướng khác, tôi đi theo như người mất hồn, họ đi đâu tôi theo đó, tôi không còn nhớ là mình đã đi qua được những nơi đâu. Có điều tôi lấy làm lạ, trên đường chạy giặc, mỗi khi đạn pháo bắn khắp nơi mà người ta cứ gồng gánh nhau mà đi, không ai chịu dừng lại kiếm chổ tránh đạn, người ta nói với nhau, khi mô mà có mọc chê hay đạn pháo chi đó thì bọnVC chui vô nhà dân để trốn đạn, chúng nó không ra đường để chặn bắt dân lại, vì vậy người ta cứ chạy bất kể , dưới lằn mưa đạn người ta càng chạy đi đông hơn.Ôi những người dân tội nghiệp của xứ Huế thà chết dưới bom đạn còn hơn để bị lọt vô tay quân sát nhân ác độc.
Cuối cùng thì tôi cũng về đến được Phú Lương gặp mạ và ba đứa em trai của tôi. Quá đau khổ, Mạ tôi bị phát điên khi hay tin cái chết của ba người anh và ông nội. Ít lâu sau ba tôi trở về sau một đợt hành quân nào đó của tiểu đoàn 12 Pháo Binh Phú Bài. Thấy mạ tội như vậy, biết không thể trở lại đường Hàm Nghi ông mướn nhà ở tạm tại Phú Lưong.
Sau khi Huế được giải thoát. Ba tôi nhờ bà con lối xóm cãi táng Văn, ba người anh, và ông nội tôi, tang lễ được cữ hành tại nhà thờ Phủ Cam do cha Nguyễn Phùng Tuệ chủ tế. Gia đình anh Văn đồng ý cho anh Văn đươc nằm lại trong miếng vườn nhà ông nội tôi cùng với ba người anh của tôi.
Ba tôi được giải ngủ khoảng giữa năm 69. Mạ tôi vẫn trong cơn điên loạn không thuyên giảm. Ba tôi quyết định bỏ Huế đem hết gia đình vào Long Khánh sinh sống. Nhà nội giao lại nhờ hai bác Hậu coi chừng.Nhà ở 24 Hàm Nghi { gần dường rầy xe lửa } thì bán cho ai đó tôi không rỏ.
Thưa ông Liên Thành,
Đó là những cái chết oan khiên của những người ruột thịt thân yêu mà tôi phải chứng kiến tận mắt với muôn ngàn đau dớn. Trong bà con thân tộc nội ngoại hai bên của tôi có rất nhiều người bị bắt đi ở nhà thờ Phủ Cam, một số bị bắt ở nhà thờ dòng Chúa Cứu Thế. Số người bị chôn sống, mất tích lên tới 70 người. Tất cã đều là học sinh, sinh viên, thường dân, nông dân , buôn bán ở chợ An Cựu.


Sau Tết Mậu Thân, những người bà con còn lại của tôi quá đau khổ, sợ hãi, họ đã âm thầm bỏ Huế, tãn mác khắp nơi, thay tên đổi họ mà sống…
Sau biến cố tháng 4 đen 75, gia đình tôi lại là những nạn nhân của lũ Việt Gian Cộng Sãn ác độc, vô luân. Ba tôi và những đứa em trai còn lại cũng đã chết sau mười mấy năm bị đày đọa trong lao tù CS.
Đã 40 năm qua, những vết thương đó vẫn còn tươi rói trong tôi. Nỗi đau mỗi ngày một đầy. Đó là những cái chết oan khiên trong muôn ngàn cái oan khiên của người dân Huế.
Tôi là người con duy nhất trong gia đình còn sống sót sau tết Mậu Thân cũng như sau những ngày mất nước. Nay viết lại những cái chết thương tâm của những người Thân Yêu trong Gia đình tôi với tư cách là một nhân chứng và nạn nhân, để tố cáo Tội Ác của Việt Gian Cộng Sãn, có như thế, oan hồn của ông nội và anh em tôi mới có thể siêu thoát
Tôi sẳn sàng ra làm nhân chứng trước tòa án quốc tế, cũng như xuất hiện trước các phương tiện truyền thông khi cần thiết
Xin trình ông tên tuổi ông nội tôi, và của ba người anh bị sát hại :
Tên ông nội : Nguyễn Tín, 70 tuổi.
Ba người anh : Nguyễn Xuân Kính, sinh viên y khoa, sinh năm 1942.
Nguyễn Xuân Lộc. sinh viên luật, sinh năm 1946
Nguyễn Thanh Hải, sinh viên Văn Khoa, sinh năm 1949
Lê Tuấn Văn, sinh viên Văn Khoa, bạn của anh Hải tôi.
Địa chỉ hiện tại của tôi :
Nguyễn thị Thái Hòa

(*Người chuyển đã bôi bỏ vì an toàn cho đương sự.)

Chuyện Vượt biển
Tiếng Gào Trong Đêm

Nguyễn Thị Ngọc Nhung

***Mt68: Xin lỗi giùm tác giả về mấy "Tiếng Đức" tả chân cho trung thực. Xin có lời cáo lỗi chung./- mt68

Ghe chòng chành giữa dòng nước, tôi sợ hãi ngồi bám chặt mạn thuyền, mắt láo liên nhìn trời đêm sáng lờ mờ ánh trăng mười chín. Chúng tôi ngồi dồn đống trong khoang thuyền. Hai tên đàn ông to người chèo ghe gõ nhẹ trên mui báo hiệu đã đến nơi tạm an toàn, chúng tôi có thể cử động đôi chút.

Người chèo mũi vén tấm lá che mui nhìn vào."Bây giờ mình phải đi bộ một khoảng, tui dẫn hai người một lần. Chia ra để khỏi lộ. Mấy người khác cứ ngồi đợi đến phiên, nhớ đừng nói chuyện lớn tiếng."Hắn dẫn hai người đàn bà ngồi sát cửa mui đi trước. Cả đám ngồi đợi ẩn nhẫn. Tim tôi chưa hết hồi hộp đập thình thịch thể như bất cứ người nào ngồi gần cũng đều có thể nghe được nhịp ấy. Phong nắm tay tôi. Tay Phong đẫm mồ hôi và lạnh. Tôi phải ngồi bệt và khom lưng, hai đầu gối co đụng cằm, gọn lỏn trong lòng Phong. Khoang ghe quá chật cho mười người ngồi lèn nhau, phía ngoài còn tấn mấy buồng chuối mùi nhựa nồng chát. Bên trái tôi, cha mẹ Phong dúi sát nhau. Một bé trai độ bốn, năm tuổi, bị uống thuốc ngủ, nằm im lìm trong lòng cha nó. Bà vợ ngồi kế bên, chân trái đạp chân tôi nhưng hình như bà không biết và tôi cũng không thể dời chân đi nơi khác. Đành chịu. Người con gái ngồi kế có lẽ là em gái bà, mặc bà ba đen như gái quê, mặt từa tựa nét.Khí trời đêm hơi lạnh nhưng bên trong khoang, nóng hầm hơi người. Hình như cái nóng hậm hực ấy tăng gấp bội vì trộn lẫn với nỗi căng thẳng bập bùng ngập ngụa không gian. Tôi lén nhìn đồng hồ giấu trong ngực áo. Khoảng 2g15 sáng.

Tôi thì thầm nơi tai Phong "Hơn hai giờ sáng rồi anh." Phong gật nhẹ đầu. Người đàn ông chèo lái ngồi im như pho tượng. Đôi khi ánh mắt của hắn lấp lánh nhẹ dưới ánh trăng khi chớp. Cái mũi dài mang nét khoằm khiến mặt hắn lộ đầy vẻ gian ác nhưng nụ cười nở rộng với hàm răng thưa làm giảm bớt ấn tượng xấu nơi người đối diện. Hắn mặc áo bà ba đen, tay áo xắn quá cùi chỏ. Người đàn ông đưa hai người đàn bà lội bộ băng qua hàng cây thấp trở lại. Hơi thở của hắn nóng hôi hổi phà ngay mặt tôi khi thò đầu vào khoang kêu người đàn ông ẵm đứa con ngủ mê mệt. Người chồng bò ra đằng lái, vác đứa bé trên vai như vác bị gạo mò mẫm bước lên bờ. Vấp phải vật gì trên bờ đất, ông chúi nhủi suýt té, tay cố giữ thằng bé, người lảo đảo bước quàng xiên lòm khòm rồi mới đứng thẳng lên được.Tên đàn ông dẫn đường mặc áo sơ mi màu nâu đen, quần tây nhàu nát ống nhỏ túm hơi ngắn trên mắt cá, có chỗ sờn, đôi dép mỏng. Hắn ta tương đối trông được hơn người ngồi lái. Với nước da tái, môi thâm vì thuốc lá nhưng lại vẽ nên một nụ cười thật đẹp với lúm đồng tiền bên trái, kẽ răng đóng nhựa thuốc. Đôi mắt mí to với hàng mi rậm, duy có ánh mắt của hắn là không thẳng thắn, còn ngoài ra hắn dễ dàng lấy cảm tình của người xa lạ với giọng nói trầm và chậm.Tôi và Phong chưa bao giờ gặp hai người đàn ông này. Chuyến đi này chúng tôi qua trung gian bởi người bạn thân giới thiệu. Người bạn đó đã đến Mã Lai an toàn, chính vì vậy mà tôi và Phong mới tin tưởng nơi người trung gian này. Hơn nữa, chuyến đi có cả gia đình người thân gì đó của người trung gian cùng đi, như vậy thì không có gì để chúng tôi lo ngại.

Thường là chắc ăn, người trung gian mới dẫn gia đình đi sau khi đã mối lái nhiều lần có vàng có tiền làm của hoặc manh mối bắt đầu bị lộ. Ba mẹ Phong và tôi phải xuống Cần Thơ, giả đi thăm bà con. Tôi mặc hai bộ đồ trên người, giấu theo ít vàng và nữ trang. Phong mặc quần áo nhăn nhíu không ủi. Mẹ Phong thì mặc bà ba quần thâm. Ba Phong thì vận đồ rách, vá chùm vá đụp mấy chỗ, chân mang dép rách quai cột nối bằng cọng kẽm. Tất nhiên là không dễ gì qua mắt người miệt quê đó nhưng hình như họ cảm thông (hay tội nghiệp) trước sự trá hình không mấy chỉnh nên tôi thường bắt gặp ánh mắt ái ngại nhìn mà không dám hỏi vài lần suốt đường đi.Đến nơi, cả bốn được dẫn đến một căn nhà nằm dựa mé sông chờ đến tối mới xuống ghe nhỏ theo sông ra cửa biển nơi có ghe lớn đợi sẵn. Trong nhà có độ hơn mười người khác đợi sẵn khi chúng tôi đến rồi chia nhóm theo ghe. Tôi dặn Phong tìm cách đi chung với người trung gian, bảo đảm hơn. Phong gật nhưng gia đình người đó cả thảy là tám, thêm hai người thì vừa đủ cho một chuyến. Nhưng tôi lẫn Phong đều không muốn đi tẻ riêng thành ra đành phải chờ chuyến chót, mười người, hơn mười giờ tối.Thoạt đầu, ngồi chen chúc trong khoang, tôi muốn ngộp thở với hơi người và mùi bùn non lẫn mùi nước đọng hôi hám nơi đáy ghe. Hai người chèo bắt chúng tôi khom lưng gần như nằm mọp xuống, tấn bên ngoài dằn bên trên, mấy buồng chuối xanh ngắt sau khi đậy bao bố tời dơ bẩn lên đầu mọi người. Đường đi may mắn yên tĩnh không có chuyện gì xảy ra tuy rất chậm và kéo dài như không bao giờ đến nơi.Người đàn ông dẫn đường trở lại, kêu bà vợ và cô em gái của bà cùng đi. Tôi chợt ngửi phải mùi nồng tanh tưởi nơi áo hắn khi hắn nghiêng người khều vai bà vợ. Bỗng dưng tôi nghe lợm giọng không hiểu tại sao. Cái mùi thật lạ lùng. Bóng tối trong khoang không cho phép tôi nhìn rõ mặt hắn. Mùi tanh đến lạ. Hơi thở của hắn cũng nặng nề hơn. Tôi thì thào với Phong sau khi hắn đã đi. "Anh có nghe mùi gì không?" "Không. Mùi gì?" "Có mùi tanh tanh kỳ lắm... " Phong bâng quơ qua chuyện. "Mùi bùn đó mà."Cũng khá lâu người đàn ông dẫn đường mới trở lại. Có thể hắn đi không lâu lắm nhưng khi chờ đợi thì năm ba phút dễ biến thành năm ba giờ. Chỉ còn bốn người trong khoang. Hai tên đàn ông bàn tính nho nhỏ trên bờ. Tôi bỗng nghe gai ốc nổi đầy người. Tôi nắm chặt tay Phong. Mồ hôi tươm ướt lưng. Người đàn ông đẹp trai kêu chúng tôi ra khỏi khoang. Hắn nói, giọng khoan thai."Bây giờ tui dẫn ông bà đi, hai người một. Để khỏi mất thì giờ, hai người đi với anh Ban, hai người đi với tui. Tụi tui đi hai đường nhưng đường nào cũng dẫn tới chỗ ghe lớn. Đi đông nhiều tiếng động dễ bị lộ. " Rồi không đợi phản ứng của người nào hết, hắn hất hàm người mũi khoằm tên Ban, đẩy cha mẹ Phong về phía đó. Quay nhìn hai đứa tôi, hắn cười, hàm răng lởn nhởn dưới ánh trăng, bóng đen lúm đồng tiền nổi rõ trên má, rồi hắn quay lui bắt đầu đi về phía rừng cây thấp. Phong nắm tay tôi đi theo hắn. Rừng cây tối mờ dù là rừng thưa, bóng lá đen ngòm trên đường lồi lõm. Tôi vấp té loạng choạng nhiều lần, đi chậm hẳn lại.Chợt một nhánh cây đập vào mặt đau điếng, tôi khựng lại, giằng tay khỏi tay Phong rồi đỡ nhánh cây cúi người lom khom. Bỗng dưng, tôi nghe thấy... không chắc mình nghe đúng, nhưng tứ chi chai cứng. Thứ âm thanh nhọn như tiếng mèo gào giữa khuya.

Tim tôi đập nhịp cuồng. Tôi quờ quạng tìm tay Phong. Chàng đứng sát tôi, chợt tôi cảm thấy cả người mệt mỏi và thỏng dài. Người đàn ông dẫn đường quay nhìn hai đứa tôi. Bóng tối mờ nhưng tôi vẫn thấy được ánh mắt kỳ lạ của hắn. Bỗng nhiên nỗi sợ hãi ùa tới tràn ngập người tôi với sự im lặng kỳ lạ của người dẫn đường không thúc hối khi thấy chúng tôi khựng lại. Hắn không hề kêu chúng tôi nhanh bước. Thời gian đứng khựng và cả ba đứng im như chờ đợi phản ứng của nhau. Chợt Phong kéo ngược tay tôi chạy trở lại hướng vừa rời đi lúc nãy. Tôi chạy cuống cuồng theo tay kéo mù loà. Rừng cây như mê hồn trận, chúng tôi chạy bất kể mọi thứ.Rồi cả hai cũng trở lại được bờ sông nơi ghe cặp bến. Người đàn ông tên Ban đang cúi khom lục lọi chi nơi bóng đen nằm im bên chân hắn. Tôi đứng sựng kêu không ra tiếng. Miệng lưỡi dính thành một khối nghèn nghẹn. Bóng đen dưới chân hắn là mẹ Phong, nửa trên loã thể, tư thế co quắp, mặt úp xuống bùn. Ban hình như cũng không ngờ sự có mặt của tôi và Phong. Hắn đờ người, tay còn cầm sợi dây chuyền vàng lòng thòng. Trong khoảnh khắc chúng tôi nhìn hắn, nhìn cái búa bửa củi vất bên chân. Tôi không thấy máu vì bóng đêm làm nhoè bẩn mọi thứ. Nỗi sợ hãi dâng lấp trí óc. Ý nghĩ lướt thật nhanh trong đầu. Tôi đã hiểu tại sao chúng muốn dẫn từng hai người một. Tôi sực nhớ đến người dẫn đường. Đầu óc hoảng sợ nhưng vẫn còn sáng suốt để nghe rõ tiếng chân chạy đuổi và tiếng la của hắn đâu đó "Ê Ban, coi chừng tụi nó chạy. Ban! Ban! Tụi nó chạy rồi!" Phong vụt chạy về chỗ neo ghe. Tôi chạy theo tay níu của Phong đến sát mé nước, chân vấp vật gì. Tôi ré lên như đạp phải giòi. Nhìn xuống, ba Phong nằm nửa người vùi dưới nước. Phong khựng lại vì tiếng la của tôi rồi đẩy tôi ra sông. Tôi sặc sục, nước mới ngang ngực. Phong hét vào tai tôi."Lội mau lên, lội ra giữa sông."Tôi bơi hối hả, tay chân nặng chình chịch vì hai bộ đồ ướt nước. Tôi quay cuồng tứ phía, không rõ mình bơi về hướng nào mới đúng. Tiếng người la hét sau lưng nghe chói tai đến độ hãi hùng. Một tràng đạn bắn vãi quanh tôi và Phong. Chàng đè đầu tôi ngụp xuống nước. Không mấy lâu, tôi ngộp thở hất tay Phong trồi lên hớp không khí. Súng nổ liên hồi như sát mang tai. Tôi luýnh quýnh đập tay chân loạn xạ, chưa đầy mấy phút đã mệt lả. Tôi càng ráng trồi lên chừng nào thì lại càng chìm xuống nhanh chừng nấy. Tôi lặn hụp lên xuống như người sắp chết đuối. Có lẽ nhờ vậy mà tôi tránh được đạn bắn xối xả chung quanh. Phong khi lặn kéo tôi hụp xuống, khi nổi đẩy tôi trùi tới. Tôi bơi tới tấp với cảm tưởng mình nổi ì một chỗ. Đầu óc tôi rối loạn nhưng hình như vẫn tỉnh táo, rất tỉnh táo để thấy ánh trăng mờ trên cao, cây cối đứng im nơi bờ, bóng nước lấp lánh quanh mình, hơi thở hào hễn, cơn mệt muốn đứt hơi và mấy bóng đen trên bờ với loạt đạn dữ dội. Tôi bơi như máy, hơi thở dần ngắn với nước tuôn vào mũi mồm sặc sục. Biết mình không đủ sức, tôi thả ngửa để Phong vịn vai đẩy đi. Hình như chúng tôi đã ra được giữa sông. Tôi nhìn vào bờ, chỉ thấy dạng cái ghe, hai bóng đen tàn ác nhoè lẫn trong bóng đêm nhưng ánh lửa nháng với tiếng nổ vẫn hiện hữu. Tôi đạp chân phụ sức với Phong, mắt nhìn thẳng lên lòng đêm có trăng sao đầy đủ. Trời đất có đó nhưng hình như bịt tai im lặng trước hành động dã man. Tôi nhẩm cầu những đấng tối cao mà tôi có thể nghĩ đến trong nhịp tim hỗn loạn.Tiếng súng bỗng im. Sự im lặng hãi hùng đè chụp lấy tôi. Tiếng đập nước vùng vẫy của chúng tôi bỗng trở thành tiếng động duy nhất rõ mồn một trong đêm. Tôi lật sấp người lại tiếp tục bơi, bờ bên kia vẫn còn xa thăm thẳm. Có bơi mới thấy con sông không nhỏ như tôi tưởng khi còn ngồi trên ghe. Phong nhìn lại rồi nói qua hơi thở đứt quãng."Tụi nó chèo theo... bơi lẹ... lên em... May ra mình... thoát." Câu nói của Phong lại được đệm bằng tiếng súng nhưng rời rạc hơn lúc nãy. Tôi muốn bịt tai để đừng nghe thứ âm thanh dữ dằn chở đầy gai nhọn đâm thẳng tim óc. Tôi nhìn lui, không hiểu sao trong lúc bấn loạn, trí óc vẫn tiếp tục có lúc minh mẫn để thấu suốt những thứ không dính dáng gì hết, quanh mình. Chiếc ghe trôi lừ lừ ra giữa sông thật nhanh. Lửa đỏ loé quanh. Tôi nghe được tiếng giầm quậy nước lẫn với tiếng súng mỗi lúc thưa hơn. Tiếng lủm chủm của đạn rơi không còn nghe gần đâu đây nữa mà vạt xa xa về phía bờ bên phải. Phong kề tai thì thào."Tụi nó không thấy mình. Em bơi nhẹ dưới nước trôi lần vào bờ, đừng gây tiếng động mạnh. Khi tụi nó bắn thì mình bơi nhanh hơn một chút." Đám lục bình nhẩn nha trôi đâu đó làm hai tên đàn ông lầm lẫn. Chúng la hét lẫn nhau."Mày bắn lục bình không hà, Ban! Ê. Đụ mẹ, tụi nó trôi hướng này sao mày cứ bắn hướng đó hoài vậy? Đụ mẹ, giết có hai đứa mà cũng không xong, biết làm gì ăn đây mậy?""Câm cái miệng của mày lại. Đứa nào để xẩy? Hả? Mẹ cha nó, tao bắn đúng chỗ, chắc tụi nó chìm rồi. Không tin thì thôi. Đụ má, bỏ cho rồi. Sống chết kệ mẹ tụi nó. Về cho xong, trời gần sáng rồi, làm cả đêm, mệt chết mẹ!"Mọi thứ vụt im. Không có tiếng chèo lẫn tiếng chửi thề.

Tay Phong nắm cứng vai tôi trong khoảnh khắc rồi buông. Tôi chúi đầu sát mặt nước, tay chân cố khuẫy thật nhẹ nhưng vẫn mang cảm tưởng nặng chịt lào xào khuyấy nước. Im lặng nặng như tấm màn sũng nước phủ đè lên tâm trí. Tim tôi đập rối rít, mạch máu nhảy theo nhịp tim hào hễn, tai tôi nghe được tiếng bình bịch của tim mình tưởng như ai cũng đều nghe ra. Chợt có người dúi chân tôi xuống. Tôi hơi giật mình khi chân đạp phải lớp sình mềm. Phong đứng, mặt ngửa chừa mũi thở, cả đầu dìm gần hết dưới nước. Tôi bắt chước Phong, đỡ mệt vì chân chạm đáy sông nhưng phải đổi chân chống vì lớp sình mềm khiến chân chuồi nghiêng không vững. Được một lát, tôi ngẩng nhìn vừa lúc bóng đen nơi ghe lên tiếng. "Đằng kia kìa. Đó. Đụ... tụi nó vừa hụp xuống. Chỗ này nè. Mày bắn chỗ đó coi."Phong nắm tay tôi kéo hụp xuống nước. Nghe được câu nói của người trên ghe nên tôi kịp chuẩn bị để hít một hơi không đến nỗi chịu ngộp lâu. Đạn bắn tung toé sát nơi tôi đứng. Phong dò dẫm bước đi dưới nước. Tôi bước theo mò mẫm, chân đạp sình loạng choạng nhằm nơi trũng sâu làm tôi hốt hoảng bíu chặt tay Phong. Miệng há ra bất ngờ khiến nước ùa vào mồm, tôi ngột ngạt trồi đầu lên thở. Trước mặt, đám lục bình kẹt nhánh cây chết dồn đống bên bờ. Tôi truồi sâu vào đám lá, chỗ nước cạn ngang bụng nên ngồi chồm hỗm dưới nước. Bóng ghe đi ngang thật rõ. Tiếng nói chuyện vang vang."Kệ mẹ tụi nó, về cho rồi. Mày cất đồ chưa?"Giọng trầm khoan thai trả lời như không bị ảnh hưởng chi hết với hỗn loạn máu me vừa rồi."Rồi, hỏi hoài! Xét hết mấy cái thây rồi. Trừ khi nào họ nuốt vô bụng thì tao chịu chớ... Ờ, hay là mình quay lại mổ mấy cái thây đàn bà. Tụi nó có khi nuốt hột xoàn..."Giọng kia bẳn gắt hơn. "Sao hồi nãy hổng nói? Mẹ nó. Xì. Đụ má, gì cũng mày. Đợi xong rồi mới nói. Xẩy hết hai đứa... Gần sáng rồi, mổ miết gì nữa. Đụ má." Tiếng nói nhỏ dần theo dạng ghe loãng dần trong đêm tối. Phong đứng dậy, lần mò trượt lên trượt xuống với lớp sình nơi bờ rồi mò lên bờ đất. Tôi đạp sình nhão nhoẹt len chảy qua mấy kẽ chân, theo Phong lên chỗ có đất cứng. Bờ đất đầy rễ chằng chịt của thân cây chết, không rõ cây gì. Tôi lại vấp chân đau điếng nhưng cơn đau không đủ nồng độ để tôi nhận biết lâu hơn. Ngồi bệt xuống, tôi lần mò ngực áo tìm đồng hồ. Ánh lân tinh mờ ảo. 4g20 sáng. Tôi nói với Phong, hơi khựng lại khi nhận ra mình lạc giọng."Gần bốn rưỡi rồi anh. Giờ tính sao đây?"Phong cởi áo vắt nước không trả lời. Tôi cởi bớt một bộ đồ bên ngoài cố vắt cho ráo rồi phơi đại trên mấy nhánh cây gần đó. Hơi lạnh thấm qua lần áo ướt còn lại trên người khiến tôi nổi ốc. Cả người tôi run từng cơn theo phản xạ cơ thể.

Tôi ngồi bó gối, hai tay ôm chân co ro. Phong choàng tay qua vai tôi cho ấm. Hai đứa chúi vào nhau. Trí óc tôi dần dần tỉnh và tôi cố tránh không nghĩ đến những gì vừa xảy ra.Rừng cây thưa thớt không một bóng nhà hay bóng đèn. Sao thật sáng và thật nhiều. Tiếng ếch nhái ễnh ương đâu đó nổi lên thật bình yên như không có chuyện gì xảy ra. Nước mắt tôi rơi chầm chậm nhiểu trên tay mới hay. Cơn sợ hãi lắng xuống, giờ chỉ còn lạc lõng khốn cùng sau cơn bão tàn khốc. Tôi mang cảm tưởng vừa rỗng không vừa đầy ắp đến độ muốn nôn. Không biết tôi nên nói gì, làm gì. Sau con giông tàn bạo, sực thấy mình không là gì cả, tay chân dư thừa, đầu óc đầy rẫy những hình ảnh chết chóc và cảm tưởng mình rất mỏng manh dễ bị xúc phạm thì lấp đầy cả người.Giọt nước mắt đầu rơi xuống, khơi dậy trùng dương trong tôi. Tôi khóc ngon lành như chưa bao giờ được khóc. Trí óc lần mò trở lại xác người vấp phải nơi mé nước, sợi dây chuyền vàng đong đưa nơi tay gã đàn ông cúi mình trên cái xác trần. Hoá ra, tim tôi hụt nhịp, những người chung ghe đã chết. Tôi nhớ đứa bé trai ngủ mê vì thuốc. Cô gái trẻ thì thầm với tôi "Bồ em ở Texas . Ảnh hứa sẽ đón khi em tới đảo. Mấy năm rồi em chỉ đợi có dịp này. Tưởng sẽ không bao giờ gặp rồi chứ. " Giọng cười khẽ vui sướng đầy hy vọng của cô. Giờ thì thật là không bao giờ gặp. Tôi gục đầu ủ rũ với nước mắt. Phong ngồi im lặng lẽ. Chúng tôi đã gặp phải lũ cướp cạn tàn ác. Lũ cướp cùng màu da cùng tiếng nói với mình. Tôi thường nghe nói đến hải tặc Thái lan nhưng chưa nghe nói đến lũ cướp cùng màu da tiếng nói với mình. Giờ thì tôi hiểu, nạn nhân chết cả, lấy ai kể lại câu chuyện thương tâm nơi bờ sông vắng. Biết bao bờ sông vắng đã chứng kiến những cảnh tượng tương tự? Tôi lau nước mắt trên tay áo còn ẩm ướt, nằm lăn ra đất. Phong nằm theo, gối đầu tôi lên tay chàng. Tôi sờ soạng mặt Phong trong đêm tối mờ, ngón tay tôi ướt khi lướt ngang mắt. Tôi vùi mình trong lòng Phong, cảm kích và đau đớn vô vàn.

***Bà ngoại Phong mất khoảng sau hai giờ sáng cùng ngày hôm ấy. Dì Sáu cho chúng tôi hay mấy ngày sau, khi hai đứa mò về đến nhà. Bà mất cùng ngày chúng tôi bị nạn. Lúc hai giờ, bà còn đòi dì Sáu rót cho tách trà. Sau đó, dì Sáu về giường của mình. Đến sáng thì bà đã chết cứng, hai chân thò ra ngoài như sửa soạn xuống giường, tay phải níu chặt thành giường, mắt mở hé. Phong ngồi ôm đầu nghĩ ngợi. Chập sau Phong hỏi."Dì có chắc là sau hai giờ không?""Chắc. Dì cho ngoại uống nửa tách trà. Lúc để tách xuống bàn sực thấy đồng hồ gần hai giờ chớ dì có tính coi giờ đâu mà nhớ." Dì Sáu là em út của mẹ Phong. Dì lớn tuổi nhưng không con. Chồng dì còn ở trại học tập nên dì không đi với chúng tôi, vả lại không ai trông nom bà ngoại, đã hơn bảy mươi lăm già yếu nhiều bệnh tật. Dì giống mẹ Phong nhiều nét nhưng khô khan cằn cỗi hơn. Mặt dì sưng húp vì khóc nhiều.Lúc mở cửa thấy hai đứa tôi, dì oà khóc như trẻ nhỏ. Thấy trở về, hiểu ngay là không thoát, phần mới chôn mẹ một mình nên dì tủi thân. Đến khi biết cha mẹ Phong tử nạn, dì khóc thảm thiết hơn. Phong chỉ ngồi yên nhìn tôi và dì Sáu, mặt chàng chai cứng với giận dữ và oán hờn.

Tối hôm đó, Phong ngồi nơi giường ngoại, vụt nói một câu lạ. "Mình thoát được là nhờ ngoại!"Tôi nhìn Phong không hiểu. Dì Sáu hỏi. "Sao? Con nói sao?"Phong chậm rãi kể, mắt nhìn mông lung."Lúc Ngà giật tay con đứng lại, tự nhiên con thấy bà ngoại. Thấy như thế nào thì con không biết, chỉ biết là thấy mà trong người không hề thắc mắc tại sao. Bà ngoại xua xua tay nói. Chạy đi con, lội qua bên kia sông. Lẹ lên. Chạy đi con! Con nghe rõ ràng giọng thúc hối nóng lòng của Ngoại. Con đang hoang mang chưa biết làm gì thì lại nghe bà nói. Mẹ mày chết rồi. Chạy mau lên con ơi. Rồi như có gì ám, con lôi tay Ngà chạy về phía bờ sông theo lời Ngoại. " Tôi nghe lạnh nơi sống lưng. Tôi đã không kéo tay Phong đứng lại vô cớ, rõ ràng có nhánh cây đập nơi mặt đau như trời giáng nên tôi đứng lại không suy nghĩ. Khi mặt trời lên, Phong nhìn và không thấy vết bầm hay trầy trụa nào trên mặt tôi cả. Điều này khiến tôi ngạc nhiên vì cái đau xé da thịt kia không thể nào không để lại dấu vết trên mặt. Còn tiếng gào, thứ tiếng đau đớn của một con thú bị nạn. Thứ âm thanh chỉ có thể tạo được bởi cơn đau tận cùng xương tuỷ. Phong đã không nghe tiếng gào nào hết khi giật tay tôi quay lui chạy ngược về hướng cũ. Không dám suy tưởng nhiều hơn, tôi chỉ giản dị cho rằng mẹ Phong đã tìm cách cứu chúng tôi bằng tiếng gào mà bà đã không kịp thoát thành tiếng.

Tôi đã nghe được thứ âm thanh xé rách màn đêm chọc thẳng óc mình, đã ngửi được mùi máu trên áo kẻ giết người. Nếu không có nhánh cây quật mặt, tôi đã không dừng lại và đã tiếp tục ngoan ngoãn đi theo tên dẫn đường gian ác. Nếu không có tiếng gào, có lẽ tôi vẫn tiếp tục đi không chút ngờ vực. Tiếng gào và cái đau của nhánh cây quật mặt, cả hai đều thật, thật như nỗi hãi hùng của cuộc thảm sát ghê rợn nơi bờ sông vắng. Tôi đã cảm thấy được tất cả mọi thứ bằng mọi giác quan trên người. Có thể, nhánh cây làm tôi đau nhưng không để lại dấu vết, nhưng còn tiếng gào, tôi phải giải thích làm sao khi Phong không hề nghe có tiếng gào nào hết. Hai đứa tôi đã được báo động cùng một lúc bằng hai hình thức khác nhau. Và nhờ hành động vụt chạy bất thần khiến tên dẫn đường không kịp trở tay.

Nếu không, nếu không... tôi vẫn thường tự hỏi, nếu không, nếu không, chuyện gì sẽ xảy ra và tôi sẽ làm gì nếu gã đàn ông không gờm tay với mình giả như tôi và Phong cùng rơi vào tình trạng sống chết dưới tay hắn? Đây là nỗi ám ảnh không biết đến khi nào tôi mới được quên dù đã yên ổn xứ người nhiều năm sau đó. /-

CHUYỆN BẦU CỬ ĐÃ LỘN XỘN
Mà bài viết lại càng RỐI RẮM hơn!


Phân tích thời sự:
“Lộn xộn” chuyện bầu cử cộng đồng
Ðỗ Dzũng/Việt Herald

Cuộc bầu cử ban đại diện cộng đồng Việt Nam Nam California đã chấm dứt từ hôm 18 tháng 4 vừa qua, nhưng dư âm của nó vẫn còn cho tới hôm nay vì nhiều khiếm khuyết.
Nhưng trước khi đi vào vấn đề này, chúng ta phải khẳng định một điều là số lượng phiếu bầu tham gia lần này là nhiều nhất từ trước tới nay, hơn 17,000 lá phiếu, cộng với sức lực, thời gian, tiền bạc và phương tiện của rất nhiều đồng hương, bao gồm HÐLT, Ban Tổ Chức, Ban Phối Trí (được bầu ra sau cuộc bầu cử), gần 100 hội đoàn, những cá nhân khác và các cơ quan truyền thông, làm cho cuộc bầu cử rất sôi nổi.
Dù kết quả thế nào, dư luận dị nghị ra sao, chúng ta phải cảm ơn những người đã tham gia cuộc bầu cử và bỏ công sức ra đóng góp vào cuộc bầu cử.
Nhất định là như thế!
Tuy nhiên, chúng ta có thể rút ra được những bài học gì qua cuộc bầu cử này và sẽ giải quyết ra sao những tồn đọng trong những ngày tới để cộng đồng có một ban đại diện được mọi người tin tưởng để giúp cộng đồng thăng tiến?

HÐLT cho tuyên thệ vội vã?

Sáng ngày 25 tháng 4, 2010, mặc dù Ban Tổ Chức Bầu Cử (BTCBC) chỉ thông báo kết quả “sơ khởi” là: “Chiếu theo chương trình dự tính, UBTCBC đã hoàn tất cuộc kiểm phiếu và loan báo kết quả sơ khởi trong cuộc họp báo lúc 11 giờ sáng, ngày 25 tháng 04, năm 2010, tại Trung Tâm Công Giáo Việt Nam - Santa Ana, California.”
Theo kết quả, 7 vị được nhiều phiếu nhất là Nguyễn Xuân Nghĩa (13,050 phiếu), Ðào Bích Ty (9,881 phiếu), Khanh Nguyễn (9,649 phiếu), Bruce Trần (8,342 phiếu), Trần Trọng An Sơn (7,707 phiếu), Dương Ðại Hải (7,021 phiếu) và Trần Văn Minh (6,313 phiếu).
“Vì thủ tục cứu xét còn đang tiếp tục, qua những khiếu nại của quý đồng hương, về một vài Ứng Cử Viên nay đã được đắc cử trước khi kết quả được công bố ngày 25 tháng 04, cho nên kết quả được công bố dưới đây chỉ là sơ khởi mà thôi. Kết quả chính thức sẽ được công bố vào ngày 9 tháng 05 (thực ra là ngày 8 tháng 5, VH) sau khi những thủ tục cứu xét hoàn tất và UBTCBC đi đến quyết định cuối cùng,” thông cáo của BTCBC cho biết tiếp.
Vậy mà HÐLT vẫn cho tổ chức lễ tuyên thệ Ban Ðại Diện (BÐD) tại thánh đường Reformation Lutheran Church, Westminster, vào buổi chiều cùng ngày, trước sự chứng kiến của hàng trăm đồng hương và nhiều vị dân cử tiểu bang và địa phương và đại diện dân cử liên bang.
Lễ tuyên thệ do ông Nguyễn Trọng Nho, chánh án Tòa Thượng Thẩm California, chủ trì và được các thành viên HÐLT chứng kiến và đọc lời cầu nguyện ngay trên bàn thờ.
Hơn nữa, trước đó cả tuần lễ, Mục Sư Trần Thanh Vân, Chủ Tịch HÐLT, cho biết đã định sẵn ngày tuyên thệ BÐD là ngày 25 tháng 4.
Trong buổi lễ tuyên thệ, không có sự hiện diện của ông Nguyễn Mạnh Chí, Trưởng BTCBC, làm nhiều người hoài nghi “có lẽ ông không đồng ý với sự tuyên thệ?”
Sau đó vài ngày, ông cho biết hôm đó bận kiểm phiếu!

“Tạm thời hay chính thức?”

Trong bản lên tiếng đưa ra hôm Thứ Hai, 17 tháng 5, vừa qua, BTCBC cho rằng: “Vấn đề tuyên thệ chỉ là một nghi thức tượng trưng hay có hình thức nghi lễ mà thôi, chứ hoàn toàn không có thẩm quyền pháp lý trong quyết định công nhận hay không công nhận kết quả bầu cử. Quan trọng là BTC đã công bố khi đó chỉ là kết quả sơ khởi và HÐLT cũng đã lập lại trước khi tuyên thệ là kết quả lúc đó cũng chỉ là sơ khởi mà thôi.”
Cũng trong bản lên tiếng, BTCBC xác nhận: “Thủ tục tuyên thệ do đó đã được tiến hành mà không có trở ngại hay ảnh hưởng đến giá trị pháp lý của kết quả bầu cử.”
Tuy nhiên, chiều 25 tháng 4, không thấy HÐLT tuyên bố là “tuyên thệ tạm” và có lẽ nhiều đồng hương Việt Nam và dân cử Mỹ không nghĩ như vậy. Nói cách khác, khi HÐLT không tuyên bố là “tạm” mà lại tổ chức một cách trang nghiêm và đàng hoàng như vậy, ai dám nghĩ đó là “tạm,” trừ khi HÐLT tính “giỡn mặt” đồng hương!
Chính xác mà nói, theo BTCBC, “HÐLT cũng đã lập lại trước khi tuyên thệ là kết quả lúc đó cũng chỉ là sơ khởi mà thôi.”
Tuy nhiên, HÐLT đâu có tuyên bố là “tuyên thệ tạm.”
Như vậy, có phải BTCBC “suy luận” ý định của HÐLT?
Một yếu tố nữa, tại sao BTCBC không lên tiếng ngay sau đó, mà phải đến 3 tuần sau mới đưa ra bản lên tiếng cho biết như trên, sau khi có nhiều dị nghị trong cộng đồng “không biết chuyện gì đã xảy ra?”
Tại sao “trống đánh xuôi kèn thổi ngược” như vậy?
Tại sao HÐLT tổ chức lễ tuyên thệ long trọng, nghiêm trang, mà BTCBC “dám” nói là “không có thẩm quyền pháp lý?”
Khi nói như vậy, BTCBC đã vô tình phủ nhận HÐLT, Chánh Án Nguyễn Trọng Nho, các vị dân cử, những đồng hương có tham dự lễ tuyên thệ và hơn 17,000 lá phiếu đã tham gia bầu cử.
Chưa kể những người xem sự kiện này qua giới truyền thông nghĩ gì. Chẳng lẽ họ bị lừa hết cả hay sao?
BTCBC còn phủ nhận sự tuyên thệ của Chánh Án Nguyễn Trọng Nho khi ông đọc lời tuyên thệ cho 7 người, bằng tiếng Việt và tiếng Anh.
Cứ đi hỏi người Mỹ khi họ nghe những lời tuyên thệ đó họ nghĩ gì, “tạm hay không,” thì biết ngay!
Theo truyền thống tại Hoa Kỳ, khi một người tuyên thệ cho một người khác có nghĩa là người đó chứng thực những gì người kia nói.
Khi ông Nguyễn Trọng Nho, hoặc bất cứ ai, chủ trì lễ tuyên thệ cho một người khác, đều có giá trị như nhau.
Ông Nho chủ trì lễ tuyên thệ chỉ làm cho buổi lễ trịnh trọng hơn mà thôi. Ngoài ra, chức chánh án của ông Nho là chức vụ dân cử, cho dù đi đâu, mặc áo quan tòa hay không, ông vẫn được coi là chánh án Tòa Thượng Thẩm California. Không ai có thể phủ nhận chức vụ này của ông. Thậm chí, khi ông đã về hưu, người ta vẫn có thể gọi ông là chánh án!
Vậy thì BTCBC không cần nói “Chánh Án Nho không hề nhân danh tòa án hay thẩm quyền nào của tiểu bang để thi hành nghi thức tuyên thệ đó” vì sự hiện diện của ông đã được ngầm hiểu là thẩm quyền rồi, trừ khi ông công khai chối bỏ thẩm quyền đó và nói rằng: “Tuyên thệ này tôi làm không phải với tư cách chánh án.”
Ông Nho không nói như vậy trước khi tuyên thệ và BTCBC chỉ “suy luận” sau ba tuần mà thôi!
Trở lại chuyện tuyên thệ, thực ra, sự lên tiếng của BTCBC cũng chỉ là ý kiến riêng, chứ HÐLT chưa bao giờ lên tiếng đây là “tuyên thệ tạm.”
Trong cuộc họp báo ngày 8 tháng 5 tại Trung Tâm Công Giáo, ông Nguyễn Mạnh Chí đã khẳng định BTCBC hoàn toàn độc lập, không lệ thuộc bất cứ hội đoàn nào, kể cả HÐLT.
Vậy tại sao BTCBC lại lên tiếng về một vấn đề của HÐLT?
Ðã vậy, BTCBC còn cho rằng việc để vợ ông Trần Trọng An Sơn tuyên thệ là “sơ sót của HÐLT.”
Lại một sự suy luận nữa của BTCBC! Mà suy luận này lại mâu thuẫn với suy luận khác!
Nếu nói là lễ tuyên thệ “không có thẩm quyền pháp lý,” chỉ là “tượng trưng,” chỉ là “hình thức” thì việc gì phải biện minh cho vợ ông Sơn, vì trong trường hợp này, tuyên thệ cho ai cũng là vô giá trị!
Có đúng không?
Một vấn đề nữa là nếu buổi tuyên thệ hôm 25 tháng 4 là “không chính thức” tại sao một số thành viên trong BÐD đã đi gặp một số dân cử địa phương và rồi ra thông cáo báo chí đã được chính quyền các thành phố này công nhận? “BÐD” này còn lên kế hoạch gặp thị trưởng các thành phố khác và dân cử tiểu bang và liên bang trong những ngày tới đây.
BTCBC và HÐLT có biết điều này không? Tại sao họ không lên tiếng?
Rõ ràng, một bên (HÐLT) không lên tiếng “tuyên thệ tạm” và một bên (BTCBC) lại lên tiếng “chỉ là hình thức,” và chỉ lên tiếng sau 3 tuần lễ.
Như vậy, với khung cảnh tuyên thệ tại nhà thờ Reformation Lutheran Church như đã nêu ở trên, sự tuyên thệ vẫn có giá trị?
Và nếu mọi người chấp nhận “suy luận” của BTCBC thì chúng ta cần một lễ tuyên thệ khác nữa thì tân BÐD mới có thẩm quyền làm việc.
Tại buổi lễ tưởng niệm Tháng Tư Ðen chiều Thứ Sáu, 30 tháng 4, 2010, ở Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt-Mỹ, ban tổ chức xướng tên 4 người trong “BÐD” là luật sư Nguyễn Xuân Nghĩa (chủ tịch), ông Khanh Nguyễn (phó chủ tịch), ông Bruce Trần (tổng thư ký) và ông Trần Văn Minh (phụ tá tổng thư ký).
Không rõ đây là xướng tên “chính thức” hoặc “tạm thời” trước hàng trăm người dự lễ, trong đó có HÐLT và nhiều vị dân cử các cấp.

Hai người dự khuyết

Cũng trong thông báo ngày 25 tháng 4, BTCBC cho biết: “Ngoài 7 vị đã đạt được số phiếu cao nhất để đắc cử vào Ban Ðại Diện Cộng Ðồng Nam Cali, UBTCBC cũng công bố thêm 2 vị có được số phiếu cao, theo sau số 7 người đắc cử, vào thành phần dự khuyết. Hai vị này chỉ được đôn lên, nếu như có sự thay đổi trong thành phần Tân Ban Ðại Diện trong giai đoạn đầu.”
Ðiều II, mục 1, trong “Ðiều lệ tổ chức bầu cử” trên trang web congdongnamcali. com của BTCBC cho thấy BÐD “gồm 7 người được bầu trong cuộc đầu phiếu phổ thông với tính cách đơn danh.”
Ðiều III, mục 3, cũng ghi rõ “Chức vụ bầu cử: 7 thành viên Ban Ðại Diện.”
Không thấy chỗ nào ghi là “đôn lên, nếu như có sự thay đổi trong thành phần Tân Ban Ðại Diện trong giai đoạn đầu.”
Khi BTCBC quyết định như vậy, nghĩa là hai ứng cử viên Nguyễn Tấn Lạc (4,234 phiếu) và Phạm Ngọc Khôi (3,751 phiếu) có thể vào BÐD làm nhiều người thắc mắc cho rằng “có dự tính đưa ông Lạc và ông Khôi vào thay thế bà Ðào Bích Ty và ông Dương Ðại Hải.”
Vấn đề này đã được ứng cử viên Ðào Bích Ty đưa ra trên chương trình “Ngụy Vũ Show” của Little Saigon TV, Channel 44.4. Sau đó, câu hỏi này cũng được nhà báo Trần Nhật Phong của tuần báo Việt Weekly đưa ra cho ông Nguyễn Mạnh Chí trong cuộc họp báo tại Trung Tâm Công Giáo hôm 8 tháng 5, nhưng ông Trưởng BTCBC trả lời rằng trong thời gian bầu cử, ông “không coi TV để tập trung làm việc và để không bị thiên vị.”
Nhưng đến ngày hôm nay, sự việc đã trở thành sự thật, vì ông Lạc đã được đôn lên, sau khi bà Ðào Bích Ty bị loại trong cuộc bỏ phiếu không hợp lệ tại Trung Tâm Công Giáo hôm 22 tháng 5.

Chứng cớ cáo buộc không thuyết phục

Khi BTCBC cáo buộc bà Ðào Bích Ty vi phạm tiêu chuẩn đạo đức liên quan đến bầu cử, họ không đưa ra được bằng chứng thuyết phục trước công luận.
Một trong những cáo buộc của BTCBC là bà Ðào Bích Ty có “liên hệ trực tiếp hay gián tiếp đến dự định trà trộn phiếu bầu tại địa điểm bỏ phiếu tại khu Phước Lộc Thọ. Ðây là một vi phạm nghiêm trọng trong tiến trình tranh cử và bầu cử.”
Người điều tra và xác định vấn đề này là luật sư Nguyễn Quốc Lân, cố vấn BTCBC, lại không phải là một chuyên viên điều tra. Hơn nữa, cho dù luật sư Lân có đề nghị chăng nữa, quyết định cuối cùng vẫn là của BTCBC. Và luật sư Lân đã khẳng định trong cuộc họp báo hôm 8 tháng 5 rằng ông chỉ là cố vấn thôi, chứ quyết định thuộc về BTCBC.
Một chuyện nữa, một trong những người gác thùng phiếu tại khu Phước Lộc Thọ lại là chồng của một nữ ứng cử viên trong cuộc bầu cử này.
Ðiều này BTCBC có tính đến khi điều tra hay không?
Tại sao BTCBC lại để một chuyện xảy ra như vậy?
Khi phỏng vấn, một số phóng viên có thắc mắc liệu ông có bằng chứng chính xác là bà Ðào Bích Ty tham gia trong vụ này, luật sư Lân cho biết có nhân chứng đàng hoàng.
Nhưng khi hỏi làm sao tin được các nhân chứng này, họ có tuyên thệ không (vì điều tra này không khác gì lấy cung ở tòa án), luật sư Lân trả lời: “Một số người là bạn của bà Ðào Bích Ty.”
Ở tòa, khi ra lấy cung, bất kể quý vị là ai, họ đều bắt tuyên thệ nói sự thật để sau này, nếu nói không đúng sự thật, sẽ bị tội bội thệ, cho dù người đó là bạn của bị cáo.
Luật sư Lân còn cho biết: “Có một cụ nói với tôi là tôi 90 tuổi rồi, chẳng lẽ tôi nói dối.”
Thực ra, cho dù bà Ðào Bích Ty có trà trộn phiếu thì trách nhiệm là ở những người canh giữ thùng phiếu.
Tại sao BTCBC không đặt ra vấn đề này?
Một vấn đề thứ hai là BTCBC cáo buộc bà Ðào Bích Ty đã “chế ra” lời của Mục Sư Trần Thanh Vân và phát biểu trên tuần báo Việt Weekly. Theo ông Chí cho biết, ông có hỏi bà Ðào Bích Ty và bà nói rằng không nói. Rồi ông nghe lại cuốn băng của tờ báo và thấy là bà có nói, cũng theo lời ông cho biết tại các cuộc họp báo.
Ðây là một yếu tố điều tra quan trọng, cũng y như ở tòa. Khi ra tòa, cho dù nhân chứng có địa vị gì trong xã hội, lời khai của họ đều được coi quan trọng như các lời khai khác, sau khi họ tuyên thệ nói sự thật.
Cuộc đối thoại giữa Mục Sư Vân và bà Ðào Bích Ty có người thứ ba không?
Tại sao ông Trưởng BTCBC lại tin Mục Sư Vân mà không tin bà Ðào Bích Ty?
Rõ ràng cuộc điều tra của BTCBC có cảm tính trong đó.
Còn giữa ông Chí và bà Ðào Bích Ty ai nói thật? Chúng ta có thể tin ông Chí biết điều này, nhưng ông cũng cần phải chứng minh bằng người thứ ba hoặc có phương tiện thu âm đàng hoàng, vì công chúng khó chấp nhận việc BTCBC điều tra một sự việc mà ông Trưởng BTCBC có liên quan trực tiếp.
Cả hai yếu tố cáo buộc bà Ðào Bích Ty đều không thuyết phục, không chính xác, và có yếu tố cảm tính trong đó.
Có thể có người cho rằng phân tích như thế này thì đi quá xa. Thực ra, đây chính là yếu tố làm ảnh hưởng đến uy tín của bà Ðào Bích Ty và làm cho nhiều người bất bình với bà, có thể đã làm cho bà bị bất lợi trước công chúng.

Không đối diện công luận, lo chống chế, hạ uy tín “bị cáo”

Sau cuộc họp báo ngày 8 tháng 5, nhiều đồng hương bắt đầu dị nghị việc làm của HÐLT và BTCBC qua những sự việc xảy ra. Thay vì tổ chức một cuộc họp báo với giới truyền thông để nghe ý kiến nhằm rút kinh nghiệm, BTCBC lại đưa ra bản lên tiếng trong đó hầu hết là chống chế cho việc làm không những của mình mà còn của HÐLT và các cá nhân khác dựa trên các suy luận không hợp lý làm cho tình hình tệ hại hơn.
Nên nhớ, bản lên tiếng chỉ là tiếng nói một chiều.
Sau đó, BTCBC lại lên trên đài truyền hình VAN-TV để chống chế thêm nữa và chương trình được chiếu đi chiếu lại nhiều lần. Và đây lại là “một chiều” một lần nữa, vì trên đài truyền hình và trong bản lên tiếng, đâu có ai chất vấn BTCBC được.
Ðã vậy, trong khi đưa vấn đề ra, BTCBC đã hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp làm xấu đi hình ảnh của bà Ðào Bích Ty tạo ra một dư luận không tốt về bà, nhất là trước cuộc bỏ phiếu “truất phế” bà vào ngày 22 tháng 5.
Những gì BTCBC nói trên chương trình TV và trong bản lên tiếng, “bị cáo” Ðào Bích Ty không hề được có tiếng nói.
Ðã thế, chương trình tổ chức tại đài VAN-TV do ông Bruce Trần làm chủ và ông cũng có mặt trong chương trình đó luôn nữa!
Ông Bruce Trần cũng là ứng cử viên trong cuộc bầu cử và là người nộp đơn tố cáo bà Ðào Bích Ty. (Cuối cùng, ông Bruce được đôn lên làm đệ nhị phó chủ tịch BÐD, sau khi bà Ðào Bích Ty bị loại một cách bất hợp pháp)
Tại sao BTCBC không tổ chức một cuộc họp báo để giải tỏa “một số dư luận không chính xác” mà lại làm “một chiều” như vậy?
Trong chương trình của đài VAN-TV và sau đó trên “Ngụy Vũ Show” của đài Little Saigon TV, ông Chí có lúc để luật sư Nguyễn Quốc Lân nói thay cho mình, làm cho nhiều người có cảm tưởng luật sư Lân là người đại diện BTCBC.
Như đã đề cập ở trên, luật sư Lân đã khẳng định ông chỉ là cố vấn mà thôi.
Trở lại dư luận không tốt về bà Ðào Bích Ty, có thể bản lên tiếng và chương trình TV của BTCBC ít nhiều đã ảnh hưởng đến những người bỏ phiếu “truất phế” bà hôm 22 tháng 5.
Trả lời phỏng vấn của nhà báo Ngụy Vũ ngay sau cuộc điều trần hôm 22 tháng 5, tiến sĩ Mai Thanh Truyết, đệ nhất phó chủ tịch Ðại Việt Quốc Dân Ðảng (hệ phái bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn), nói “đã theo dõi truyền hình và báo chí và đã có quyết định” mặc dù ông không cho biết ông bỏ phiếu “Yes” hay “No” cho bà Ðào Bích Ty.
Ông Phan Kỳ Nhơn, thuộc Dân Xã Ðảng, là người bỏ phiếu “No” hôm 22 tháng 5 nói với nhật báo Việt Herald rằng: “Tôi đã hỏi để mở đường cho bà Bích Ty rồi. Nếu bà nhận, tôi sẽ vận động mọi người bỏ qua, tha thứ cho nhau, vậy mà bà không hiểu. Vậy thì phải ‘No’ thôi. Có khuyết điểm cứ nhận là hay nhất.”
Trong cuộc họp báo ngày 22 tháng 5, bà Ðào Bích Ty cũng lên tiếng: “Trong thời gian qua, BTCBC đã dùng đài truyền hình VAN-TV đánh phá tôi. Tôi phủ nhận tất cả những gì BTC BC tố cáo từ trước tới nay.”
Nên nhớ, vai trò của 59 đại biểu đại diện hội đoàn và đảng phái bỏ phiếu “truất phế” bà Ðào Bích Ty không khác gì bồi thẩm đoàn trong một phiên tòa luận tội.
Ðiều này làm chúng ta nhớ lại các vụ xử ở tòa mà chánh án luôn cấm bồi thẩm viên tiếp xúc với người ngoài và báo giới.
Trong vụ xử OJ Simpson hồi năm 1995, để bảo đảm sự công bằng, chánh án thậm chí còn cấm các bồi thẩm viên xem truyền hình, đọc báo và sử dụng các phương tiện truyền thông khắc nhằm bảo đảm quyết định của họ không bị ảnh hưởng từ bên ngoài.

“Truất phế” bà Ðào Bích Ty là không hợp lệ

Trong cuộc họp tại Trung Tâm Công Giáo hôm 22 tháng 5, theo Ban Phối Trí (BPT) cho biết họ là những người được đại diện 94 hội đoàn và đảng phái ủng hộ HÐLT tổ chức cuộc bầu cử bầu ra và được BTCBC yêu cầu giải quyết vụ bà Ðào Bích Ty.
Mặc dù bác bỏ cáo buộc của BTCBC, ứng cử viên Ðào Bích Ty vẫn bị đại diện của 44 hội đoàn trong số 59 đại diện hội đoàn có mặt bỏ phiếu “No” (không chấp nhận bà là thành viên trong Ban Ðại Diện), 13 phiếu “Yes” (chấp nhận) và 2 phiếu trắng.
Trước đó, ông Kim Nguyễn (Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị) đặt câu hỏi: “Tôi đếm ghế ở đây chỉ có hơn 60 đại diện hội đoàn và đảng phái thôi, không biết có đủ 94 đại diện không và không chắc họ có thể đại diện cho hơn 9,000 lá phiếu để quyết định trường hợp bà Ðào Bích Ty hay không. Con số này chưa tới 1%, liệu có đủ hay không? Nếu gọi là đại hội khoáng đại, liệu như vậy có đủ không?”
Ông Nguyễn Phục Hưng (Trưởng BPT) trả lời: “Theo túc số của 94 hội đoàn, nếu có 2/3 là được. Con số 94 người là đại diện hội đoàn. Ví dụ, Hội Thiếu Sinh Quân có cả ngàn hội viên. Những người này là đại biểu. Chúng ta không thể mời hàng ngàn người vào đây được.”
Như vậy, túc số 2/3 của 94 hội đoàn và đảng phái để có thể tổ chức buổi điều trần và bỏ phiếu hợp lệ phải là 63 đại diện.
Ông Hưng hôm đó có nói trong số 94 hội đoàn, có 3 hội đoàn mới tham gia, nên không có mặt. Như vậy, túc số 2/3 của 91 hội đoàn là 61.
Ðằng này, chỉ có 59 lá phiếu bầu.
Vậy thì cuộc “truất phế” bà Ðào Bích Ty đương nhiên không có giá trị!
Ngoài ra, đáng lẽ BTCBC phải là nơi quyết định “số phận” của bà Ðào Bích Ty, nhưng họ đã không làm, mà đi “bán cái” cho BPT rồi tự họ trở thành “công tố viên.”
“Ðiều lệ tổ chức bầu cử,” ở điều III, khoản 1, mục h, liên quan đến Ủy Ban Bầu Cử, chỉ quy định HÐLT duyệt xét các đơn ứng cử. Còn BTCBC lo tổ chức bầu cử và công bố kết quả.
Không có chỗ nào quy định BTCBC đứng ra điều tra tư cách ứng cử viên, ứng cử viên đắc cử hoặc thành viên BÐD đã được tuyên thệ (vì bà Ðào Bích Ty và 6 người khác đã được tuyên thệ rồi).
Ðáng lẽ, BTCBC chỉ cần kiểm tra phiếu bầu, phiếu nào bị nghi ngờ là không đúng điều lệ thì loại ra, rồi tổng kết tất cả các phiếu hợp lệ và công bố kết quả, không nên “dính” vào các vấn đề khác không thuộc phạm vi của mình.
Trong cuộc bầu cử chức GSV Orange County, Ðịa Hạt 1, giữa hai ứng cử viên Janet Nguyễn và Nguyễn Quang Trung, Cơ Quan Bầu Cử Orange County cũng làm y hệt như vậy, và ông Trung thắng 7 phiếu.

Sau đó, ứng cử viên Janet Nguyễn đòi đếm phiếu lại, theo luật định, cơ quan bầu cử đếm lại và ứng cử viên Janet Nguyễn thắng lại 7 phiếu.
Không đồng ý, ứng cử viên Nguyễn Quang Trung kiện ra tòa. Sau một tuần xét xử, Tòa Thượng Thẩm California loại 4 phiếu và cuối cùng ứng cử viên Janet Nguyễn thắng 3 phiếu và được tuyên thệ ngay.
Ông Trung vẫn không hài lòng và kiện lên Tòa Kháng Án, nhưng đã bị 3 chánh án bác bỏ. Và ông Trung chấp nhận kết quả.
Trong thời gian xử, mặc dù không có quyền với cơ quan bầu cử, quan tòa vẫn đề nghị không nên để ứng cử viên Janet Nguyễn tuyên thệ. HÐGS đã tôn trọng ý kiến của chánh án và đợi đến khi tòa xét xử xong.
Thành ra, khi BTCBC không làm nhiệm vụ của mình mà “bán cái” cho một cơ chế khác là hoàn toàn trái điều lệ bầu cử.
Khi không làm nhiệm vụ của mình, và rồi bà Ðào Bích Ty bị “truất phế,” BTCBC đã, không biết vô tình hay cố ý,” vô hiệu hóa gần 10,000 lá phiếu bầu cho bà.
Ðây là điều tối kỵ trong các hệ thống bầu cử dân chủ vì BTCBC đã vượt lên trên “ý dân.”
Vậy thì tổ chức bầu cử để làm gì?

Yếu tố chính trị

Trước cuộc bầu cử, một số người đã nghi ngờ có “màu sắc” chính trị “dính” vào rồi, mặc dù có thể đại đa số không nghĩ như vậy.
Thật ra, để có bằng chứng phe này nhóm nọ tham gia lũng đoạn hoặc ảnh hưởng cuộc bầu cử để có lợi cho mình trong mùa tranh cử rất là khó.
Tuy nhiên, khi cuộc bầu cử bắt đầu được tiến hành, nhiều người thấy có hai chuyện “không thể giấu được.”
Thứ nhất, Mục Sư Trần Thanh Vân, Chủ Tịch HÐLT, trong buổi tiệc gây quỹ do DBTB Trần Thái Văn tổ chức tại nhà hàng Seafood World, Westminster, hôm 19 tháng 3, 2010, tức là sau khi Ủy Ban Bầu Cử đã bắt đầu làm việc theo thời khóa biểu, đã đứng trên sân khấu lên tiếng ủng hộ vị dân cử gốc Việt này trong cuộc bầu cử giành chiếc ghế DBLB Ðịa Hạt 47 hiện do DB Loretta Sanchez nắm giữ, trong khi đọc lời cầu nguyện.
Thứ hai, người cố vấn cho BTCBC là luật sư Nguyễn Quốc Lân, một đồng minh thân cận với DB Trần Thái Văn trong sinh hoạt chính trị Orange County trong nhiều năm qua.

Yếu tố tôn giáo

Nhiều người không tin có yếu tố tôn giáo trong cuộc bầu cử này, cũng như một số thành viên BTCBC đã khẳng định lập trường và cho biết không theo phe tôn giáo nào cả.
Tuy nhiên, những gì HÐLT và BTCBC làm trong suốt thời gian bầu cử có thể là mục tiêu để cho nhiều người dị nghị là thiên về Thiên Chúa Giáo (Christian), nghĩa là Công Giáo và Tin Lành.
Thứ nhất, trong HÐLT có Mục Sư Trần Thanh Vân (Tin Lành) và Linh Mục Nguyễn Uy Sỹ (Công Giáo).
Thứ hai, trong hơn 30 địa điểm để thùng phiếu, theo trang web của BTCBC, có tới 9 nơi thuộc Công Giáo, 2 nơi thuộc Tin Lành và 4 nơi thuộc Phật Giáo. Số còn lại là các chợ và trung tâm sinh hoạt.
Tất cả mọi hoạt động bầu cử đều xảy ra tại Trung Tâm Công Giáo, Santa Ana, do Linh Mục Nguyễn Uy Sỹ làm giám đốc, ngoại trừ lễ tuyên thệ tân BÐD tổ chức tại nhà thờ mới xây Reformation Lutheran Church, Westminster, do Mục Sư Trần Thanh Vân làm quản nhiệm.
Thứ ba, ông Nguyễn Mạnh Chí (trưởng BTCBC) và luật sư Nguyễn Quốc Lân đều là Công Giáo, trong đó ông Chí là trưởng Ðoàn Thanh Niên Công Giáo.
Sau khi bà Ðào Bích Ty (Phật Giáo) bị “truất phế” một cách bất hợp lệ, những người còn lại trong BÐD “mới ra đời” sau ngày 22 tháng 5, 2010 là luật sư Nguyễn Xuân Nghĩa (Phật Giáo), ông Khanh Nguyễn (Công Giáo), ông Bruce Trần (Tin Lành), ông Dương Ðại Hải (Công Giáo), ông Trần Trọng An Sơn (Công Giáo, chưa được tuyên thệ), ông Trần Văn Minh (Công Giáo) và ông Nguyễn Tấn Lạc (Phật Giáo, mới được đôn lên). (Ð.D.)

Bấm chữ "Older Posts" trên đây để xem tiếp .... Dưới Là Bài Cũ Theo Từng Tháng.

 
*** Nếu Thích QUẢNG BA, Thích Phước Tấn bất chấp dư luận can ngăn mà về VN tham dự Phât Đản do Việt Cộng tổ chức tại Hà Nội vào tháng 5/2008. Thì đương nhiên 2 Cộng Sư nầy đã đứng ra khiêu khích và tuyên chiến với cả Cộng Đồng Tự Do Hải Ngoại chúng ta ...