*** VIỆT CỘNG ĐANG ĐẨY MẠNH KẾ HOẠCH THÀNH LẬP HỆ THỐNG "CÁC HỘI DOANH GIA VIỆT KIỀU" ĐỂ BIẾN THÀNH CÁC TỔ KINH TÀI VÀ TÌNH BÁO Ở HẢI NGOẠI. ***VIỆT CỘNG HÃY TỰ TRẢ LỜI:"AI-VĂN KIỆN NÀO ĐÃ GIAO CHO ĐẢNG CỘNG ĐỘC QUYỀN CAI TRỊ ĐẤT NƯỚC MUÔN NĂM ???" *** Rồi đây, Cờ máu Việt Cộng cũng sẽ biến mất như Cờ búa liềm Liên Sô. Đó là sự thực sau nầy ! *** HỒ CHÍ MINH là một tên LƯU MANH NHỨT THẾ GIỚI - Vì dám lấy TÊN GIẢ để làm QUỐC TRƯỞNG VIỆT CỘNG từ 1945 - Thế Giới chưa ai DÁM GẠT cả một dân tộc như vậy !!! ***Quảng Ba đã công khai gia nhập Phật Giáo Quốc Doanh Việt Cộng Hải Ngoại cùng với Như Huệ, Tâm Phương ... Quảng Ba tự xưng khơi khơi chức vụ Hoằng Pháp Úc-Tân Tây Lan không kèn không trống ... *** VỢ CHỒNG HENRY DANG (Đặng Văn Hiền, Gốc QGHC và đương kiêm Chủ Tịch Hội Đồng Hương An Giang) đã xác nhận CÙNG về Hà Nội dự VESAK là chuyện có thật 100% - Từ nay CẶP VỢ CHỒNG nầy sẽ không thể nào TRÀ TRỘN vào các sinh hoạt Cộng Đồng Tự Do như trước ... *** Linh Mục Bùi Đức Tiến, Bs. Trần Thanh Nhơn, Bs. Nguyễn Ngọc Hương mong Việt Cộng sống lâu để họ được trở thành THÁNH TỬ vì mượn từ thiện để đánh bóng tên tuổi cá nhân ...

Tuesday, August 31, 2010

VỪA TÌM THẤY 1 BÀI VỀ VỤ TRUY ĐIỆU HOÀNG MINH CHÍNH - BÀI NẦY CÓ NÓI SƠ VỀ CHU TẤT TIẾN



DINH LAM THANH :

Nha Nguy Ta Lay ,Vo Nguy ... ,Con Nguy Ta SaiLTS: Hành động, lời nói của những tên việt-gian cộng-sản trước sau vẫn phát xuất từ bản chất VIỆT GIAN của chúng mà ra.Khủng bố, giết dân, bán nước của tập đoàn việt gian cộng-sản mà chỉ đạo là tên đại việt-gian Hồ chí Minh đến nay đã được phơi bày là lịch sử thật, chứng liệu thật mà bọn việt-gian cộng-sản không thể che dấu, khỏa lấp, đổi trắng thay đen đuợc.

Câu nói thoát ra từ cái mõm việt-gian Nguyễn Hộ dưới đây cũng từ bản chất đó!

Nhớ lại, trong vụ tên việt-gian Hoàng minh Chính chết, một số kẻ với tư cách cá nhân đã quỳ lạy, khóc than tưởng niệm tên việt-gian Hoàng minh Chính.

Nhưng, Chu Tất Tiến, nhà văn làm antenna trong tù đã cao giọng viết: "Những ai không tuởng niệm Hoàng minh Chính là loại đầu con tôm!"

Hồn Việt trân trọng giới thiệu đến quý độc giả bài viết dưới đây của tác giả Đinh Lâm Thanh."NHÀ NGỤY TA Ở, VỢ NGỤY ..., CON NGỤY TA SAI !"* Đinh Lâm Thanh *Nguyễn Hộ : MÙ LÒA LÀM TÔI TỚ CHO BẮC VIỆTCâu nói trên đây của Nguyễn Hộ, một cộng sản gộc nằm vùng, ông đã tuyên bố công khai ngay lúc quân cộng sản vào chiếm Miền Nam. Tác giả câu nói bất hủ nầy vừa từ giã đảng, nối gót già Hồ về với quan thầy Mao-Mác-Lê. Nếu một cái chết bình thường như của bao nhiêu cán bộ gộc cộng sản khác thì chẳng có gì để nói, đàng nầy, một đảng chính trị ở hải ngoại vội vàng đăng báo phân ưu và vinh danh Nguyễn Hộ như một nhà ái quốc đáng kính. Sự việc nầy đã gây ra nhiều phản ứng phẫn nộ trong cộng đồng người Việt tự do hải ngoại. Nhưng trái lại cũng có vài người lên tiếng cho rằng ‘nghĩa tử, nghĩa tận’, khi một ai đã nằm xuống thì nên hỉ xả bỏ qua. Tôi xin phép mượn cái chết của Nguyễn Hộ để nói chuyện với ‘những người còn sống’ ở hải ngoại !Nếu những người lên tiếng bênh vực Nguyễn Hộ thuộc thành phần nằm vùng tại hải ngoại hay là những người tỵ nạn kinh tế mà từ trước đến nay thường huênh hoang ‘Nhờ cộng sản vào chiếm Miền Nam mà ngày nay họ có được cái nhà cao, chiếc xe đẹp’ và mỗi năm xum xuê áo gấm về làng thì chúng ta cũng không cần bàn đến làm gì ! Nhưng trong trường hợp những ai mà vợ đã bị Nguyễn Hộ lấy, nhà đã bị Nguyễn Hộ ở và con cái đã bị Nguyễn Hộ sai đi nghĩa vụ chết thay cho bộ đội, đi lao động kinh tế, xé núi phá rừng, đào kinh lấp đường cho chúng nó đi…mà còn lên tiếng phân ưu than khócthì những người nầy cũng được xem như kẻ mất hẵn tình người chẳng khác gì cộng sản !

Qua việc phân ưu thương tiếc đồng thời vinh danh Nguyễn Hộ là một nhà yêu nước chân chính của một đảng lớn hải ngoại, cộng đồng người Việt tỵ nạn nhớ lại chuyện Hoàng Minh Chính xảy ra cách đây không lâu. Hoàng Minh Chính là sư tổ của cộng sản, được huấn luyện trước 10 năm và cho phép thành lập đảng đối-lập-cuội, sau đó cộng sản cho ra nước ngoài với chiêu bài ‘Tiểu Diên Hồng’. Thất bại trở về nước vẫn hưởng bổng lộc của đảng, ăn trên ngồi trước, khi chết thì được tổ chức rình rang để cò mồi than khóc thương tiếc…

Đến ngày giỗ, một nhóm nằm vùng, cò mồi cũng như những người nhẹ dạ ở Mỹ đã dựng bàn thờ, khăn áo nón mũ, xì xụp vái lạy như cha chết không bằng !

Trong đó phải kể đến nhiều vị tai to mặt lớn trước đây như ông cựu thủ tướng, đại diện vài đảng phái, ít sĩ quan cao cấp của QLVNCH, những nhà trí thức đỏ ruột cũng như các cụ ông tuổi đã gần đất xa trời…đã đến thắp nhang vái lạy ông tổ cộng sản Hoàng Minh Chính.

Đây là một điều sĩ nhục cho Việt Nam, cho tập thể người Việt Tỵ Nạn và cho hàng triệu vong linh đã chết để bảo vệ ngọn cờ Quốc Gia hay hàng trăm ngàn mạng người đã vùi thây dưới lòng đại dương.

Trong bài viết ‘Kẻ Thù Trước Mặt, Người Đâm Sau Lưng’ tôi đã nhắc nhở với thành phần trên đây rằng : ‘Đáng gì một chút hư danh, một buổi tiệc hay vài ba trăm dollars mà phải bán thanh danh của mình đã khổ công ‘gìn vàng giữ ngọc’ suốt cả cuộc đời.

Đáng gì một chút phù du mà tự mình đốt cháy nhân cách và danh dự gia đình giòng họ. Sử sách tỵ nạn sẽ ghi chép và lưu lại nhữnh hành động nầy cho đời sau, con cháu phải xấu hổ vì cha ông của họ vì một miếng ăn hời và tí danh hão mà phải bán luôn cả danh dự.Nhưng đối với trường hợp Nguyễn Hộ, dù mới nằm xuống mà một đảng chính trị đã đăng phân ưu đồng thời tôn vinh một cán bộ cộng sản mà chính miệng ông ta đã hậm hực phun ra những câu nói dâm dật như già Hồ, nồng nặc mùi máu và căm thù thành phần quân-cán-chính của Việt Nam Cộng Hòa cũ, thì tôi nghĩ rằng lời ‘Phân Ưu’ đăng trên các báo & diễn đàn là một chứng cớ hùng hồn bằng bút mực để xác định những gì mà cộng đồng người Việt tỵ nạn trên khắp thế giới đã nói nhiều về đảng chính trị nầy.

Để xem, những ngày giỗ Nguyễn Hộ sắp đến, thành phần nào ở hải ngoại sẽ đứng ra tổ chức và những khuôn mặt nào sẽ khăn áo đến vái lạy kẻ thù của mình !Những anh hùng Vị Quốc Vong Thân không được thành phần người mất gốc trên đây vinh danh tưởng niệm mà thường thấy nhiều nhóm tổ chức dạ tiệc văn nghệ tạ ơn, vinh danh, thương nhớ…từ những tên ca nhạc sĩ nằm vùng trong tháng tư đen đến những ngày kỵ giỗ của những con bài tranh đấu cuội do cộng sản dàn dựng lên !

Chuyện gần đây nữa, khi nghe một vài cán bộ gộc cộng sản sắp từ giã cỏi đời hay bị thất sũng lên tiếng chống đối nhà nước về việc tham nhũng, bán đất, nhượng biển và rước quân thù Tàu cộng qua đô hộ thì một số người ở hải ngoại đã vội vàng chuẩn bị chuông trống để hoan hô và áo mão chờ đợi tôn vinh ! Lấy ví dụ, Võ Văn Kiệt là sư tổ cộng sản, chính tên nầy đã giết hại biết bao nhiêu đồng bào ruột thịt chúng ta, ăn cướp bao nhiêu tài sản của đất nước cũng như của dân chúng Miền Nam…nhưng khi sắp chết Võ Văn Kiệt chỉ cần lên tiếng chỉ trích đảng cộng sản, nhà nước của chính ông ta đẻ ra thì được một số người ở nước ngoài lấy làm hả hê xem như đã tìm được một thần tượng yêu nước ! Xin hỏi rằng, chỉ một câu nói vớt vát trước khi chết – không biết thật hay giả - của Võ Văn Kiệt có thể đánh đổi được cả một biển máu, cả hàng triệu bộ xương của dân Miền Nam do chính bàn tay tên nầy và đồng bọn gây ra hay sao ? Tiếp đến, ví dụ tiếp theo là tiền của, xương máu và tội ác của Võ Nguyên Giáp chở cả trăm ‘chuyến tàu thống nhất’ cũng không hết.


Nhưng khi Võ Nguyên Giáp gởi thư phản đối việc Bauxite ở Cao Nguyên thì lại cũng một số người hải ngoại, như đã nói ở trên, lên tiếng hoan hô ca tụng, tưởng chừng như vận mệnh đất nước Việt Nam sắp đổi đời nay mai ! Cướp của giết người cả trên 60 năm, bây giờ chỉ cần vài ba chữ phản đối là có thể chạy tội một cách dễ dàng vậy sao ? Nếu Võ Nguyên Giáp vẫn còn một chút lương tri như y tuyên bố thì hãy đứng lên lãnh đạo quân đội nhân dân đuổi quân Tàu về xứ đồng thời lật đổ cái đảng công sản khốn nạn kia thì may ra còn nghe lọt được lỗ tai ! Giả dụ mai đây Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Minh Triết, Nông Đức Mạnh cũng tuyên bố vài câu lếu láo rồi qua Âu-Mỹ xin tiền, không biết những người nhẹ dạ trên có trải thảm đỏ quỳ lạy và dâng tiền cho chúng nó không ?

Đồng ý rằng, nếu những người cộng sản từ bỏ đảng thật sự, đứng về phía dân chúng để chống lại nhà nước bằng những hành động thực tiễn thì đó là thời vận của Việt Nam đã đến. Còn nếu những cá nhân nầy vẫn đội đảng lên đầu, xây xi-măng cốt sắt cho đảng rồi nhân danh cái nhản hiệu cộng sản để bóc lột xương máu đồng bào thì những người tranh đấu hay làm chính trị cần phải nghiên cứu trước khi ra quân để khỏi bị sụp xuống hố.Thật ra, Võ Văn Kiệt và Võ Nguyên Giáp và các đảng viên kỳ cựu khác, nếu có lên tiếng chỉ trích nhà nước của chúng, thì cũng chỉ là những con gà gáy đi gáy lại những câu đã được trung ương bộ chính trị nghiên cứu và cho phép trước.

Đây là một hình thức chữa cháy với mục đích trấn an dân chúng quốc nội và lừa bịp hải ngoại. Cộng sản cho rằng, những tiếng gáy nầy sẽ giúp dân chúng hã giận phần nào, đồng thời để cho những người suy nghĩ nông cạn nhầm lẫn rằng nội bộ của đảng cộng sản đã có những đột biến thuận lợi cho công cuộc tranh đấu. Xin cẩn thận đối với các thủ đoạn của cộng sản !

Tóm lại, một số người nhiệt tình vì quá nôn nóng trong việc đốt giai đoạn tranh đấu hay thành phần chính trị xôi thịt muốn nổi danh bằng con đường tắt vừa ‘nghe-thấy’ cái gì mới lạ xảy ra ở Việt Nam thì đã vội vàng xung phong lên hàng đầu đánh chuông khua mõ. Hành động nầy chỉ tạo trò cười cho quân cộng sản mà thôi. Đừng nói gì xa xôi, cả một số lớn người Việt nước ngoài đã bị ‘luật sư Cầu Muối của triệu dân oan’ lừa bịp ngay trên vùng đất tự do từ mấy năm nay.

Thế mới hiểu tại sao, tranh đấu đã 34 năm qua nhưng cộng sản Việt Nam vẫn có đó !!!Tháng 7, 2009http://www.hoivanho anguoiviettudo. com/Thành Kính Phân Ưu Nhà Ái Quốc Nguyễn HộViệt TânViệt Nam Canh Tân Cách Mạng ĐảngXin trân trọng gởi lời Thành Kính Phân Ưu đếnQuí Tang Quyến,Quí Cựu Thành Viên Câu Lạc Bộ Những Người Kháng Chiến Cũ,Quí Cựu Cộng Tác Viên Báo Truyền Thống Kháng Chiến, và Những Vị Chia Xẻ Cùng Lý Tưởngtrong ngày từ giãNhà Ái Quốc NGUYỄN HỘ.

Cụ đã không chấp nhận im tiếng để hưởng bổng lộc suốt đời còn lại, nhưng đã can đảm đứng thẳng theo tiếng lương tâm,công nhận trước toàn dân sự chọn lựa lầm lẫn của đời mình, dứt khoát từ bỏ đảng CSVN khi biết rõ bản chất của họ,dũng cảm cảnh báo dân tộc về tương lai băng hoại dưới chế độ độc tài,và vì thế, Cụ đã chấp nhận cảnh giam cầm tại gia đến hơi thở cuối cùng.

Đảng Việt Tân xin bày tỏ niềm vinh hạnh đã được chia xẻ những tâm tư và cộng tác với Cụ Nguyễn Hộ trong công cuộc tranh đấu cho tương lai dân tộc.
Posted by Nam Tào at
1:01 PM 0 comments

THỦ TƯỚNG DE FACTO JULIA GILLARD
KHÔNG O BẾ ĐƯỢC ANDREW WILKIE (Tas)



Key MP shuns offer from Labor
Andrew Darby, Michelle Grattan and Tim Colebatch


September 1, 2010
JULIA Gillard has failed in an initial bid to win the backing of key Tasmanian independent MP Andrew Wilkie, as negotiations intensify over who will form the next Australian government.


Hours after Ms Gillard yesterday pitched a parliamentary reform agenda aimed at securing the support of non-aligned MPs, Mr Wilkie said Labor's written response to a list of issues he had raised was unacceptable.
Rural independents' decision is likely by Friday
''I've now received a formal proposal from the ALP for my support,'' Mr Wilkie told The Age in Hobart last night. ''It's confidential, and unacceptable to me,'' he said. ''I'm now waiting for one from the Coalition.''
Mr Wilkie, the former intelligence analyst and Iraq war whistleblower who won the Hobart seat of Denison from Labor at last month's election, on Monday released a list of 20 priorities to be addressed by both major parties, led by bet and loss limits on poker machines and rebuilding Royal Hobart Hospital.
Michelle Grattan: The calm before the storm for the indies
After rejecting Labor's offer, he said he would probably return to Canberra for more talks. He said it was important to resolve uncertainty over who will govern as soon as possible.
''Going into next week would be unreasonable for the community,'' Mr Wilkie said. ''The community, the financial markets want to finalise this and get back to business as normal.''
Tony Wright: Judges absent as Gillard bids for Miss Australia crown
In Canberra, country independents Tony Windsor and Rob Oakeshott yesterday met British climate expert Nicholas Stern and Professor Ross Garnaut, who conducted an inquiry on climate change for the Rudd government.
With regional communications among their key concerns, the pair and the third country independent, Bob Katter, also met Mike Quigley, the head of the government broadband company, NBN Co. Last night they were meeting heads of government departments.
Ms Gillard, arguing her case to survive as Prime Minister, told the National Press Club that ''what is needed more than anything now is continuity''.
Admitting errors in Labor's first term in government, she said: ''The lesson I take … is that leadership requires boldness, patience and methodical work. That means opening up our national debates to more Australians, to build stronger understanding of and consensus for policy initiatives.
''I believe Australians want greater scrutiny of their government and greater accountability to Parliament''.
She said immediate reforms would make better provision for private members' bills and improve question time, with a time limit on ministers' answers.
She also supported having an independent Speaker and the idea of extending the system of Senate estimates hearings to the House of Representatives.
Opposition Leader Tony Abbott, in an upbeat address to the first meeting of the shadow cabinet since the election, said the caretaker government had no mandate and no legitimacy.
''We are no longer an opposition. We may very well be a government in waiting,'' Mr Abbott told his colleagues. Only the Coalition could form a stable and competent government - and only it could deliver serious parliamentary reform, as well as a better deal for regional Australia, he said.
As an Essential Research poll showed Labor and the Coalition tied at 50-50 on a two-party basis, Ms Gillard said she disagreed with those calling for a fresh election. ''The Australian people have voted for this Parliament - and our job is to make it work,'' she said.
The lead in the official two-party count of votes after preferences continued to see-saw yesterday. The Coalition seized the lead on Monday night, Labor regained it yesterday morning, but last night, the Coalition again took a wafer-thin lead, although at 7.30pm both sides had 50 per cent of votes counted.
But the count at this point includes only the 142 seats where Labor and the Coalition had the final two candidates. The eight other seats as a group will lift Labor's vote once they are included.
There are still roughly a million votes left to count - including up to 200,000 provisional votes cast by people not on the roll, many of which will be admitted as a result of the High Court's ruling in the GetUp case. These votes tend to favour Labor and the Greens.
The Prime Minister made it clear Labor would not agree to re-erect tariff walls in negotiations with the independents, after Treasurer Wayne Swan refused to rule it out. She said Labor had gone ''to hell and back'' to modernise the economy, including reducing tariffs.
Asked what she would do to lift the dead hand of focus group politics that had infected Labor, she said every party used focus groups - the vice was when a party generated its manifesto on the basis of them. ''I did not do that.''
With TOM ARUP

VIỆT CỘNG ĂN MỪNG
NGÀN NĂM "THĂNG LONG" NÔ LỆ TRUNG CỘNG.


1 tháng 10 năm 2010 :
« Ngàn năm Thăng Long » hay
« Ngàn năm nô lệ » :
Phan Văn Song.

1-Ngàn năm Thăng Long, trò chơi mới của Đảng Cộng sản VN ?
Tôi đã tự hứa là từ nay tôi không theo dõi tình hình thời sự ở Việt nam Cộng sản nữa ; tôi không để ý và sẽ mặc kệ những vung vít màu mè của Đảng Cộng sản Việt nam Hà nội. Tôi đã tự hứa từ nay không biết đến và mặc kệ những … Đại hội Đảng, lẩn nầy là lần thứ mấy ? tôi không cần biết, vì những sanh hoạt ấy không phải là sanh hoạt của toàn người dân Việt nam. Tôi đã tự hứa mặc kệ không cần biết tên tuổi chức tước những tay cán bộ của Nhà nước, Quốc hội hay của Đảng Cộng sản Việt nam. Tôi đã tự hứa từ nay không động lòng, đau khổ, … không giận hờn khi những tay đương quyền tuyên bố đàn áp dân lành, và cũng không mừng rở, không hân hoan khi một anh cựu cán bộ về hưu, hay một anh cựu tướng về vườn chỉ trích phê bình chế độ, vì đàn áp, công an trị, là chuyện bình thường của một chế độ độc tài, và những chỉ trích đối kháng kia, đều là giả tạo, tất cả đều là giả dối, chỉ là cái súp-páp để hạ hơi một nồi đầy tức tối và oan ức sắp bùng nổ. Tôi cũng đã tự hứa, từ nay, không để ý đến những vai trò quốc tế của Việt Nam như chủ tịch ASEAN,.. APEC… hay ngay cả những lễ lạc, như lễ Quốc tổ và ngày nay lễ … kỷ niệm Ngàn năm Thăng Long do Đảng Cộng sản Việt nam tổ chức, tất cả là màu mè, tất cả chỉ là biểu diễn, và …. biết rồi khổ lắm nói mãi ! !
Cái quan trọng là do người dân Việt nam trong nước có phản đối không ? Hay vẫn dững dưng chạy theo miếng ăn hằng ngày, người giàu có, nhờ phe phái, ngày áp-phe, tối ăn nhậu, người lao động nghèo đói ngày chạy gạo, tối chạy cơm, báo chí trăm tờ thì viết ra chỉ một giọng cường điệu, láo lếu nưng bi, radio truyền hình thì chỉ rao bán tin vịt do Đảng chỉ đạo…Người đối kháng, dân chủ ? có đấy, nhưng lèo tèo vài bạn ; kẻ phản tỉnh ? cựu đảng viên ?, cựu quân đội ? cũng có đấy, nhưng chỉ lẻ tẻ vài người, …vài hàng can ngăn, đôi chữ can gián ; lèo tèo hai ông tướng về hưu, lẻ tẻ ba ông đại tá về chiều, nói cho có nói, la cho có la… Vì sao có kẻ nói bị mang tội là phản quốc, vì sao có người nói lại cho là xây dựng ? Nói cở nào bị bắt ?, nói cở nào ở tù ? , nói cở nào là phản quốc ?, nói cở nào là phê bình xây dựng ? không ai biết, không một luật sư nào đo lường, bảo vệ, bào chửa… Một quốc gia vô tổ chức, không luật lệ, không tôn trọng luật lệ, có người ra tòa, công an dùng tay bịt miệng (Linh mục Nguyễn Văn Lý), kẻ blogger xử dụng mạng vi tính, bị công an dùng hệ thống Tin tặc phá mạng bịt mồm (Tướng Công An Vũ Hải Triều hãnh diện tuyên bố phá tan 3000 blogs và bắt giam nhiều bloggers). Một quốc gia điều khiển bởi những tay côn đồ với những bằng cấp dỏm, với những chức vụ mua, với những quân hàm phe đảng, tự biên tự diển. Người ta nói với tôi rằng bằng cấp dỏm bên Việt nam là do các Đại học nước ngoài (ở Mỹ) dỏm bán đấy ! ! !
Lại đỗ thừa nước ngoài ! Lại lỗi tại đế quốc Mỹ !
Việc gì phải mua nước ngoài cho tốn tiền, Đảng Cộng sản Việt nam đủ tài đủ sức tự tạo ra một Đại học và tự trao hay bán cho những đảng viên những bằng Thạc sĩ, Tiến sĩ !. Người ngoại quốc, qua lại liên hệ thương mại hay ngoại giao với người Việt nam Cộng sản, vẫn tiếp tục đọc những học vị như Doctor, hay Professor để gọi các vị Thạc sĩ hay Tiến sĩ Việt nam, vì đó là những chữ đã được in trên danh thiếp …còn cái dỏm hay không là việc của người Việt nam cộng sản… người ngoại quốc chỉ lo cái phần thương mại hay ngoại giao xem họ có lợi hay không ? Và cuối cùng … cái Dỏm nay đã biến thành cái Thiệt rồi ! Phải chăng Lê Nin, thầy của Đảng Cộng sản quốc tế đã dạy các đàn em rằng : « cứ tiếp thục nói láo, nói mãi, nói hoài, cái láo cái dỏm sẽ thành cái thiệt » ?
Vì vậy, tôi đã tự hứa là không thèm nói đến Đảng Cộng sản Việt nam nữa ! Nói làm gì khi trong một đất nước do người Cộng sản cai trị, chưa bao giờ người lao động, người nông dân, người ngư phủ, giới dân nghèo Việt nam bị chèn, bị ép như vậy ! ! Lao động thì đồng lương dưới mức tối thiểu là 2 dollars một ngày, và 1/3 dân số Việt nam sống dưới mức nghèo tuyệt đối là 1 dollar một ngày ( theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc). Sống cạnh bờ biển, người ngư phủ Việt nam đã bị Hải quân Tàu Cộng cấm không cho ra biển đánh cá, vì biển Đông hải Việt nam nay đã biến thành biển Nam Hoa hải (Mer de Chine du Sud). Sống vùng cao nguyên, người sơn cước Việt nam không còn được khai thác rừng núi, lâm sản, khoáng sản vì cả ngàn héc ta rừng cao nguyên Việt nam nay đã bị Tàu Cộng thuê mướn và sở hữu chủ khai thác : trồng bạch đàn cho kỹ nghệ giấy Tàu, khai thác Bô xít cho kỹ nghệ nhôm Tàu…. Và như thế, chỉ trên vài năm sau, đất đai vùng cao nguyên toàn đất nước Việt nam sẽ khô cằn. Sống ở đồng bằng sông Hồng, hay sông Cửu Long, người nông dân Việt nam không còn làm chủ của những cơn nước lớn nhỏ hay những ngọn thủy triều cao thấp nữa, vì thượng nguồn sông Hồng và sông Cửu Long bên kia biên giới đã bị Tàu Cộng cho xây bừa bãi những đập thủy điện, ngăn chận giòng nước và đất lắng đọng (sédiments) mầu mỡ phì nhiêu của hai đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long ( ngày nay nước phèn đã vào sâu vào miền Hậu giang, nước mặn đã lên tận miệt vườn).
Sáng hôm nay, nhơn đọc bài tản mạn của bạn Mai Thanh Truyết, tôi rùng mình khi bạn Truyết cho biết ( vì tôi hoàn toàn không biết, vì quá vô tình hay thờ ơ !) là ngày lễ kỷ niệm Ngàn năm Thăng Long là ngày 1 tháng 10 năm 2010 nầy, trùng ngày với ngày Quốc khánh Tàu Cộng, và kinh phí cho buổi lễ là 94 ngàn tỷ Đồng Việt Nam (VNExpress) tương đương với 4,5 tỷ Mỹ kim (1tỷ Đồng # US$50.000). Với một kinh phí tương đương gần 10% ngân sách quốc gia chỉ để cho “lễ hội”. Quả thật Việt Nam quá sang trọng và chịu chơi ! ! Tôi thật ngao ngán, trong một thời kỳ củi châu gạo quế đang trên đà khủng hoảng kinh tế mà dùng 10 % ngân khỏan quốc gia để làm một cái lễ kỷ niệm.
Mà kỷ niệm cái gì ?
Khi Lý Công Uẩn dời đô ra Thăng Long, là để đánh dấu một kỷ nguyên mới, để nói rằng : một ngàn năm đô hộ của Tàu đã qua, thời gian tranh tối tranh sáng từ tranh chấp sứ quân đến học đòi quân chủ đã qua ; bắt đầu từ đấy (năm 1010) dời đô từ Hoa lư chật hẹp đến Thăng Long rộng mở là để đánh dấu một nền tự chủ của dân tộc Việt, và bắt đầu từ đấy là sự trưởng thành của nền quân chủ đầy Việt tánh… Từ một Hoa lư hiểm trở, bao bọc bởi những sưởn núi, thoát ra Thăng Long mở rộng quang đảng, nằm giữa sông Hồng, trên một đồng bằng rộng rãi.
Sau một ngàn năm đen tối, Hán thuộc, dời đô từ Hoa Lư đến Thăng Long là đánh dấu mở đầu một thời đại mới, thời đại tự chủ. Một kỷ nguy ên mới, với những thăng trầm, Đinh Lê Lý Trần Lê Nguyễn,…từ Tống đến Thanh qua Nguyên và Minh hay Thanh, mỗi triều đại Trung Hoa, dù người Hán tộc, Mông cổ hay Mản thanh, mỗi thời kỳ đều có thử sức, có khi một lần, có khi nhiều lần, đem đại binh qua quyết chinh phục nước Việt ta. Những vào mỗi thời đại quân đội Tàu đều gặp những anh hùng Việt nam đánh cho tời bời vứt giáo, cởi giáp chạy về Bắc. Từ ngày Ngô Quyền giết tướng Nam Hán là Hoàng Thao trên sông Bạch Đằng (939), rồi như cái lệ, từ Lê Đại Hành phạt Tống (981) xưng Vương, rồi Lý thường Kiệt tướng nhà Lý, hai năm đánh Tống (1075-1077) đến Trần Hưng Đạo tướng nhà Trần ba lần bình Nguyên (1258, 1284-1285, 1287), rồi Lê Lợi (1418-1427) mười năm kháng quân Minh phục quốc, và Hoàng đế Quang Trung (1789), chỉ một trận huy hoàng dẹp quân Thanh, .. bao chiến thắng của bao anh hùng phương Nam đại phá Bắc quân giữ bờ cỏi non sông cho dân tộc Việt, cho đất nước Việt. Có những cuộc chiến chậm chạp dai dẳng, như Trần Hưng Đạo phải ba lần ra quân, giặc Nguyên mới từ bỏ, có những cuộc chiến dài đăng đẳng phải gần mười năm kháng chiến nằm gai nếm mật, Lê Lợi mới đuổi được quân Minh, nhưng cũng có cuộc chiến chớp nhoáng chỉ trong vài ngày là phá tan quân thù như Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ , chỉ cần năm ngày đuổi quân Thanh vế bên kia biên giới.
Kỷ niệm ? Phải, nhưng phải kỷ niệm những lần đại thắng quân Tàu xâm lược.
Kỷ niệm ? Phải, nhưng phải kỷ niệm những lần toàn dân đoàn kết trước mọi ngoại xâm.
Kỷ niệm ? Phải, nhưng phải kỷ niệm sau một ngàn năm thăng trầm nhưng vẫn giữ được tinh thần dân tộc, con người và văn hóa Việt nam. Vì mặc dù sau 200 năm Trịnh Nguyễn phân tranh, sau gần 100 năm Pháp thuộc, sau 70 năm Cộng sản cầm quyền Thăng Long, ngày nay Hà nội vẫn còn giữ được sắc thái Việt Nam và cả nước Việt nam vẫn còn nói chung một ngôn ngữ.
Nhưng sau ngày 1 tháng 10 năm 2010 ?
Có còn chắc Hà nội vẫn còn là Thăng Long không ?
Người dân Việt nam ở Hà nội còn mãi mãi là người Việt nam không ?
Và đất nước Việt nam ? và giang sơn Việt nam ? mãi mãi vẫn còn là Việt nam ? Khi 1/3 biên giới không còn nữa : Thác Bản Giốc ? Ải Nam Quan ? Hoàng sa, Trường sa ? khi những khu rừng trên Cao nguyên đã bị người « lạ » mướn ở, khi những vùng …những vùng… làm sao dân biết cho hết, làm sao kiểm soát được những ai thực sự là chủ nhơn đất nước Việt nam ngày nay !! Ta hay Tàu ?
2-Dân tộc sanh tồn :
Nam quốc sơn hà Nam đế cưTiệt nhiên định phận tại thiên thư

Anh hùng Lý thường kiệt đã nhận định như vậy, trước khi đánh tan quân nhà Tống bên bờ sông Như Nguyệt (năm 1075). Đó là bản tuyên bố độc lập và chủ quyền của dân tộc Việt đầu tiên của lịch sử Việt nam. Lời tuyên bố khảng định :
Đây là không gian sanh tồn của dân Nam : Đất Nam do Vua nước Nam trị. Từ đời nhà Lý, từ nay, từ ngày dời đô ra Thăng Long, dân tộc Việt đã khẳng định rằng: chúng ta là dân nước Đại Cồ Việt (Năm 968, Vua Đinh Tiên Hoàng sau khi dẹp tan nạn sứ quân, thống nhứt đất nước, lên ngôi, đặt tên nước là Đại Cồ Việt), khác hẳn với dân Hán, bên Tàu, phía Bắc rồi. Năm 1054, Vua Lý Thánh Tôn đổi tên nước là Đại Việt. Và từ đấy, nước ta tuy có những tên gọi Việt nam ( Gia Long – 1804 và ngày nay) hay Đại Nam (Minh Mạng -1828) nhưng không bao giờ chúng ta nhận chúng ta là người An Nam cả, như các triều đình Tàu muốn. Bài thơ của Đại tướng Lý Thường Kiệt, khi đã bình Tống đã nói đến Chủ quyền của Vua và dân Việt, đã khẳng định không gian Sanh tồn của dân tộc Việt.
Đến năm 1427 sau khi đã chém đầu Liểu Thăng, đánh bại quân Minh ở Chi Lăng, đuổi quân nhà Minh về Tàu. Nguyễn Trải bằng bài Bình Ngô đại cáo, tuyên bố một lần nữa chủ quyền của Vua tôi đất Việt, và khẳng định không gian sanh tồn của dân tộc Việt, khác với không gian sanh tồn của dân tộc Hán.
….
Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,
Nước non bờ cỏi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác;
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần
Bao đời xây nền độc lập;
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên
Mỗi bên hùng cứ một phương;
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
Song hào kiệt thời nào cũng có

3-Để kết luận :
Và ngày hôm nay, trong không khí bán nước, dâng đất dâng biển dâng hải đảo bán núi rừng cho Tàu, người dân Việt nam phải tỉnh dậy và đứng lên.
Phải chăng đã đến lúc người dân cần phải đứng lên để tự cứu lấy mình ?
Bạn Mai Thanh Truyết đã đặt câu hỏi nầy !
Tôi xin nói thêm, cả người dân Việt nam ở hải ngoại cũng như ở quốc nội.
Và tôi cũng cùng chung bạn Mai Thanh Truyết cùng nhận xét và kết luận:
Ngàn năm Thăng Long sắp đến không phải để đánh dấu mối vinh quang của dân tộc mà là một dấu ấn, chuẩn bị cho chính sách đô hộ lần thứ 5 của giặc Tàu, tiếp nối ngàn năm Việt Nam bị Tàu đô hộ trong quá khứ.
Từ nay, nếu để người tàu Quảng đông gặp người Việt chúng ta không còn gọi chúng ta là “Dế Nản dành” nữa mà là “Thòn dành” thì ôi thôi, tôi nghiệp cho người Việt chúng ta lắm ! (Dế Nản dành = Việt Nam nhơn = người VN, Thòn dành =Đường Nhơn, người Đường, người Tàu).
Và cũng thừa cơ hội, xin gởi quý bạn đọc một thành ngữ quen thuộc bằng tiếng quảng đông, chúng tôi đã được nghe ở Sài gòn thời trước 30 tháng tư năm 1975 : “ Mậu thén cún sản cỏn, chỉ khán cún sản khầu xì” ( Đừng nghe Cộng sản nói, chỉ nhìn cộng sản hành động ), để người Việt chúng ta nghe dần dần tiếng Quảng đông cho quen lỗ tai.
Thành ngữ nầy hình như của một vị cựu lãnh đạo miền Nam Việt nam, nhưng khi ổng nói hổng ai nghe !
Mong kỳ nầy mọi người Việt nam ráng mở mắt ra để nhìn “cún sản khầu xì”. !
Và bịt lỗ tai lại để khỏi nghe lời đường mật của “cún sản cỏn” ! !
Mong lắm !

Phan Văn Song Tháng 8 /2010

Dân chủ thực hữu
Phan Văn Song


Tại sao chúng ta chọn thể chế Dân chủ – Tự do – Nhơn bản, lý tưởng tổ chức quốc gia của các nước dân chủ Tây Âu và Bắc Mỹ làm định hướng cho Việt nam tương lai ?
Câu trả lời bộc phát đơn sơ mà ai trong chúng ta cũng thấy được, đó là từ sau năm 1989, thể chế và ý thức hệ cộng sản hoàn toàn sụp đổ qua trên 70 năm, đã làm phá sản Cộng hòa Liên bang Sô viết và các quốc gia Đông Âu. Con đường còn lại duy nhứt hiện nay để các tổ chức đưa các quốc gia đến Dân chủ.- Tự do – Nhơn bản và thạnh vượng là con đường mà người Tây Âu và Bắc Mỹ đã và đang đìều hành các quốc gia tiến bộ và thạnh vượng của họ.
Câu trả lời kể trên đúng, nhưng đơn sơ. Người ta có cảm tưởng dường như chúng ta chọn điều còn lại, sau khi những điều gì chúng ta có thể chọn đều bị sụp đổ tiêu tan. Chúng ta chọn con đường Dân chủ- Tự do- Nhơn bản của các quốc gia Tây Âu và Bắc Mỹ không những chỉ có vậy, mà còn chọn lý tưởng của một nền văn minh thể hiện và được ghi thành văn bản từ trên 2000 năm nay.
Tôi xin trích dẫn :
-“ Chúng tôi xác nhận rằng các chơn lý sau đây là những chơn lý hiển nhiển và không ai có thể chối cải được :
-Tất cả mọi người được dựng nên bình đẳng như nhau.
-Tất cả đều được Đấng Tạo hóa ban cho một so quyền bất khả nhượng.
Trong các quyền nầy, quyền được bảo toàn mạng sống, quyền tự do tìm kiếm hạnh phúc là những quyền thượng đẳng.
Để bảo đảm cho mọi người đều được hưởng thụ các quyền vừa kể, nhơn loại thỏa thuận với nhau là quyền hành hợp lý của chánh quyền xuất phát thành phần dân chúng bị trị ”
( Tuyên ngôn độc lập Huê kỳ 1776)

« Các đại diện của dân tộc Pháp, hiện đang hợp thành Hội đồng quốc gia, nhận thức rằng chính sự kém hiểu biết, sự quên lảng, và thái độ khinh thị đối với các quyền của con người là những lý do duy nhứt đưa đến các đại họa công cộng cũng như sự thối nát của chánh quyền.
Các đại diện đồng thanh long trọng tuyên bố rằng các quyền của con người do thiên phú, bất khả nhượng và cao quý. Các vị đổng quyết định ghi các quyền vừa kể vào một bản tuyên ngôn nầy luôn luôn hiện diện trong tâm khảm mọi thành phần cộng đồng xã hội.»
(Tiền đề Tuyên ngôn Nhơn quyền và Quyền công dân cách mạng Pháp quốc 26/08/1789)



Từ năm 1776 dân chúng Huê kỳ và từ năm 1789 dân chúng Pháp và Âu châu không ngừng kiện toàn và hoàn hảo hóa thể chế tổ chức quốc gia theo lý tưởng cao cả được ghi trong hai bản Tuyên ngôn vừa kể.

Đó mới là lý do chánh đáng cho chúng ta chọn nền văn minh Dân chủ-Tự do-Nhơn bản của các quốc gia Tây Âu và Bắc Mỹ cho quê hương thân yêu của chúng ta.

3- Hai bản Tuyên ngôn Độc lập 1776 của Huê kỳ và Tuyên ngôn Nhơn quyền và Quyền công dân cách mạng Pháp 1789 là hai bản đánh dấu khởi điểm các ước vọng dân chủ, tự do, nhơn bản, các quyền gắn liền với bản tánh nhơn loại của con người để “ sống người cho ra ngườỉ ” được ghi thành văn bảng có hệ thống. Những ước vọng của con người có được cuộc sống “người cho ra người ” hay Nhơn quyền luôn luôn hiện hữu ngay từ lúc con người hiện diện trên mặt đất, tiềm tàng trong bản tánh nhơn loại của con người.

Ngay trong Thánh kinh :
“Thiên chúa dựng con người giống hình ảnh Ngài” (GN 1:27)
Con người được ban trí khôn ngoan và tự do phản ánh trí khôn ngoan của Thiên chúa. Thánh kinh của Ki Tô giáo ghi lại cho chúng ta “ước vọng nhơn bản” của con người.

Nền văn minh La Hy cũng cho chúng ta những dấu vết tương tự :

- Démokratia ( do Démos =dân chúng Kratos = quyền hành) tức là quyền hành thuộc về dân chúng hay Dân Chủ.
- Isonomia ( do Isos= như nhau Némos= luật lệ) Luật lệ như nhau , cho tất cả mọi người hay “ Mọi người bình đẳng trước pháp luật”.
- Isegoria ( do Isos= như nhau Agoras= cộng đồng) mọi người đều như nhau trong cộng đồng nhóm họp để quyết định thể thức và hành động liên quan đến cuộc sống trong Thị xã (Polis). Hay mọi người đều có quyền phát biểu như nhau trong cộng đồng hay “Tự do ngôn luận”. Cách tổ chức và điều hành cuộc sống trong “Thị xã” (Polis) được người Hy lạp cỗ dùng từ ngữ phát xuất từ thị xã (Polis) để phát biểu đó là politico ( politica, politique= đường lối chánh trị).
- Và người La tinh cho rằng đường lối tổ chức trong thị xã, đường lối tổ chức thành thị xã ( Civis) có khả năng tạo ra cuộc sống văn minh (civilis).
Những từ ngữ nói trên để chứng minh ước vọng Dân chủ-Tự do Bình đẳng đã là những ước vọng sâu xa của con người.
- Các quốc gia Tây Âu, Bắc Mỹ qua các thăng trầm của lịch sử luôn luôn tìm cách kiện toàn và hoàn hảo hóa các ước vọng dân chủ của mình qua các văn kiện hệ thống pháp luật. Quốc gia Pháp trị ra đời (Etat de droit).
- Tuyên bố độc lập 1776 của Huê kỳ rồi đến Hiến pháp Philadelphia 1787 cùng 27 tu chánh án đã nói lên sự cải chánh liên tục của nền dân chủ Huê kỳ.
- Tuyên bố Nhơn quyền và Quyền công dân cách mạng của Pháp đã đem đến trên 12 bản Hiến pháp, tu chánh hiến pháp để dẫn dắt quốc gia này đến ngày hôm nay
- Sau Đệ nhị Thế chiến chúng ta còn nhận xét có những quốc gia như nước Đức phải làm lại một bản Hiến pháp - Hiến pháp cộng hòa Liên bang Tây Đức 1949, rồi Hiến pháp cộng hòa Liên bang Đức 1991 – hoàn hảo hơn hợp thời hơn.
Nhưng xét qua tất cả những bản Hiến pháp Tây âu hay Mỹ chúng ta rút tỉa ra những nét cơ bản sau đây :
1/ Điạ vị tối thượng của con người trong tổ chức quốc gia.
2/ Nền Dân chủ thực hữu ( démocratie substantielle)
3/ Tự do tích cực ( liberté positive) và
4/ Dân chủ tham dự ( démocratie participative)

1/ Địa vị tối thượng của con người :

Tuy không phải là đề tài của bài này, nhưng chúng ta cũng nên xét đến vì đấy là cơ bản của một nền dân chủ. Thí dụ :

Trong phần Tiền đề ( Préambule) Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức đã dành 19 đìều lệ để nói đến các quyền căn bản của con người - Hiến pháp 1947 của Ý đại lợi dành 11 điều cho “ địa vị con ngườỉ ” và 16 đìều khoản cho cho các quyền bất khả xâm phạm của con người ( 13 – 28 )

2/ Dân Chủ Thực Hữu

Thể chế dân chủ quốc gia được các Hiến pháp nêu lên ngay từ đầu hoặc ở Tiền đề hoặc ở các điều 1 hoặc 2 :

“ Quyền tối thượng quốc gia thuộc về dân chúng – Dân chúng hành xử quyền tối thượng theo hình thức và trong giới hạn của Hiến pháp ”
( Điều 1 , đoạn 2 Hiến pháp 1947 Ý quốc)

Cũng vậy quyền tối thượng của quốc gia thuộc về dân chúng. Vì thế thể chế dân chủ được Hiến pháp C H L B Đức long trọng tuyên bố ở đìều 20, cùng một điều khoản được dùng để định nghĩa bản thể và tổ chức quốc gia, sau khi đă dành 19 điều đầu tiên của HP để nói đến nhơn phẫm, quyền và tự do của con người.
“ … Mọi quyền hành của quốc gia đều phát xuất từ dân chúng. Quyền hành quốc gia được dân chúng hành xử qua các cuộc bầu cử, trưng cầu dân ý, và qua các cơ quan chuyên biệt của quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp ”
( Điều 20 đoạn 2 HP CHLB Đức 1947)

Còn nữa, Hiến pháp cũng có nhiệm vụ xác định thể thức làm thế nào để người dân trao quyền của mình cho những người đại diện, để họ hành xử thay mình. Bởi lẽ nếu thể thức trao quyền, khi được xác định một cách minh bạch và công bình, những người được coi là đại diện “ cơ quan chuyên biệt của quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp ” hay nói theo Hà nội và Hiến pháp CHXHCN Việt nam “ ….. « đội ngũ tiền phong của nhơn dân nông dân và của cả dân tộc … » có thể tước quyền của người dân và hành xử một cách bất chánh.

Thể thức đó được Hiến Pháp 1949 của Đức xác định :
“ Các dân biểu Hạ viện được tuyển chọn qua các cuộc phổ thông đầu phiếu, trực tiếp, tự do, bình đẳng và kín ”
(Điều 38 HP CHLB Đức 1949)

Và sau khi xác định thể thức chuyển giao quyền hành, phương thức và giới hạn hành xử theo Hiến pháp ấn định, chánh thể dân chủ vẫn chưa được coi là kết thúc. Vì, ai có thể bảo đảm cho giới thừa hành được dân chúng trao quyền là những người liêm chánh, hiệu năng, hành quyền theo luật chánh đáng không lạm quyền ?
Nói một cách khác, làm sao dân chúng có thể kiểm soát được hành vi của kẻ thừa hành ?

“ Nếu chánh phủ thiếu hiệu năng hoặc lạm quyền Quốc hội có thể bỏ phiếu bất tín nhiệm Thủ tướng và yêu cầu Tổng thớng giải tán chánh phủ ”
(Điều 67 HP 1949 CHLB Đức) .

“ Nếu Hạ viện không chu toàn nhiệm vụ mình, Tổng thống có thể giải tán Hạ viện trước định kỳ ”
(Điều 68 HP1949 CHLB Đức)

“ Nếu Chánh phủ , Hạ viện lạm quyền ban bố các Đạo luật bất chánh, vi hiến chỉ cần chánh phủ một Tiểu bang, 1/3 số dân biểu của Hạ viện hay ngay cả bất cứ một cá nhơn nào đệ đơn đến Viện Bảo Hiến, thành phần hành xử lạm quyền sẽ bị Viện Bảo Hiến phán quyết ”
(Điều 93 HP 1949 CHLB Đức)

Ngay trong Hiến pháp ấy của Đức cũng có một Điều lệ (Điều 45) quy định thành lập một Ủy Ban Thường Trực Bảo Vệ Nhơn Quyền tại Hạ Viện ( Wehrbeauftrage) để kiểm soát mọi hành vi gây tổn thương đền quyền và tự do của người dân.

Dân chủ là vậy. Dân chủ không chỉ có nghĩa là tuyên bố là người dân làm chủ, mà người dân có phương thế hữu hiệu để trao quyền cho các người đại diện, kiểm soát cách hành xử quyền hành của họ để định chuẩn hiệu năng và theo đúng đường lối Pháp định.
Đó là Dân chủ thực hữu.
- Dân chủ thực hữu là dân chủ được áp dụng theo dõi và thi hành Người làm luật buộc người cầm quyền phải có ý chí “ quyết tâm thi hành ” (la volonté d’action).

Việt nam tương lai phải có một Hiến pháp mà ngoài những tuyên bố trong những điều khoản phải được thực hiện thực sự trong thực tế.
- Tinh thần biến những điều khoản được tuyên bố trên lý thuyết (formel) thành những quyền và tự do được thể hiện trong thực tại được các nhà hiến pháp học ( constitionnalistes) gọi là tinh thần dân chủ thực hữu ( démocratie effective ou démocratie substantielle).
Để biểu hiện tinh thần ấy, bản Hiến pháp phải tiên liệu các điều kiện và phương tiện để các điều tuyên bố được áp dụng :
Thí dụ : Hiến pháp 1949 của CHLB Đức :
“ … Các quyền căn bản được kể sau đây ( quyền tự do căn bản của con người từ đìều 1 đến điều 20) có giá trị bắt buộc đối với cơ quan lập pháp hành pháp và tư pháp như những quyền bắt buộc trực tiếp ”
(Điều 1 đoạn 3 HP1949 CHLB Đức)
- Tinh thần Dân chủ Thực hữu là sự cố gắng áp dụng thể chế dân chủ (la volonté d’application de la démocratie) sẽ được đo lường bởi một bộ Luật Công pháp ( Droit Public), và quan trọng hơn bởi một Tòa Án Công Pháp ( Tribunal de Droit Public) Người dân có quyền “ kiện ” và bị cáo sẽ là những cơ quan quyền lực quốc gia không làm tròn bổ phận bảo đảm các quyền lợi người dân.

- Thực hữu, là phải tạo đìều kiện cho người dân được hưởng các quyền và tự do của mình.
“ Bổn phận của quốc gia là gạt bỏ đi những chướng ngại vật về phương tiện kinh tế và xã hội, là những chướng ngại vật giới hạn thực sự tự do và bình đẳng của người dân, ngăn cản không cho người dân phát huy triển nỡ toàn diện con người của mình và tham gia thiết thực vào tổ chức chánh trị, kinh tế và xã hội của xứ sở mình ”
(Điều 38, đoạn 3 Hiến pháp 1947 Ý)

- Thực hữu, là có một Hiến pháp quy trách cho quyền lực quốc gia. Nếu người dân không được hưởng những quyền bình đẳng cũng như những “ quyền đã được Hiến pháp liệt kê ” người dân sẽ quy trách nhiệm cho quốc gia. Nếu Lập pháp (Quốc hội) không thừa hành, Quốc hội có thể bị Tổng thống giải tán, nếu Hành pháp không hoạt động hữu hiệu, chánh phủ có thể bị Quốc hội bỏ phiếu bất tín nhiệm ( chánh phủ giải tán, nội các từ chức)

Hiểu như vậy, quốc gia không thể nói suông “ tự do – dân chủ – bình đẳng theo Hiến pháp và Luật pháp quy định ” mà chính quốc gia phải bắt buộc mình, tức là các cơ quan chánh phủ phải tạo ra những điều kiện thuận lợi về luật pháp, kinh tế, xã hội, giáo dục, y tế, tổ chức đoàn thể, hiệp hội, .. để con người, người công dân có phương tiện thực hữu hưỡng các sự tự do của mình, để phát triển cá nhơn mình, và cộng tác xây dựng một quốc gia tiến bộ và phú cường cho chính mình .
Dân chủ thực hữu là vậy.

Kết luận :

Cá nhơn phục vụ cộng đồng, Cộng đồng hộ trợ cá nhơn. Lấy sự cách biệt phục vụ cho sự thống nhứt. Liên bang phục vụ thống nhứt hành chánh quốc gia ( La différence au service de l’unité. Le fédéralisme au service de l’unité étatique).
Dân chủ là chấp nhận mọi khía cạnh, mọi cách biệt, từ sắc dân ( nationalité) tôn giáo, nét đặc biệt từng vùng ( originalité régionale) tạo ra do địa dư ( géographie) hay do thiên nhiên (écologie) để có một mẫu số đơn vị hành chánh chung ( une administration commune dans la reconnaissance des différences).

Bởi bối cảnh Việt nam sau 100 năm đô hô thuộc địa đã chia cách đất nước làm 3 kỳ với những đặc biệt khác nhau và 50 năm đô hô cộng sản đã chia rẽ Thượng Kinh và hận thù Quốc Cộng. Xóa bỏ, gạt san bằng những hố cách biệt ấy là một việc làm cần nhiều thời gian mà luật pháp không thể sữa đổi được, nếu không có một tổ chức hành chánh vững chắc, hữu hiệu thật sự – với một tinh thần dân chủ thực hữu - với một bộ Luật công pháp – một Tòa án Công Pháp – một bộ Luật Hành Chánh – một Tòa án Hành chánh và một thể chế Liên Bang ( Kiểu Thụy Sĩ ?, kiểu Đức ?) với những cách nhìn thực hữu trong mọi giải quyết vấn đề, quyền công dân, quyền con người, liên hệ con người và công dân , liên hệ công dân và cơ quan cầm quyền vân vân …

Nhưng căn bản vẫn là :

“ Chủ quyền thuộc về Dân, quyền ấy đưọc hành xử qua những người đại diện , hoặc theo trưng cầu dân ý, quyền đầu phiếu, bỏ phiếu phải phổ thông , bình đẳng và kín ”
(Le principe de la “ Souveraineté ” nationale appartient au peuple, qui l’exerce par l’intermédiaire de ses représentants soit directement soit par voie de referendum.
(Art 3 alinea 1 Droit Constitutionel France 1958, Điều 3 đoạn 1 Hiến Pháp 1958 Pháp )

- Để kết luận, và cũng để bổ túc tinh thần Dân chủ thực hữu, chúng tôi xin được trích dẫn một câu của vị thầy Luật Hiến pháp của chúng tôi vào đầu những thập niên 60 ở Institut des Sciences politiques Paris, thầy Georges Burdeau :

“ Nhà nước là người trừu tượng và thường trực của quyền lực chánh trị mà những người cầm quyền đều là những nhơn viên hành sự tạm thời ”
(L’Etat est le titulaire abstrait et permanent du Pouvoir dont les gouvernants ne sont que des agents d’exercice essentiellement passagers)
(Georges Burdeau, Droit Constitutionel et Institutions Politiques. Paris 1974 Librairie Général de Droit et de Jurisprudence.).

TS Phan Văn Song
July 4th, 2010


ĐỂ THỰC HIỆN DÂN CHỦ THỰC HỮU:
VAI TRÒ CÁC XÃ HỘI DÂN SỰ TRONG DÂN CHỦ THAM DỰ.

Phan Văn Song



Trong bài Dân Chủ Thực hữu I, sau khi phân tích và xem xét qua tất cả những bản Hiến pháp Tây Âu hay Bắc Mỹ, chúng ta có thể kết luận. Để có một nền Dân Chủ thực sự, chúng ta đã thấy các chế độ Tây Âu và Bắc Mỹ đã phải có những nét cơ bản sau đây :

1/ Điạ vị tối thượng của con người trong tổ chức quốc gia.
2/ Nền Dân chủ thực hữu ( démocratie substantielle)
3/ Tự do tích cực ( liberté positive) và
4/ Dân chủ tham dự ( démocratie participative)

Chúng ta đã nghiên cứu vai trò của con người trong tất cả những Hiến Pháp Âu Mỹ, chúng ta cũng đã nghiên cứu thế nào là Dân chủ thực hữu.

Hôm nay, trong bài viêt nầy chúng ta sẽ đi sâu thêm vào vấn đề, chúng ta tự hỏi :
Và khi đã có Dân Chủ ? câu hỏi tiếp theo sẽ : Có Dân Chủ là có tất cả yếu tố để thực hiện một chánh quyền lành mạnh, một cơ cấu quản trị tốt ?
Chưa hẳn ….
Những khủng hoảng hiện nay tại các nền dân chủ tiên tiến chứng minh cho chúng ta thấy cần phải có một nền dân chủ tham dự (une démocratie participative)

Trong những bài viết qua chúng tôi thường đề cập đến Con người và Môi trường song hành với Đạo Đức là những yếu tố khả dĩ Phát triển và Quản lý tốt một quốc gia tiên tiến

Hiến pháp chỉ là một bản văn, tuy cần thiết nhưng vẫn chưa đủ (nécessaire et non suffisant) bảo đảm cho những Tự do thật sự và một nền Dân chủ thực hữu của quốc gia. Rất nhiều chế độ độc tài trên thế giới vẫn dùng bản Hiến pháp làm chiêu bài để vay mượn danh nghĩa chánh thống cũng như tánh cách hợp pháp. Những nước có chế độ độc tài toàn trị do độc đảng cầm quyền, như Cộng sản Hà Nội, vẫn thường tự gọi là những “Cộng hòa Dân chủ Nhân dân”. Thậm chí, thế giới lúc bấy giờ cũng vẫn dùng chung một từ tổng hợp là “Khối các Dân chủ Nhân dân”.

Ngày nay, ngay tại các quốc gia tiên tiến, nơi có những Tự do căn bản được áp dụng, nhưng phần lớn việc điều hành quyền lực từ các cơ quan hành chánh hay pháp lý vẫn gợi cho những người quan tâm đến tình trạng nhơn quyền và Dân chủ không ít nghi ngờ, khiến phải suy nghĩ và e ngại.

1.- Dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện (Démocratie directe, démocratie représentative) :

Khái niệm Dân chủ là một khái niệm trong sáng, nhưng dễ bị lạm dụng khi áp dụng những phương cách thực hiện, trong những thể chế ngày nay.

Định nghĩa của Abraham Lincoln “Dân chủ là do Dân cầm quyền, cho Dân và vì Dân”, bởi thế, chúng ta gọi là Dân chủ trực tiếp. Nghĩa là:

- Người Dân phải cầm quyền trực tiếp, không qua một trung gian nào cả,
- Người Dân cũng vừa là Người Cầm quyền và cũng là Người bị trị (Gouvernant et gouverné),

Nói như vậy, những người xử dụng công quỷ cũng là những người quyết định thâu thuế, và trả thuế. Về mặt lý thuyết thì tạm hiểu, nhưng làm sao áp dụng trên mặt thực hành. Hiện nay, một vài thị xã, hay làng xã của Thụy sĩ, vẫn áp dụng cách thức “Trưng cầu dân ý trực tiếp” về một vài tài khoản thuế vụ có tính cách địa phương.

Những quốc gia tiên tiến ngày nay, đa số áp dụng Dân chủ dưới hình thức Dân chủ đại diện (démocratie représentative). Một tấm bình phong cách ly người dân và người cầm quyền (tạm gọi là quan chức cầm quyền, hay gọi chung là nhà cầm quyền): đó là những đại diện dân, do dân bầu, và phát biểu thay dân về những nguyện vọng của người dân.

Đó là một Dân chủ gián tiếp, người dân không có những quyết định hành xử, quản lý đất nước, người dân chỉ tham dự bầu những đại diện thay mình. Thực tiển, dễ thực hiện, nhưng rất có nhiều hạn chế nguy hiểm, càng ngày càng lộ rõ. Bởi lẽ :

2.- Một “thị trường chánh trị”.-


Cái nguy hiểm ngày nay, là do sự bành trướng của một hiện tượng được gọi là “thị trường Chánh trị”. Định nghĩa này được nhóm “public choices”, một nhóm các nhà nghiên cứu, kinh tế gia, chánh trị gia hay xã hội học Âu-Mỹ, theo dõi những cách thức xử thế, quyết định từ các vị lãnh đạo công cộng của quốc gia (nhà cầm quyền, các vị lãnh đạo các nhóm chánh trị, các vị dân cử và các công chức). Những quyết định ấy thường khi thiếu sự chính xác, không trung thực, bởi lẽ, thay vì các quyết định phải được thoát thai từ kết quả trao đổi giữa hai nhóm người, của hai đối tác, đúng theo luật “cung - cầu”, theo luật “kinh tế thị trường”, thì ngày nay, những quyết định ấy lại là những mặc cả, đã làm mất những “thông tin chính xác, trung thực”, dẫn đến “cái chung chung”, thiếu hẵn phần “trách nhiệm”.

“Thị trường chánh trị” là thị trường của những ứng cử viên với các đại diện dân, một bên, và đối với (versus) cử tri đoàn, một bên.

Trên thị trường này, ứng cử viên và các dân cử nắm quyền chủ động. Cũng như một anh nhà buôn, họ để nghị những “món hàng công cộng” (công viên, trường học, giảm tô thuế, ủng hộ Dân chủ ở VN …) hay những “món hàng chánh trị” (những người mới nhập cư dễ dàng nhập lấy quốc tịch để xử dụng lá phiếu lấy những quyết định cho địa phương, làng xã, nơi mình sanh hoạt và cư ngụ … đổi lấy lá phiếu của người đi bầu của cử tri gốc Việt, gốc Hispanic ở Mỹ, gốc Á-rạp ở Pháp…

Và người nào đề nghị nhiều, hứa hẹn nhiều, thì kẻ ấy có cơ may lượm nhiều lá phiếu.

Xin lấy vài thí dụ : các nhà làm chánh trị hứa sẽ bảo vệ con người, tài sản và quyền lợi con người. Nhưng có ai nói đến bảo vệ bằng cách nào, tổn phí là bao nhiêu ? Khi cần lá phiếu, các ứng cử viên thường có những lời hứa với chương trình thực hiện (sẽ) rất dài. Và cùng trong một lúc đó, các người đi bầu, người cử tri, người dân thường, cũng họp nhau lại thảo những đòi hỏi dài, xin thêm phương tiện hổ trợ, tiền bạc, nhơn danh “phúc lợi công cộng” (intérêt général), nhưng thật sự, đó chỉ là những đòi hỏi rất hạn hẹp có tính cách địa phương và đặc biệt

Và cuối cùng, mọi người cùng ngóng cổ chờ quyết định của Nhà nước, vì sự mặc cả, giữa những người muốn “giảm tiền thuế ”, và những nhóm muốn xin “thêm tiền, để thực hiện những đặc lợi và đặc quyền”, hai nhóm này đều là công dân, và cả hai đòi hỏi đều có lý cả. Vậy phải làm thế nào? Chúng ta thường thấy, theo thông lệ, những nhóm đứng ra đòi hỏi thường là những “nhóm có tổ chức”, biết xuống đường đấu tranh, biết la hét để đòi hỏi. Còn nhóm người bị đóng thuế, như tất cả chúng ta, thường thụ động, im lặng, tuy có rên rỉ đấy, nhưng vẫn phải trả thuế đều đều. Khối thiểu số ồn ào sẽ lấn ép khối đa số thầm lặng.

Những nhà làm chánh trị ở các quốc gia tiên tiến xử dụng cái mâu thuẫn ấy để kiếm phiếu, sẵn sàng hứa thực hiện tất cả những yêu cầu, hứa sẽ giảm các loại thuế, tạo một không khí an lành và gợi cho người dân cảm tưởng là có một “ai đó” sẽ hào phóng chi tiền. Giáo sư trường luật Aix –Marseille Frédéric Martiat từng mô tả hiện tượng ấy vào năm 1968 : “Nhà Nước là cái ảo tưởng xã hội (une fiction sociale) trong con người mà lúc nào cũng mong được sống bám vào những kẻ khác” (L’Etat est une fiction sociale à travers la quelle chacun s’efforce de vivre aux dépens de tous les autres). Và Nhà Nước Bảo Hộ ra đời. (Et l’Etat Providence naquit).

3.- Khủng hoảng của Nhà Nước .-

Vì mọi chuyện đều phải do Nhà nước giải quyết, chúng ta đã đâm đầu vào một cuộc khủng hoảng kinh khủng. Cuộc khủng hoảng nầy đang diễn ra tại các nước tiên tiến.

Mong bài nghiên cứu này đóng góp được những suy nghĩ để các nước chậm tiến như Việtnam, ngày mai không vấp phải.

Khủng hoảng đầu tiên, là khủng hoảng chánh trị: nếu Nhà Nước là tất cả, các nhà cầm quyền và các nhà làm chánh trị là tất cả, thì “tất cả đó” đều đứng trên Pháp luật (Việt Nam ngày nay, Đảng Cộng sản và Nhà Nước là một, ĐCS đứng trên Pháp luật)

Khủng hoảng thứ hai, là những giá trị Đạo đức xã hội hoàn toàn bị xáo trộn. Những thành công đều được đánh giá trên kết quả, mà không cần biết kết quả đó có được là do xảo quyệt, do bè phái, do tham nhũng. Những giá trị thật sự về Đạo đức con người, về giá trị học hành, về hiểu biết, về tri thức đều không được nhìn nhận. (Việt nam ngày nay ?)

Khủng hoảng thứ ba, là kinh tế, của công bị tham nhũng đục khoét, lãng phí, quản lý tồi, dĩ nhiên mất hiệu năng sản xuất, cộng thêm Pháp luật bị chà đạp, sưu cao, thuế nặng ... là nguyên nhân đưa đến trì trệ kinh tế. Rồi nạn thất nghiệp gia tăng, mức tiêu thụ giảm lần, tạo nên cái vòng lẩn quẩn, người nghèo vì thất nghiệp càng nghèo thêm, khiến quỹ xã hội thâm hụt nặng, bởi không đủ thương vụ, nghiệp vụ đóng góp.

Khủng hoảng thứ tư, là Pháp lý, Nhà Nước không còn đóng vai trò quản lý, và trọng tài những tương quan thương mại hoặc xã hội. Vì Luật pháp bị xâm phạm, bị cưởng hiếp, không còn được tôn trọng, nên những nhà chánh trị lương lẹo với những dân cử để tham nhũng hay ngồi xổm lên pháp lý, rồi ... trẻ con các khu nghèo kéo nhau đi “đốt xe” để ... giải trí. (Ở Pháp vừa qua).

Những khủng hoảng nhỏ biến thành một cuộc khủng hoảng nặng nề về thể chế Dân chủ nơi các Nhà Nước tiên tiến. Hậu quả :

- a.- Một cuộc trả lời bằng chân : (exit) bỏ nước ra đi.
- b.- Trả lời bằng phát biểu (voice) la ó, biểu tình, đình công, bạo động.
- c.- Trả lời bằng chịu đựng, sống qua ngày (loyalty), mất ý chí công dân, lơ là quyền phát biểu công dân, lãnh đạm với những cuộc bầu phiếu, bỏ phiếu.

Ba cách trả lời trên không đặt lại vấn đề của Dân chủ đại diện, cũng không làm giảm đi những lố lăng lạm dụng của các tổ chức cầm quyền, có chăng chỉ là những tránh né, chạy quanh. Ngày nay, Dân chủ hay Pháp lý được nói đến nhiều, phải chăng chỉ là một bức màn nhung che những màn ảo thuật chánh trị mà thôi ?!

4.- Sự Chuyển tiếp qua trung gian các xã hội dân sự.-Tự do tích cực :


Con đường phân chia biên giới giữa quyền lực của giới cầm quyền và xã hội phải được nới rộng.
Để sanh tồn, quyền lực của công lực phải được giảm bớt, những “công hữu” phải được tư hữu hóa. Quản lý những sở hữu hay công nghiệp quốc gia không còn là nghiệp vụ của Nhà nước nữa. Những xã hội dân sự, dần dần nắm quyền quản lý để thay thế. Quản lý khai thác, phân phối tài nguyên quốc gia phải được tư hữu hóa.

Quản lý những sở hữu hay tài nguyên có tánh cách thương mại rất dễ dàng cho các xã hội dân sự. Sản xuất xe hơi, quản lý khí đốt, điện lực, chuyên chở, truyền thông, các tư nhơn và các xã hội dân sự biết làm và còn làm giỏi hơn Nhà nước.

Về những phần hành “dịch vụ công cộng” (Services publics) vẫn là phận sự của Nhà Nước, vì là Công Bộc, như Tổ chức Giáo dục, Tổ chức Y tế, Tổ chức Hưu Trí, Tổ chức Thể Thao, Tổ chức Văn hóa … đành rằng khó khăn, nhưng nếu biết chuyển hướng khéo và quản lý khéo vẫn có thể chuyển dần cho Tư nhơn.

Nhưng, vẫn còn những bộ phận hoàn toàn không thể chuyển nhượng cho thế giới thương mại, như những “tổ chức dịch vụ xã hội tương tế”, hay “dịch vụ phân phối tương trợ”, gọi chung là “dịch vụ xã hội ” (Sercices sociaux) chủ yếu đối với những gia đình nghèo khổ, giúp đỡ người tàn tật, nghiệp vụ cứu thương, cứu hỏa, bảo vệ con trẻ, tổ chức phòng ngừa du đảng, tệ nạn hút sách … Nếu Nhà Nước không làm thì ai đứng ra làm ? Bảo vệ môi sinh, môi trường, Nhà Nước có thể làm luật, nhưng ai kiểm soát ?

Chúng ta có thể trả lời: hãy để cho những “Xã hội dân sự cộng đồng” (des sociétés civiles communautaires). “Xã hội dân sự cộng đồng” là những Hiệp hội, hội đoàn có ý kiến trên một vấn đề đặc biệt: Hội gia đình, Hội bảo vệ các người già, Hội bảo vệ phụ nữ chống tệ nạn bị hành hung, Hội bảo vệ trẻ con … Nhà nước và các Tư doanh không thể lo được. Những hội đoàn ấy tạo sự kiểm soát và đi dần đến quản lý.

Định nghĩa những hội đoàn ấy là “Tương trợ”, “Tự nguyện”, “ Bất vụ lợi”, “Hội tương tế ”
(Solidarité, volontariat, bénévolat, partage, mutualité).
Dĩ nhiên xã hội không thể đòi hỏi những “quý tánh ” ấy. Xã hội phải có những khu vực thương doanh (đa số) và phải có những kiểm soát chế tài pháp lý (càng ít càng tốt).

Chúng tôi nghĩ rằng con người, tức là những công dân và những đoàn thể công dân có thể thay thế Nhà nước điều hành tốt xã hội. Đó là Tự do tích cực (la liberté positive)

5.- Hãy tổ chức lại tình tương trợ.-


“Xã hội chánh trị” (la société politique) đã ngự trị gần một thế kỷ, “Xã hội doanh thương” (la société marchande) và “Xã hội cộng đồng” (la société communautaire) hoàn toàn không có tiếng nói. Đặc biệt tại những quốc gia do độc tài toàn trị cai quản, như Việt Nam. Nhà Nước độc tài đã đè bẹp tất cả những cá nhơn thương nghiệp, hay những “cơ chế trung gian” (les corps intermédiaires). Ngày nay dưới sức bộc phát của kinh tế thị trường, các xã hội doanh thương phục hồi rất nhanh, nhưng trong tình trạng hỗn loạn, vì thiếu một khung pháp lý.

Các công ty quốc doanh được tư hữu hóa khá nhanh và dễ dàng, sự cạnh tranh bắt đầu thực hiện bởi sự thúc đẩy của toàn cầu hóa. Nhưng con người và tâm trạng “cộng đồng” đến chậm hơn.

Bởi lẽ, thời xưa dưới chế độ độc tài toàn trị, quan niệm “tập thể” bị thúc đẩy đến cao độ, nhưng quan niệm ấy chỉ là bề mặt thôi, thật sự lúc bấy giờ, là thời gian của cá thể cao độ, mạnh ai nấy lo, “tôi lo cho tôi và gia đình tôi trước”. Chụp giựt, mạnh ai nấy lo chụp giựt là tâm trạng công dân dưới thời “tập thể” lãnh đạo. Ngày nay, những dấu vết chánh trị ấy vẫn còn, mặc dầu xã hội doanh thương đã hoạt động bình thường. Làm sao có được cái yên tâm để lo cho người khác và lo việc chung ? !

Một chương trình công dân giáo dục phải được nghĩ đến. Những công dân có nhiệt tình, có tinh thần cộng đồng, hãy gánh vác việc tổ chức lại những cơ cấu xã hội và những cơ chế tương trợ cộng đồng. Thoạt tiên là gia đình, ngày nay, tánh cách gia đình đã bị phá vỡ, cộng đồng gia đình là môi trường tạo sự tương trợ và hòa hợp, không nói đến gia đình là phủ nhận nền tảng của xã hội.

Trong khi chờ đợi một quan niệm mới để tổ chức lại gia đình, chúng ta phải cố gắng đào tạo những đức tánh căn bản để phát triển “những tập tục đời sống hội đoàn”,“những sáng kiến tương trợ” và “những hy sanh cá nhơn”.

Phát huy những đức tánh ấy là thực hiện được những đóng góp của công dân đối với nền dân chủ. Đo đó, thể hiện những “đức tánh dân chủ”, và « quyền tự do tích cực » của mỗi công dân của những người công dân mới.


6.- Một nền dân chủ tham dự.-


Nếu “quyền lực chánh trị” đã vượt khỏi phạm vi hoạt động, nếu “nền dân chủ” đã bị tướt đoạt bởi một nhóm người chánh trị toàn quyền, một hệ thống quan liêu, cửa quyền toàn trị hay những nhóm thế lực độc tài; hoặc quan điểm, tư tưởng về nền tảng của “các xã hội tự do”, của “các xã hội công dân” đã bị lãng quên, hay bị tước đoạt, thì sự thờ ơ với “việc công cộng”, “việc chung” (la chose publique) của các công dân đã mặc nhiên giao phó “đời sống công cộng” cho một nhóm “người làm chánh trị”, đó là vô tình quên đi trách nhiệm “cộng hòa” - Cộng hòa từ quan niệm “Res Publica”, nghĩa là pour la chose publique, tức là “việc chung”, việc công cộng.

Cũng dễ hiểu thôi, người công dân ngày nay, đứng quá xa trong hệ thống tổ chức quyền lực. Người công dân nhận thấy những quyết định về thuế má, những luật lệ hành chánh, những đặc quyền và cả những xì – căng – đan đã vượt qua tầm tay của mình. Dân chủ ư ? Quá trễ rồi. Làm sao thay đổi tâm lý và tập tục để có một Quốc hội mới, một Chánh phủ mới ? Hiện tượng bỏ mặc việc chung, việc công cộng, xem “việc chánh trị là việc ở trển” rất phổ thông ! Chúng ta hiểu tại sao, bỏ phiếu trằng, không đi bầu, là điều rất tự nhiên ở các nước tiên tiến, như Huê kỳ, Pháp, Anh, Đức…

Khi “nền Dân chủ chỉ định nghĩa bằng lá phiếu” (La Démocratie réduite au bulletin de vote) như Yves Cannac đã định nghĩa, người dân có cảm tưởng rằng họ chỉ có quyền công dân trước vài tuần có bầu cữ, khi những ứng cữ viên nhớ đến họ, bằng những hứa hẹn.

Chúng ta có thể phá vỡ quan niệm ấy bằng những sanh hoạt cộng đồng, bằng những sanh hoạt hội đoàn. Hãy nhìn xem, rất nhiều công dân nhận xét như chúng ta. Tại sao chúng ta không tập trung những suy nghĩ, những nhận xét ấy lại rồi biến thành hành động chung để ảnh hưởng đến “việc chung” ? Và những hành động cho “việc chung” trong một “xã hội cộng đồng” sẽ đem “xã hội dân sự” và “xã hội cộng đồng” đi vào quản lý “cái việc chung”.
Đó là “dân chủ tham dự”.

Theo thiển ý, hãy tổ chức ngay những bài học công dân giáo dục. Tu Thân, Trị Quốc. Tu thân, nói rõ vai trò của con người và ảnh hưởng của môi trường qua một nền giáo dục, trau giồi Đạo đức công dân. Trị Quốc, bắt đầu bằng những suy nghĩ đóng góp vào cộng đồng xã hội của mình, đầu tiên là đối với gia đình mình: một người con tốt, hiểu rõ bổn phận đối với cha mẹ; cha mẹ cũng thế, thi hành đúng bổn phận đối với con, giảng dạy cho con mình biết thế nào là cộng đồng, là môi trường xã hội, văn hóa và kinh tế ... Hãy tổ chức những hội đoàn thiện nguyện ngay trong thời niên thiếu của những con trẻ, những hội đoàn thiện nguyện tại các khu phố của mình. Hãy chứng minh rằng những đường giây thiện nguyện này sẵn sàng làm việc, thay thế những cơ quan xã hội cộng đồng do chánh phủ thành lập. (Việt Nam đã có sẵn những tổ chức Nhà Thờ, Chùa, phục vụ cho cộng đồng tín hữu hay Phật Tử. Đó là truyền thống cộng đồng của dân tộc Việt Nam, vốn có tự ngàn xưa)

Nếu chúng ta biết sử dụng “Xã hội dân sự”, thoạt tiên là những “Cơ cấu tổ chức tương trợ”: cho người khiếm tật, cho trẻ con bị tàn tật, cho các nạn nhơn bão lụt, giúp đỡ và giáo dục trẻ con bụi đời ... Các xã hội dân sự có thể đi vào những chương trình to lớn hơn, như giúp đỡ Khoa học thực nghiệm nghiên cứu các bệnh nan trị : ung thư, Alzheimer, Parkinson, sốt rét… hoặc về Văn hóa, như chống nạn mù chữ, dạy nghề cho người nghèo ...

Các “Xã hội dân sự ” hay “Cộng đồng” cũng còn vai trò thành lập những “Xã hội Công dân” hay những “Hội đoàn công dân” (les clubs citoyens) nghiên cứu những luật lệ hiện hành để bổ túc ngành hành pháp về luật bảo hiểm; về luật thừa kế; về luật hôn phối để bảo vệ người phụ nữ và con trẻ lúc ly hôn được hài hòa với sự phát triển và thay đổi của xã hội. Về mặt bảo vệ công nhơn, nghiệp đoàn công nhơn phải có vai trò của nghiệp đoàn, là bảo vệ quyền lợi của công nhơn đối với chủ nhơn, Nhà Nước chỉ có vai trò trung gian mà thôi. Mỗi luật lao động phải được thương thuyết với các đại diện nghiệp đoàn, nghiệp đoàn lao động phải có từng ngành, vì mỗi ngành có những đặc biệt và dị biệt đối với ngành nghề ấy. Mỗi mỗi hoạt động xã hội phải có những “Xã hội dân sự”, “Hội đoàn” để bảo vệ. Ý niệm Đạo Đức chánh trị và xã hội phải được nêu cao.

Cũng với ý niệm Đạo đức chánh trị và xã hội, những “Xã hội dân sự Chánh trị” sẽ là những hoạt động xã hội có tánh cách chánh trị được khuyến khích. Những xã hội chánh trị sẽ giúp các nhà cầm quyền đi đến sự quản lý tốt (la bonne gouvernance). Những xã hội chánh trị có thể là những hội đoàn công dân (associations citoyennes), những nhóm nghiên cứu và suy nghĩ (think tanks) hay là những Đảng phái.

Quan niệm Đảng phái “làm” chánh trị để “cướp chánh quyền” là một quan niêm sai lầm. Vai trò đầu tiên của Đảng chánh trị là “tham dự chánh trị”, tham dự chánh trị một quốc gia là “đồng quản lý” (co - gouverner). Tham dự ở ngay hạ từng cơ sở, ở quận, ở xã, ở làng với quan niệm “kiểm soát và đề nghị thay thế” (checks and balances). Đồng quản lý, là dòm ngó, thúc đẩy, đòi hỏi, chỉ trích, bàn tính, đề nghị và thay đổi cách điều hành ngay từ hạ từng cơ sở của xã hội. Đó là sử dụng quyền công dân, sử dụng quyền dân chủ. Trách nhiệm nhà cầm quyền, là điều hành tốt cơ sở từ dưới lên trên, tức từ xã, quận, tỉnh, quốc gia. Bên cạnh cơ quan hành chánh, bên cạnh cơ quan dân cử phải có những “Xã hội công dân” để làm nhiệm vụ kiểm soát, thúc đẩy, đề nghị…
Dân chủ tham dự là như thế. Phải phá vỡ bức tường mà “các nhà chánh trị chuyên nghiệp” đã tạo thành một “thị trường chánh trị”.

7.- Một xã hội có trách nhiệm và đạo đức : -


Không phải chỉ tạo ra những hội đoàn, những xã hội dân sự là chúng ta có dân chủ tham dự. Phải có những “con người thật sự dân chủ”.

Thật sự dân chủ là phải có tinh thần trách nhiệm. Việc đầu tiên là dấn thân, và khi dấn thân ta phải có tinh thần trách nhiệm. Chú ý đến người khác, quan tâm đến tha nhơn, biết lắng nghe ý kiến của kẻ khác trong tinh thần tương kính, tương trọng và đạo đức trách nhiệm. Vạn sự khởi đầu nan, thoạt tiên bao giờ cũng khó, nhưng nếu biết cố gằng sẽ thành tập tục. Và khi đã đi vào tập quán, những người thờ ơ sẽ được cuốn hút đi vào dân chủ cùng với mọi người.

Trách nhiệm và Đạo đức phải được trau giồi từ thuở nhỏ. Dạy con từ thuở còn thơ. Con trẻ được trau giồi tinh thần trách nhiệm, đạo đức công dân, lòng vị tha, tương kính, sẽ là những công dân tốt. Hãy tổ chức ngay vào tuổi thơ những hội đoàn học sanh, biết làm nghĩa vụ công dân, biết quan tâm đến láng giềng, quan tâm đến tình bằng hữu, tinh thần hội đoàn, biết cá nhơn sống và hoạt động trong môi trường của mình, đi thăm người già, đi giúp đỡ người khiếm tật. Ngày nay, ở các quốc gia tiên tiến, và ngay cả ở Việt Nam, những Nhà thờ, những Hội thánh tôn giáo, những nhà Chùa, thường tổ chức những “Hội đoàn thanh thiếu niên” hướng dẫn các con trẻ tín hữu vừa học Giáo lý vừa làm việc thiện. Chúng tôi muốn nói, chúng ta không nên để việc ấy cho các Hội Thánh tổ chức, vì đấy không phải là việc thiện mà là “việc chung” , “việc của cộng đồng”. Tổ chức các “Hội đoàn thanh thiếu niên” là bổn phận giáo dục của nhà trường.

Phải đưa vào giáo dục những quan niệm: “xứng đáng”, “trách nhiệm”, “việc chung ”, “tự trọng”, “ tương kính”. “Con người và môi trường” phải biết sanh hoạt với những “Con người và môi trường”. Sống chung, sống cùng, chia xẻ một khung xã hội phải cần những đức tánh và đạo đức ấy. Sống chung là nhìn nhau, chào nhau và tôn trọng lẫn nhau.

8. - Thay lời kết : -


Việt Nam đã đi vào Tổ chức thương mại quốc tế, Việt Nam ngày nay đã là hội viên của nhiều hiệp hội quốc tế, dầu Nhà cầm quyền Cộng sản có muốn hay không muốn, Dân chủ cũng sẽ đến với Việt Nam. Nhà cầm quyền Việt Nam không thể mãi mãi coi Dân chủ là một món hàng cấm ở Việt Nam . Nhơn dân Việt Nam đang như trăm hoa đua nở, rộ lên những bộc phát, những nhu cầu dân chủ, những đòi hỏi công bằng pháp lý, những nhu cầu phát biểu, ngôn luận, ý kiến… đang dấy lên, điển hình qua những hội đoàn, đoàn thể, đảng phái..Tất cả những ấp ủ thầm kín đè nén đang bừng dậy. Nhà cầm quyền Cộng sản không thể mãi mãi bịt mồm 80 triệu đồng bào được.

Kiểm soát sự Dân chủ đang thức dậy bằng Công An trị, như nhà cẩm quyền cộng sản đang làm ở Việt Nam không phải là một giải pháp. Bắt và đàn áp người đấu tranh đòi dân chủ, bắt và đàn áp người xem mạng internet, bắt và đàn áp những vị luật sư đang hành nghề, vì những vị Luật sư nầy đang lập hồ sơ kiện cáo cho những người đi kiện Nhà Nước, là « phản nhân quyền », « phản dân chủ ».

Quyền được bào chữa là một quyền tối thiểu của con người. Anh có quyền buộc tội, tôi có quyền bào chữa. Anh phải chứng minh tôi có tội, tôi sẽ chứng minh tôi vô tội. Đó là Dân chủ. Nhà cầm quyền phải tạo phương tiện để buộc tội và bào chữa tội : đó là Tòa Án, đó là thẩm phán, nhưng đó cũng là luật sư, mỗi phần hành một vai trò. Trạng sư, thẩm phán, quan tòa. Tòa Án xữ Đại hình thì có Nhơn dân làm quan tòa, đó là bồi thẩm đoàn, các vị bồi thẩm là những công dân được lựa chọn để làm nhiệm vụ xét xữ những vụ án có tánh cách quan trọng, đại hình.

Nhà nước Cộng sản Việt Nam muốn đưa quốc gia Việt Nam đi vào con đường Phát triển, muốn đưa dân tộc Việt Nam vào con đường văn minh, hãy biết soạn mình để chứng tỏ mình là những người lãnh đạo văn minh. Hãy nhìn kỹ và tự xét mình tại sao ngày nay, có những phiền hà, khiếu nại, đòi hỏi của rất nhiều từng lớp nhơn dân trong xã hội Việt Nam như vậy ? Hãy lắng tai nghe những đòi hỏi ấy. « Tự kiểm thảo và kiểm thảo » là một sanh hoạt Đảng cộng sản. Tại sao không làm ? Trái lại, đàn áp, trù dập người dân đòi dân chủ để làm gì ? Hay là đây là một phương pháp « Đàn áp để Dạy dân ».

Giáo dục công dân bằng đàn áp, bằng Công An cũng không phải là một giải pháp. Người dân ngày nay không còn « mê » chủ nghĩa cộng sản nữa, người dân ViệtNam ngày nay không còn « sợ » Công An cộng sản nữa.

Giải pháp tốt là : hãy biết đối thoại, hãy biết lắng tai nghe, mặt nhìn mặt, hãy biết chào đón những lời chỉ trích, đúng thì phải biết nhận và sửa sai, sai hãy chứng minh, nhưng hãy biết nói chuyện với nụ cười, hãy tôn kính người dân. Dân chủ là đối thoại với dân, Dân chủ là đối thoại với đối lập ; Dân chủ tham dự là đón nhận tiếng nói của người dân, của đối lập, và chấp nhận đối lập ; chấp nhận chỉ trích là chấp nhận dân chủ…

Và quan trọng hơn.

Hãy biết cám ơn những nhà đấu tranh dân chủ Việt Nam ngày nay đã biết lựa chọn đấu tranh ôn hòa để sửa sai cái quản lý kém của nhà cầm quyền hiện tại, vì những nhà đấu tranh dân chủ Việt Nam nầy đã biết quan tâm đến sự sanh tồn của đất nước và dân tộc.

Hãy biết cám ơn những nhà đấu tranh dân chủ Việt Nam ngày nay đã biết tạo ra những xã hội công dân để đối thoại, để tạo đối tác chánh trị, để tham dự vào chánh trị, để làm phận sự công dân, lo cho việc chung, tiến tới một nền dân chủ tham dự, pháp trị và hiến định.

Hãy lắng nghe tiếng nói của công dân,

Hãy trả quyền công dân lại cho công dân !

Hồi Nhơn Sơn, 1 tháng 8 2010.

Phan Văn Song


Ghi chú :

Yves Canne : Le juste pouvoir. Essai sur les deux chemins de la Démocratie.
J.Cl Lattès, coll Pluriel Paris 1984.
Anthony de Jasay : l’Etat, la logique du pouvoir politique. Préface de Pascal Salin
Les Belles Lettres, coll Laissez-faire Paris 1994.
Gordon Tullock : Le Marché politique. Analyse économique des processus politiques
Association pour l’économie des Institutions. Economica Paris 1978
Ségolène Royal, Dominque Strauss-Kahn, Laurent Fabius : Programmes politiques pour être candidat du Parti Socialiste à l’élection présidentielle 2007.


BÁC SĨ TÂM THẦN LÊ KHANH
ĐỊNH BỊNH CHỈ TRÍCH NGƯỜI KHÁC.


***Mt68:
Chúng tôi nhận thấy ông bác sĩ tâm thần LÊ KHANH "ĐỊNH BỊNH" hay lắm !!! Bây giờ kính xin ông buông ống nghe xuống bắt tay TRỊ BỊNH xem sao ???

Nói suông thì đã có lắm đứa rồi, thêm ông nếu chỉ là đứa nói suông thì chỉ làm cho căn bịnh càng vô phương thôi ! Cái bịnh nói mà không làm thì tốt nhứt là đừng nói nữa, dù là bác sĩ mà chỉ biết đoán bịnh mà không biết hay không trị được bịnh thì chỉ là một bác sĩ TỒI !!!

1- Ông nói người tỵ nạn Hải Ngoại không biết đoàn kết để dạy cho thế hệ trẻ biết tại sao mất nước ?

Vậy ông đứng ra ĐOÀN KẾT VỚI NẰM VÙNG ĐI ! Dạy cho con cháu của chính ông biết tại sao ông phải chạy tuột quần để sang Mỹ hành nghề xoa bóp bằng miệng (ít khi xoa bóp bịnh nhân bằng tay, chân...) ?


2- Cụ thể ông có biết tại sao người ta chỉ trích đại khoa bảng TẠ VĂN TÀI ??? Hể bất cứ ai chỉ trích ai đều là ganh tỵ, đều là những người hạ cấp hết hay sao ???

Trình độ bác sĩ của ông không đủ để nói một lời "phân minh rõ ràng " hay sao ??? Thí dụ như ông phải đặt vấn đề TÌM HIỂU TẠI SAO NGƯỜI NÀO ĐÓ BỊ CHỈ TRÍCH chứ ???

Chẳng lẽ những người "chỉ trích" đều là những người điên, chỉ biết mù quáng chỉ trích mà không biết lẽ phải là gì cả hay sao ???

Nếu có những người như vậy thì dư luận cùng nhau đui mù nghe theo những lời chỉ trích ngược ngạo , vô lý đó hay sao ???

Ông bác sĩ LỆ KHANH ơi ! muốn chứng tỏ ta đây khôn hơn thiên hạ thì cứ nhào ra, viết tiếp nữa đi em !!!.../- mt68

From: khanh le <lekhanh174@gmail.com>Date: 2010/8/31Subject: Re: Kinh xin Bac Si Le Khanh cho y kienTo: "nguyenkinhdoanh @dslextreme.com" <nguyenkinhdoanh@dslextreme.com>

Kinh gui anh NGUYEN KINH DOANH Tu truoc toi bay gio, toi van thuong xuyen nhan duoc nhung buc thu cua anh, ma phan lon la nhung thong tin ve van hoa - nghe thuat va vo thuat ma anh co duoc va da chuyen den cho toi de tham khao. Qua cac thong tin do, toi cung biet them duoc nhieu hoat dong cua cong dong nguoi Viet o hai ngoai cung nhu mot so nhung triet ly song rat hay. Cung qua cac thu anh gui, thuong co kem theo nhung tam hinh anh chup chung voi nguoi nay, nguoi khac - nhung nguoi quen va ca nhung nguoi moi gap mat lan dau - Toi nghi rang do la mot niem vui "khong co anh huong gi den hoa binh the gioi" - The nhung khong ngo la sau do anh lai gap phai nhung loi chi trich, cham biem hay te hon la nhung loi phi bang vi cai niem vui chup chung voi nhung nguoi phu nu dep , ma toi cho rang nhung dieu do xuat phat tu su GANH TY khong hon, khong kem thoi !Ben canh do, cung co nhung van de khac nhu chuyen cua co TIM - cung duoc loi len dien dan de cong kich lan nhau. Cach day khong lau,neu toi nho khong lam, thi toi da co gui den anh mot vai suy nghi cua minh doi voi cai tro " loi nhau len dien dan de chui boi lan nhau" cua mot so nguoi co le cung co kha nhieu thoi gian ranh roi - duoc huong tro cap xa hoi, nen thich "nem rac vao mat nhau" cho do buon - Toi nghi rang, chung ta cung khong nen mat nhieu thi gio vi nhung cai tro khi do - Nhung su cong kich cua ho, thi se duoc nguoi doc danh gia thoi - Ho cho rang, o tren dat MY, la xu so cua TU DO, nen THA HO CHUI BOI ma khong so mot ngay dep troi nao do, co nguoi den go cua - Dieu do thi dung thoi, va co le chung ta nen cam on ho de xin gui lai tat ca nhung gi ma ho da gui cho minh !Toi cung tiec rang

- da hon 30 nam roi, niem dau cho mot dat nuoc tan hoang vi noi chien van chua duoc han gan - ma nhung nguoi may man, duoc song tren mot dat nuoc TU DO, thay vi DOAN KET de cung nhau giup cho THE HE TRE biet duoc cai NOI NHUC MAT NUOC no la the nao, thi lai chi thich di dao boi nhung niem vui cua nguoi nay, hanh dong cua cua nguoi khac de len tieng phe phan, chui boi bang nhung ngon tu ha cap -

Toi tiec cho ho da khong tim duoc niem vui trong viec chia se va giup do nguoi khac, lai di tim cai thu vui benh hoan trong viec chi trich nguoi khac !Toi tin rang anh hieu dieu do, va chac cung biet la : "khong ai da mot con cho chet ca " ma bo qua cai thoi ganh ty, cung nhu tra lai cho ho tat ca nhung gi ma ho da gui den anh - Chuc anh luc nao cung vui ve de tiep tuc lam cau noi cho nhieu nguoi. /-

Dr. LE KHANH

Monday, August 30, 2010

NGUYỄN TƯỜNG TÂM
KHÔNG NÊN BÔI XẤU DÒNG HỌ "NGUYỄN TƯỜNG" !


Tôi nghĩ ông Nguyễn Tường Tâm cần phải lên tiếng phản bác luận cứ của ông Thúy Đặng với những bằng chứng rõ ràng để bảo vệ không chỉ cho bài viết của ông Nguyễn Tường Tâm, (về việc luật sư trung niên đi nhổ bảng vận động của bà Madison Nguyễn), mà điều quan trọng hơn nhiều là bảo vệ cho thanh danh dòng họ Nguyễn Tường .

Nếu ông Nguyễn Tường Tâm không lên tiếng để phản bác lại những gì ông Thúy Đặng chứng minh thì cách tốt nhất là bẻ bút và đổi qua một họ khác đi .
Một người chỉ vì chút tiền hay vì tính phe phái mà bẻ cong ngòi bút đã là kẻ bất cố liêm sỉ
Một người vì tí tiền hay vì tính phe phái mà bịa đặt sự việc vu gian, giá họa cho người khác thì thật là điếm nhục gia phong .

Kẻ ít học, ngu muội có làm chuyện điếm nhục gia tộc người đời cũng còn nhẹ lời . Kẻ có học, sinh trong vọng tộc mà làm chuyện điếm nhục gia tộc thì người đời ví nó là loại người đào mả cha ông đem táng vào hàm chó

Hy vọng sẽ được đọc bài viết phản luận kèm theo chứng liệu của nhà báo Nguyễn Tường Tâm .

Mai văn An

VIỆT CỘNG SỤP ĐỔ

LÀ ĐIỀU KIỆN DUY NHỨT ĐỂ DÂN TỘC VIỆT NAM KHÔNG CÒN THÙ HẬN, NGĂN CÁCH.





Con Đường Hoà Giải Dân Tộc
Đỗ Ngọc Uyển

Trong suốt dòng lịch sử kể từ khi lập quốc cho tới ngày nay, dân tộc Việt Nam chưa có thời kỳ nào bị phân hoá và chia rẽ trầm trọng như thời kỳ dưới sự thống trị của Hồ Chí Minh và băng đảng Việt Cộng. Sự phân hoá và chia rẽ dân tộc mỗi ngày một thêm trầm trọng và đã di căn vào mọi ngõ nghách trong cơ thể xã hội và đang biến chứng thành một cơ thể liệt kháng, không còn đủ khả năng và ý chí chống lại mưu đồ bành trướng ngàn đời của quân Đại Hán từ phương bắc hiện đang đè nặng lên đất nước và được nội ứng bởi bọn Việt gian cộng sản. Do đó, hoà giải dân tộc để thống nhất ý chí và tư tưởng là một nhu cầu lịch sử có tính sinh tử. Tuy nhiên, công việc này chỉ có thể thực hiện được sau khi chế độ độc tài toàn trị Việt Cộng bị thanh toán, bởi vì chính chế độ phi dân tộc này đã là thủ phạm của những tội ác gây phân hoá và chia rẽ dân tộc từ hơn nửa thế kỷ nay. Cộng Hoà Nam Phi đã thực hiện được hoà giải dân tộc sau khi chế độ phân biệt chủng tộc bị xoá bỏ. Với sự trợ giúp về pháp lý và tài chánh của cộng đồng quốc tế, dân tộc Căm Bốt đang thực hiện hoà giải dân tộc sau khi chế độ cộng sản Khờ Me Đỏ bị tiêu diệt. Đây là mẫu hình cần nghiên cứu để áp dụng vào Việt Nam sau này.

Tội Ác Của Hồ Chí Minh Đối Với Dân Tộc Việt Nam

Kể từ khi nhận lệnh của Đệ Tam Quốc Tế để thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam vào ngày 3/2/1930 cho tới ngày hôm nay, Hồ Chí Minh và đồng đảng - với chủ trương đấu tranh tiêu diệt giai cấp - đã gây muôn vàn tội ác nhằm phân hoá và chia rẽ dân tộc để dễ bề thống trị đất nước. Những tội ác của Hồ Chí Minh đối với dân tộc Việt Nam cũng chính là những tội ác của Stalin đối với dân tộc Nga. Hồ Chí Minh - một tên Bolshevik thâm căn - là tên học trò trung thành và xuất sắc của Stalin. Đối với Hồ Chí Minh, Stalin là một lãnh tụ thần tượng không bao giờ sai lầm. Hồ Chí Minh đã tôn thờ Stalin là cha già của thế giới xã hội chủ nghĩa trong đó có Miền Bắc xã hội chủ nghĩa mà Hồ Chí Minh là đầu đảng. Những tội ác của Stalin đã được chế độ Liên Xô bưng bít từ hơn nửa thế kỷ nay. Nhưng mới đây, Tổng Thống Nga Dmity Medvedev - sau một thời gian chờ đợi lâu dài - đã công bố trước thế giới những tội ác khủng khiếp, dã man của Stalin và chế độ Liên Xô.

Ngày 7/5/2010 - hai ngày trước lễ kỷ niệm được tổ chức tại Nga để đánh dấu 65 năm ngày chấm
dứt Thế Chiến II tại Âu Châu - trả lời cuộc phỏng vấn của nhật báo Izvestia, Tổng Thống Medvedev đã công bố những tội ác của chế độ Liên Xô và của Stalin đã bị che giấu từ hơn một nửa thế kỷ nay như sau:

Chế độ trị vì ở Liên Xô không thể xác định bằng cách nào khác hơn là một chế độ độc tài toàn trị. Thật không may, đây là một chế độ đàn áp các quyền tự do cơ bản của con người, và không chỉ với người dân của chính mình mà với cả nhân dân của các nước nằm trong khối cộng sản cũng đã gần nửa thế kỷ chịu chung một số phận tương tự. Đây là tôi muốn nói tới các nước xã hội chủ nghĩa khác. Điều này không thể bị xoá khỏi lịch sử. (Người viết chú giải: Đây là những tội ác chống nhân loại, (crimes against humanity), của chế độ độc tài toàn trị Liên Xô đối với người dân Nga. Chế độ Việt Cộng hiện nay - cũng là một chế độ độc tài toàn trị kiểu Stalin - đã và đang gây những tội ác chống nhân loại - tức tội đàn áp các quyền tư do cơ bản của con người - đối với dân tộc Việt Nam).
Các sĩ quan Ba Lan bị sát hại ở Katyn năm 1940 đã bị giết theo lệnh của chính quyền Liên Xô trong đó có Joseph Stalin. (Người viết chú giải: Đây là tội ác xâm lược, (the crime of aggression), đối với Ba Lan và tội ác chiến tranh, (war crimes), tội giết tù binh Ba Lan. Việt Cộng - vói sự yểm trợ và tiếp vận của khối Đệ Tam Quốc Tế - cũng đã phạm tội ác xâm lược đối với VNCH trong tháng 4/1975 và rất nhiều tội ác chiến tranh như cướp bóc, (pillaging), giết người vô luật pháp, (extrajudicial execution)…).
Stalin là kẻ giết người hàng loạt. Ông ta là kẻ sát nhân với số lượng lớn. Tội ác đó không thể tha thứ được. (Người viết chú giải: Đây là tội ác diệt chủng, (the crime of genocide). Stalin đã giết 6,000,000 người Ukraine bằng cách gây ra nạn đói giết người trong mùa đông năm 1932-1933. Hồ Chí Minh cũng phạm tội ác diệt chủng đối với dân tộc Việt Nam. Trong vụ cải cách ruộng đất tại Miền Bắc, Hồ Chí Minh đã bức hại và giết 700,000 người, tức 5% trong số 14 triệu nông dân Miền Bắc).
Stalin chính là tên tội đồ của dân tộc Nga. (Người viết nhận định: Hồ Chí Minh cũng chính là tên tội đồ của dân tộc Việt Nam).
Nếu ngày hôm nay nhắm mắt trước tội ác này (tội ác giết tù binh Ba Lan của Stalin tại khu rừng Katyn) thì trong tương lai những tội ác như vậy sẽ có thể lặp lại ở dạng này hay dạng khác, ở nước này hay nước kia. Những tội ác tày trời như vậy không bao giờ hết thời hiệu pháp lý. Những người gây tội ác bất cứ là ai, bất kể thời gian là bao nhiêu năm cũng phải chịu trách nhiệm. Đây là trách nhiệm đạo đức, một sự kiện đáng để cho các thế hệ tương lai rút kinh nghiệm. (Người viết nhận định: những tội ác giết người như trên đây đã diễn ra tại Việt Nam. Trong tết Mậu Thân năm 1968, cộng sản đã giết và thủ tiêu 6,000 người dân tại Huế. Sau tháng 4/1975, cộng sản đã xử tử một cách phi pháp, (extrajudicial execution), 100,000 quân dân cán chính VNCH. Tố cáo những tội ác của Việt Cộng là trách nhiệm đạo đức của mọi người Việt Nam. Những tội ác này không bao giờ hết thời hiệu pháp lý).
Sự trở lại của chủ nghĩa Stalin đã bị loại trừ. (Người viết nhận định: chủ nghĩa Stalin vẫn còn được Việt Cộng tôn thờ và chúng còn đang áp đặt một cách thô bạo lên dân tộc Việt Nam).

Những tội ác kể trên của Stalin và Hồ Chí Minh là những tội ác đại hình có tính quốc tế được dự liệu tại Đạo Luật Rome và thuộc quyền tài phán của Toà Án Hình Sự Quốc Tế. Cho tới ngày hôm nay, những tên đầu sỏ Việt Cộng còn đang câm miệng hến trước những tội ác được công bố trên đây bởi vì đó là những sự thật không thể chối cãi.

Khi công bố những tội ác của Stalin và của chế độ Liên Xô đối với nhân dân Nga và nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa trong khối Xô Viết, Tổng Thống Medvedev đã mở ra một chương mới trong lịch sử thế giới, dẫn tới việc xét lại toàn bộ tội ác của chế độ Liên Xô đã bị che giấu từ năm 1917 tới năm 1991 cũng như những tội ác đã bị che giấu trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa theo mô hình Stalin từ hơn nửa thế kỷ nay trong đó có chế độ Việt Cộng mà tên đầu đảng là Hồ Chí Minh. Những công bố trên đây của Tổng Thống Medvedev vào thời điểm này - tiếp theo sau Nghị Quyết số 1481 năm 2006 của Nghị Viện Âu Châu lên án các chế độ cộng sản - là bước cuối cùng tiến tới việc vứt bỏ toàn bộ chủ nghĩa cộng sản vào thùng rác lịch sử của nhân loại.

Tội Ác Của Cộng Sản Đối Với Đồng Bào Miền Nam Việt Nam

Không giấy mực nào có thể ghi hết những tội ác của Hồ Chí Minh và băng đảng Việt Cộng đối với dân tộc Việt Nam trong suốt 80 năm nay. Tuy nhiên, nhằm mục đích chứng minh rằng những chia rẽ do Việt Cộng gây ra là không thể hoà giải được chừng nào chúng còn thống trị đất nườc, bài viết này chỉ thu hẹp vào một số ít tội ác tượng trưng của Việt Cộng đối với đồng bào Miền Nam kể từ sau ngày 30-4-1975 cho tới ngày hôm nay, và từ đó có thể suy ra những tội ác của chúng đối với toàn thể dân tộc Việt Nam.

Khi xâm lăng VNCH, Việt Cộng đã hành xử như một đạo quân thực dân đi xâm lược đô hộ một quốc gia thù địch mà một nhà báo người Pháp đã nhận định rằng đây là một kiểu thực dân nội địa, (auto-colonisation). Với tính cách là đạo quân xâm lược, băng đảng Việt cộng chính là kẻ thù của toàn dân Miền Nam, giặc từ Miền Bắc vô Nam! Ngay khi chiếm được Việt Nam Cộng Hoà, chúng lập tức xoá bỏ chính quyền chính thống quốc gia đương nhiệm, bỏ tù tất cả quân cán chính VNCH dưới cái nguỵ danh “học tập cải tạo” để trả thù. Chúng thành lập một chính quyền đô hộ thực dân nội địa từ trung ương tới địa phương gồm toàn những cán binh, cán bộ của chúng từ Miền Bắc đưa vào với cung cách hành xử theo một thứ “văn hoá xã hội chủ nghĩa” rừng rú rất xa lạ với đồng bào Miền Nam. Với chính quyền thực dân nội địa độc tài trong tay, chúng áp dụng một phương pháp cai trị bằng khủng bố và kìm kẹp rất dã man mà chúng đã có kinh nghiệm từ Miền Bắc, và cùng lúc, chúng phạm những tội ác gây xung đột và chia rẽ trầm trọng giữa chúng với người dân Miền Nam và giữa người Việt với người Việt.

Phương Pháp Cai Trị Bằng Khủng Bố và Kìm Kẹp

So với phương pháp cai trị bằng cách chia để trị của thực dân Pháp, phuơng pháp cai trị bằng khủng bố và kìm kẹp của băng đảng Việt Cộng đã chứng tỏ rằng chúng là bậc thày:

a) Với chính sách hộ khẩu và tem phiếu lương thực, trong thực tế, cộng sản đã chỉ định nơi cư trú, kiểm soát sự di chuyển và cái dạ dầy của người dân Miền Nam. Đây là một hình thức giam lỏng. Với chủ trương thâm độc “ăn không no, đói không chết”, hàng tháng chúng cung cấp cho mỗi người 12kg gạo hay bo bo - một loại lương thực để nuôi gia súc - quy ra gạo cùng với 200gr đường và vài lạng thịt… Với chính sách nuôi ăn như nuôi súc vật, nuôi tù trên đây, cộng sản tin rằng quanh năm suốt tháng người dân chỉ mải miết lo cái ăn và không còn tâm trí để chống lại chúng, và nếu người nào chống đối, chúng sẽ cắt tem phiếu lương thực và bao vây kinh tế, tức cắt nguồn sống. Tại Miền Bắc, vào năm 1956, chỉ vì tham gia vào phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm - một phong trào đòi tự do dân chủ cho đồng bào Miền Bắc - mà nhà đại trí thức khoa bảng, giáo sư đại học Nguyễn Mạnh Tường đã bị cắt tem phiếu lương thực và bị bao vây kinh tế trong suốt 30 năm. Giáo Sư Nguyễn Mạnh Tường cùng với vợ con đã phải sống 30 năm ngắc ngoải như những “con ma đói” trong cái “thiên đường xã hội chủ nghĩa” Miền Bắc.

b) Với hệ thống công an khu vực dày đặc, cộng sản đã theo rõi và kiểm soát được tư tưởng và hành động của mọi người. Cộng sản tổ chức mỗi người dân là một điểm chỉ viên có bổn phận phải theo rõi, dò la, báo cáo hành động và tư tưởng của người khác ngay cả với cha mẹ, vợ chồng, anh chị em, con cái trong gia đình, và ngược lại, người điểm chỉ viên đó lại bị người điểm chỉ viên khác theo rõi và báo cáo… Cộng sản đã chủ tâm tạo một không khí khủng bố bao trùm trong xã hội, và mọi người luôn luôn sống trong sợ hãi và đề phòng bị ám hại. Với kiểu khủng bố này, cộng sản đã làm tê liệt ý chí và sức đối kháng của người dân.

c) Cộng sản đoàn ngũ hoá toàn dân để kiểm soát và theo rõi. Tất cả mọi người, bất kể già, trẻ, lớn, bé, đều phải tham gia vào một tổ chức do chúng kiểm soát như: đội nhi đồng cứu quốc, hội phụ nữ cứu quốc, đoàn thanh niên xung phong, hội nhà văn, hội trình diễn nghệ thuật…Trong các hội đoàn này, cộng sản tổ chức những buổi sinh hoạt định kỳ, và các hội viên phải thay phiên nhau “phê và tự phê” để tự tố cáo mình và tố cáo người khác về những hành vi, tư tuởng bị cho là sai trái với chủ trương, đường lối của đảng cộng sản. Từ những buổi sinh hoạt gọi là “phê và tự phê” này, cộng sản nhận diện được những người mà chúng cần theo rõi, đàn áp và thủ tiêu.

d) Với chính sách “học tập cải tạo”, Việt Cộng đã nâng kỹ thuật khủng bố của chúng lên hàng siêu đẳng. Chỉ cần một cái lệnh hành chánh của một chính quyền địa phương cấp thấp là đủ để chúng đưa một người dân lương thiện đi tù khổ sai từ ba năm tới chung thân với cái chiêu bài rất đểu giả là đi học tập để thông suốt đường lối của đảng, và khi nào học tập tốt, cải tạo tốt thì về. Vào năm 1956, tại Miền Bắc, cộng sản đã đưa Triết Gia Trần Đức Thảo - triết gia ngây thơ (?) đã trao tất cả nhiệt tình yêu nước cho tên phản quốc Hồ Chí Minh - đi học tập cải tạo bằng cách cho đi chăn bò tại nông trường Ba Vì để suy tư thêm về chủ nghĩa Mác-Lê chỉ vì tội tham gia phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm. Sau tháng 4/1975, Việt Cộng đã đưa 1,000,000 quân dân cán chính VNCH đi tù cải tạo. Theo tài liệu của tổ chức Tưởng Niệm Nạn Nhân của Chủ Nghĩa Cộng Sản, “The Victims of Communism Memorial Foundation”, thì Hồ Chí Minh đã giết 850,000 người trong những trại tù cải tạo tại Miền Bắc. “… When Ho Chi Minh sent 850,000 Vietnamese to their graves in re-education camps”. Nếu ước tính số người chết trong các trại cải tạo là 15% thì số người bị Hồ Chí Minh đưa đi cải tạo tại Miền Bắc là 6,000,000 người. Tính chung lại, cộng sản đã đưa đi tù cải tạo 7,000,000 người, và nếu tính trung bình số năm tù của mỗi người là 7 năm thì số năm tù của 7,000,000 người là 49,000,000 năm. Trong khi đó, để tố cáo chế độ tù đày của thực dân Pháp, trong một bài diễn văn đọc ngày 1-5-1960, Hồ Chí Minh đã công bố rằng 31 thành viên đương nhiệm của ban chấp hành trung ương của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã bị giam tổng cộng là 222 năm trong các nhà tù của thực dân Pháp.

Với phương pháp cai trị bằng khủng bố và kìm kẹp dã man trên đây, cộng sản đã coi người dân Miền Nam là những kẻ thù giai cấp không đội trời chung của chúng. Đây chính là bước đầu tạo ra chia rẽ không thể hoà giải giữa cộng sản và người dân Miền Nam. Bước tiếp theo là những tội ác dã man mà chúng đã vi phạm một cách quy mô và có kế hoạch.

Những Tội Ác Gây Chia Rẽ Giữa Việt Cộng và Đồng Bào Miền Nam

Theo luập pháp quốc tế, khi xâm lăng VNCH, cộng sản Bắc Việt đã phạm tội ác xâm lược một quốc gia độc lập có chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Và trong cuộc xâm lăng này, Việt Cộng đã phạm rất nhiều tội ác chiến tranh và tội ác chống nhân loại đối với đồng bào Miền Nam. Sau đây xin ghi lại một tội ác chiến tranh, tội cướp bóc, (pillaging).

Chúng ăn cướp 16 tấn vàng của ngân khố quốc gia và cấp tốc chuyên chở về Miền Bắc để những tên đầu sỏ dấm dúi chia nhau như quân cướp chia của ăn cướp.
Chúng ăn cướp các kho tàng của chính phủ, của quân đội và chuyên chở suốt ngày đêm về Miền Bắc bằng mọi phương tiện trong nhiều tháng trời.
Chúng cướp nhà của 3,000,000 người vượt biên để chia cho nhau.
Chúng bắt những người xuất ngoại phải hiến nhà cho chúng.
Chúng cưỡng bức 1.5 triệu đồng bào đi “vùng kinh tế mới” để cướp nhà.
Chúng cướp nhà của quân cán chính VNCH và chia cho nhau.
Chúng đánh tư sản mại bản để cướp tài sản, cửa hàng và kho hàng của tư thương.
Chúng ăn cướp các nhà máy, các xí nghiệp của tư nhân để thành lập các hợp tác xã của chúng.
Chúng ăn cướp tiền của đồng bào ký thác trong các ngân hàng.
Chúng ăn cướp tiền của dân bằng cách hạ thấp trị giá đồng bạc của VNCH và tổ chức đổi tiền 2 lần. Mỗi lần đổi tiền chúng chỉ trả lại cho một số ít để sinh sống trong một thời gian ngắn, và chúng cướp sạch số còn lại.
Chúng ăn cướp bất động sản của các tôn giáo.
Chúng dùng luật lệ rừng rú của chúng để cướp tất cả thổ cư của dân.
Chúng cướp đất tha ma, đất nghĩa địa.
Chúng cướp đất nông nghiệp của nông dân qua Luật Đất Đai ăn cướp của chúng.

Trong số những tội ác kể trên, tội cướp đất nông nghiệp của nông dân là tội ác dã man nhất. Tội ác chiến tranh này còn mang tính chất tội ác chống nhân loại bởi vì tội ác này cướp đi quyền sống của hàng chục triệu nông dân, chiếm hơn 70% dân số Miền Nam. Tội ăn cướp này đã diễn ra suốt 35 năm nay và còn đang tiếp tục. Hiện nay, trong khắp Miền Nam gần như thường xuyên có những đoàn nông dân hàng trăm người kéo nhau đi kiện và biểu tình kéo dài nhiều ngày, ăn chực nằm chờ, lây lất ngoài công viên, trên hè phố để đòi đất nông nghiệp và thổ cư bị bọn cầm quyền địa phương chiếm đoạt. Cho tới ngày nào cộng sản còn thống trị đất nước, tội ác này không thể chấm dứt bởi vì cướp đất của dân để bán đã mang lại nguồn lợi to lớn cho băng đảng Việt Cộng mà chúng không thể từ bỏ được.

Ngoài tội cướp bóc kể trên, Việt Cộng còn phạm rất nhiều tội ác chiến tranh và tội ác chống nhân loại đối với đồng bào Miền Nam một cách quy mô và có kế hoạch:

Tội đưa đi lưu đày, (deportation), 1.5 triệu đồng bào Miền Nam tại những nơi rừng thiêng nước độc mà chúng đặt cho cái nguỵ danh là “khu kinh tế mới”. Khí hậu khắc nghiệt tại những nơi lam sơn chướng khí này đã gây ra những cái chết cho nhiều chục ngàn người.
Tội xử tử một cách phi pháp, (extrajudicial, or summary, execution), 100,000 quân dân cán chính VNCH trong thời gian 10 năm kể từ sau tháng 4/1075, gây đau thương suốt đời cho cho hàng trăm ngàn thân nhân ruột thịt của họ.
Tội giết 160.000 người bằng cách đuổi theo pháo kích và bắn trực xạ trong nhiều ngày vào đoàn người chạy giặc suốt theo chiều dài của Tỉnh Lộ 7B từ Pleiku xuống duyên hải trong tháng 3/1975, để lại đau thương suốt đời cho hàng trăm ngàn thân nhân của họ.
Tội giam cầm phi pháp, (imprisonment without formal charge or trial), 1,000,000 quân dân cán chính VNCH trong những cái gọi là “trại cải tạo” với thời gian bị giam cầm là từ 3 tới 10 năm, và có nhìều người đã bị giam tới 17 năm. Tội ác này đã gây đau khổ tinh thần cho hàng triệu thân nhân ruột thịt của họ.
Tội ác thủ tiêu mất tích, (enforced disappearance of persons), 165,000 quân dân cán chính VNCH bị chết vì đòn thù trong các trại tù cải tạo. Hiện nay, Việt cộng còn đang chôn giấu 165,000 bộ hài cốt của những người này trong rừng núi với chủ tâm trả thù, gây thống khổ tinh thần suốt 35 năm nay cho hàng trăm ngàn cha mẹ, vợ chồng, anh chị em, con cái của họ.
Chế độ độc tài khủng bố Việt Cộng đã là nguyên nhân xô đẩy 3,000,000 đồng bào Miền Nam lao ra biển trên những con thuyền mỏng manh để đi tìm tự do, gây ra những cái chết thảm cho 700,000 đồng bào trên biển cả, để lại đau thuơng suốt đời cho hàng triệu cha mẹ, vợ chồng, anh chị em, con cái của họ.

Một số tội ác kể trên đã đủ để chứng minh rằng hầu hết các gia đình tại Miền Nam đều là nạn nhân của tội ác chiến tranh và tội ác chống nhân loại của băng đảng cộng sản. Chính những tội ác này đã gây ra hận thù và chia rẽ không thể hoà giải giữa Việt Cộng và đồng bào Miền Nam. Do đó, những thiện chí (?) kêu gọi hoà giải giữa cộng sản với người dân Miền Nam và với cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại trong lúc này là đồng loã với những tội ác của chúng, là chuyện đặt cái cày trước con trâu.

Những Tội Ác Gây Chia Rẽ Giữa Người Việt và người Việt

Như đã trình bày ở trên, khi xâm lăng VNCH, Việt Cộng đã hành xử như một đạo quân thực dân đi xâm lược một quốc gia thù địch. Chúng thi hành một chính sách phân biệt đối xử nhằm chia rẽ dân tộc. Chúng gọi một cách mất dạy, láo xược toàn dân Miền Nam là “nguỵ”, và chúng tôn xưng một cách trâng tráo bọn Nam gian, bọn ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản, bọn nằm vùng và hàng triệu người được chúng đưa từ Miền Bắc vào xâm thực Miền Nam là “quần chúng cách mạng”. Chính sự phân biệt trên danh nghĩa này đã là nguyên nhân đầu tiên gây chia rẽ không thể hoà giải giữa người Việt với người Việt. Chỉ cần quan sát những sự kiện đã và đang diễn trong xã hội Miền Nam từ ngày 30/4/1975 đến nay sẽ thấy rõ sự chia rẽ trầm trọng giữa hai thành phần người Việt nói trên là không thể hoà giải được chừng nào cộng sản còn thống trị đất nước.

Chúng triệt hạ khoảng 50 nghĩa trang QĐVNCH trong toàn Miền Nam bằng cách đào các mộ phần, lấy hài cốt mang đi thủ tiêu và san thành bình địa; trong khi đó chúng xây cất rất “hoành tráng” một số tương đương các nghĩa trang liệt sĩ của chúng trong khắp các tỉnh thành Miền Nam. Đây là việc làm có chủ tâm gây chia rẽ không thể hoà giải giữa hàng triệu thân nhân của hai phe người Việt.
Chúng cố tình triệt hạ Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà - nơi an nghỉ của 16,000 anh hùng tử sĩ của QLVNCH - bằng cách giật sập và mang đi thủ tiêu Bức Tượng Thương Tiếc. Chúng đập phá các mộ bia, san bằng các ngôi mộ, không cho thân nhân sửa sang, tảo mộ. Chúng chủ tâm để cho thời gian tàn phá di sản lịch sử quốc gia này; trong khi đó, cách đấy không xa, chúng xây cất một nghĩa trang liệt sĩ rất quy mô, “hoành tráng”, được canh gác, tu bổ, sơn phết hàng ngày, có cửa hàng bán đồ lưu niệm… Sự phân biệt đối xử đối với những người chết đã gây chia rẽ trầm trọng, không thể hoà giải giữa đồng bào Miền Nam và người của phe chúng.
Chúng đuổi hàng chục ngàn thương binh VNCH ra khỏi các quân y viện trong toàn Miền Nam để chiếm chỗ cho thương binh của chúng. Những người thương binh sa cơ, thất thế đã phải dìu nhau ra khỏi các quân y viện, lê lết trên đương phố với thương tích đầy mình. Cảnh tượng thương tâm này đã làm đau lòng đồng bào Miền Nam. Sự phân biệt đối xử dã man, vô nhân tính của Việt Cộng đã chồng chất thêm tội ác của chúng đối với đồng bào Miền Nam. Loài dã thú cũng không đối xử với đồng loại của chúng như băng đảng Việt Cộng đối xử với đồng bào của chúng!
Ngay sau ngày 30/4/1975, cộng sản đã đưa hơn một triệu người từ Miền Bắc vào Sàigòn để chiếm đoạt những căn nhà của hàng trăm ngàn người chạy giặc để lại và của gần một triệu người Sàigòn bị chúng đưa đi đày tại những “khu kinh tế mới”. Những “quần chúng cách mạng” khố rách áo ôm này cùng với quân chiếm đóng dép râu nón cối đã chiếm đoạt hết những khu phố biệt thự sang trọng nổi tiếng của Sàigòn như Công Lý, Duy Tân, Bà Huyện Thanh Quan, Yên Đổ…và các khu phố buôn bán sầm uất như Tự Do, Nguyễn Huệ, Lê Lợi, Gia Long, Lê Thánh Tôn…Chúng coi Sàigòn là chiến lợi phẩm để đem chia chác cho nhau. Người Sàigòn, một sớm một chiều, cảm thấy mình bị cướp trắng tay; Sàigòn đổi chủ, đổi tên; khắp ngõ, hẻm, phố phường, công sở…vang lên cái giọng the thé Bắc Kỳ 75 chói tai, lạ hoắc cùng với dép râu nón cối làm bẩn Hòn Ngọc Viễn Đông tráng lệ. Cái cảm thức mất mát này đã gây chia rẽ không thể hoà giải giữa những kẻ xâm thực và người dân của thành phố bị xâm thực.
Những người xâm thực Miền Bắc đã giành hết những chức vụ tại các công sở, công ty, xí nghiệp… có lương bổng cao. Một thí dụ điển hình là tại công ty hàng không quốc doanh có trụ sở tại Sàigòn, cho tới ngày hôm nay, hầu hết tiếp viên hàng không - một công việc có lương bổng rất cao - đều là người có gốc gác miền Bắc; người dân Miền Nam rất khó chen chân vào được. Sự kỳ thị này đã hình thành nên một giai cấp làm chủ là người Bắc và giai cấp làm công là người Nam. Sự chia rẽ này là không thể hoà giải được giữa nguời Việt và người Việt
Hàng trăm ngàn người – trong số 1.5 triệu người bị đưa đi đày tại những khu kinh tế mới – đã bỏ trốn, và khi trở về thì thấy ngôi nhà khang trang xây dựng bằng công lao, mồ hôi nước mắt của cả gia đình đã bị một kẻ lạ mặt từ Miền Bắc vào chiếm đoạt một cách “vô tư”, công khai và “hợp pháp”. Người bị cướp nhà phải sống lê lết trên vỉa hè, dưới mái hiên của nhà mình. Kẻ cướp và người bị cướp không thể hoà giải và sống chung hoà bình với nhau được.

Một số sự kiện trên đây đủ để chứng minh rằng chính sách thực dân nội địa và sự phân biệt đối xử của Việt Cộng đã gây chia rẽ trầm trọng giữa người Việt và người Việt. Chừng nào chúng còn thống trị đất nước thì không thể có hoà giải, và sự chia rẽ dân tộc càng trầm trọng thêm. Tất cả những tội ác của băng đảng Việt Cộng đối với đồng bào Miền Nam đã được chúng chủ trương và hoạch định từ trước chứ không phải là những sai lầm như một số luận điệu bao che cho tội ác của chúng và cho rằng chỉ cần một lời xin lỗi của chúng là đủ để hoà giải dân tộc.

Con Đường Hoà Giải Dân Tộc

Kể từ sau ngày 30/4/1975, Việt Cộng luôn luôn lớn tiếng huyênh hoang rằng chúng đã đại thắng và thống nhất được đất nước. Nhưng thực tế cho thấy suốt 35 năm nay và sẽ không bao giờ chúng có thể thống nhất được nhân tâm. Với sự yểm trợ và tiếp vận của khối Đệ Tam Quốc Tế, Việt Cộng có thể sử dụng vũ lực để thống nhất lãnh thổ. Nhưng với chính sách thực dân nội địa và chủ trương phân biệt đối xử “nguỵ-cách mạng” đã và đang diễn ra tại Miền Nam suốt 35 năm nay, chúng không thể thống nhất được nhân tâm mà chỉ làm băng hoại thêm tình đoàn kết dân tộc. Đây là một tội ác lịch sử. Tội ác này xoá bỏ cái gọi là “công thống nhất đất nước” mà chúng và tay sai đã hô hoán, kể công lếu láo suốt 35 năm nay để lừa bịp lịch sử.

Ngày 30-4-1975, đoàn quân xâm lăng cộng sản Miền Bắc chỉ chiếm được đất, chiếm được thành mà không chiếm được lòng dân thì đó không phải là đạo quân “đại thắng mùa xuân” như chúng reo hò mà chỉ là một đoàn quân ăn cướp, và thực tế 35 năm nay đã chứng minh sự thật này. Do đó, Việt Cộng - bọn “giặc cờ đỏ” - không có tư cách gì để đứng ra kêu gọi hoà giải dân tộc; chỗ đứng của chúng là trước vành móng ngựa để trả lời về những tội ác mà chúng đã phạm đối dân tộc suốt 80 năm nay.

Để hoà giải dân tộc, trước hết phải xác định được cái nguồn gốc và nguyên nhân đã gây chia rẽ dân tộc, và sau đó phải tìm một giải pháp công bằng để hoà giải giữa những người đã bị chia rẽ, xoá tan đi những sự thù hận và hàn gắn lại tình đoàn kết dân tộc để tạo sức mạnh và ý chí chống lại âm mưu bá quyền muôn đời của quân Đại Hán từ phương bắc hiện đang đe doạ trầm trọng đất nước với sự tiếp tay làm nội ứng của băng đảng Việt Cộng.

Như đã chứng minh ở trên, sự chia rẽ dân tộc hiện nay có nguồn gốc và cũng là nguyên nhân từ những tội ác có tính quốc tế mà Đảng Cộng Sản Việt Nam - một chi bộ của Đệ Tam Quốc Tế - đã phạm đối với dân tộc. Do đó, muốn hoà giải dân tộc, điều tiên quyết là phải thanh toán cái băng đảng tay sai quốc tế đã gây tội ác đối với dân tộc. Đây là nhiệm vụ lịch sử của toàn dân Việt Nam trong và ngoài nước. Với chiều hướng lịch sử hiện nay, chắc chắn rằng bằng cách này hay cách khác, toàn dân Việt Nam sẽ thanh toán được chế độ Việt Cộng như các dân tộc của những nước Đông Âu và Liên Xô đã làm. Phần còn lại là tìm một giải pháp hoà giải phù hợp với truyền thống văn hoá nhân bản của dân tộc.

Từ sau Đệ II Thế Chiến đã có hơn 30 quốc gia trên thế giới có chia rẽ nội bộ, và tùy theo nguồn gốc và tính chất của sự chia rẽ mà mỗi quốc gia tự tìm kiếm một phương pháp hoà giải dân tộc. Cho tới nay đã có nhiều phương pháp hoà giải dân tộc đã và đang được áp dụng tại nhiều quốc gia, đặc biệt là tại Cộng Hoà Nam Phi và Căm Bốt là hai trường hợp được cộng đồng thế giới đặc biệt quan tâm theo rõi. Riêng trường hợp Căm Bốt còn được cộng đồng thế giới trợ giúp về pháp lý và tài chánh - dự trù khoảng 50 triệu U.S. dollars. Hai phương pháp hoà giải này được dựa trên ba khái niệm: Sự Thật, Công Lý và Tưởng Nhớ, “The concept of Truth, Justice and Memory”. Sau đây xin trình bày về hai phương pháp hoà giải này:

I - Năm 1995, để hoà giải dân tộc, sau khi đã xoá bỏ được chế độ phân biệt chủng tộc, Cộng Hoà Nam Phi đã thành lập Hội Đồng Sự Thật và Hoà Giải, “Truth and Reconciliation Commission”, viết tắt là “TRC”, do Tổng Giám Mục Desmond Tutu - người đoạt giải Nobel Hoà Bình năm 1984 - cầm đầu. Hội đồng này gồm có ba uỷ ban.

1) Uỷ Ban Điều Tra Vi Phạm Nhân Quyền, “The Human Rights Violation Committee”, có nhiệm vụ điều tra những vi phạm nhân quyền trong thời gian từ 1960 đến 1994.
2) Uỷ Ban Tu Chỉnh và Bồi Thường, “The Reparation and Rehabilitation Committee”, có nhiệm vụ phục hồi phẩm giá cho những nạn nhân và đưa ra những biện pháp tu chỉnh và bồi thường thiệt hại.
3) Uỷ Ban Ân Xá, “The Amnesty Committee”, có nhiệm vụ cứu xét ân xá hay trừng phát những kẻ phạm tội ác nghiêm trọng.

Mục đích thứ nhất của Hội Đồng Sự Thật và Hoà Giải là nêu lên những vi phạm nhân quyền xấu xa và tồi bại của chính sách phân biệt chủng tộc. Mục đích thứ hai là nhìn nhận và bồi thường những tổn thất về vật chất và tâm lý mà những nạn nhân đã phải chịu đựng. Mục đích thứ ba là cổ vũ một tinh thần hưng phấn dân tộc, “national catharsis”.

Phương thức hoà giải dân tộc của Cộng Hoà Nam Phi dựa trên khái niệm Sư Thật đã có kết quả tốt đẹp đối với dân tộc Nam Phi bởi vì chính sách phân biệt chủng tộc chỉ gây ra những tội vi phạm nhân quyền trong phạm vi nội bộ quốc gia Nam Phi không giống như những tội ác có tính quốc tế đã gây ra thảm hoạ có tính nhân loại như “Boat People” mà băng đảng Việt Cộng đã phạm đối với dân tộc Việt Nam. Do đó, phương pháp hoà giải dân tộc của Nam Phi không thể mang áp dụng vào trường hợp Việt Nam sau khi chế độ Việt Cộng bị thanh toán.

II - Sau một thời gian dài bị chậm trễ vì những khác biệt giũa các phe phái chính trị trong nội bộ quốc gia và những áp lực quốc tế ủng hộ và chống đối, cuối cùng thì công lý đã tới với dân tộc Căm Bốt. Một Toà Án Đặc Biệt Căm Bốt có tên Anh Ngữ là “Extraordinary Chambers in the Courts of Cambodia” đã được thành lập tại Thủ Đô Nam Vang của Căm Bốt vào năm 2006 để xét xử những tên tội phạm đầu não của cộng sản Khờ Me đỏ về những tội ác diệt chủng, tội ác chiến tranh và tội ác chống nhân loại mà chúng đã phạm đối với dân tộc Căm Bốt trong thời gian từ 17/4/1975 đến 6/1/1979. Trong khoảng thời gian ba năm chín tháng, bọn cộng sản khát máu này đã giết 1.7 triệu người Căm Bốt từ trẻ thơ tới người già.

Toà Án Đặc Biệt Căm Bốt được thành lập bởi Chính Phủ Căm Bốt và Liên Hiệp Quốc. Để đáp ứng được tiêu chuẩn pháp lý quốc tế, Chính Phủ Căm Bốt và LHQ đã mời các thẩm phán và công tố viên quốc tế để cùng làm việc với các thẩm phán và công tố viên người Căm Bốt. Ngày 31-7- 2007, các đồng thẩm phán điều tra, “the co-investigating judges”, đã ban hành trát bắt giữ đầu tiên, và năm thủ phạm đã bị bắt giam gồm những tên sau đây:

*Kaing Guek Eav, Alias Duch, cựu trưởng trại tù S-21, bị kết tội ác chống nhân loại.
*Nuon Chea, cựu chủ tịch quốc hội, bị kết tội ác chống nhân loại và tội ác chiến tranh.
*Ieng Sary, cựu bộ trưởng ngoại giao, bị kết tội ác chống nhân loại và tội ác chiến tranh.
*Ieng Thirith, cựu bộ trưởng xã hội, bị kết tội ác chống nhân loại.
*Khiêu Samphan, cựu thủ tướng, bị kết tội ác chống nhân loại và tội ác chiến tranh.

Phiên toà đầu tiên xử thủ phạm Kaing Guek Eav, Alias Duch đã mở ra ngày 17-2-2009, và phiên toà ngày 26-7-2010 đã kết án tên tội phạm này 35 năm tù. Tên tội phạm kế tiếp sẽ bị mang ra xử là Nuon Chea.

Khi thành lập Toà Án Đặc Biệt Căm Bốt để xét xử những tên tội phạm Khờ Me Đỏ, Chính Phủ Căm Bốt và LHQ đã chọn phương pháp hoà giải dân tộc dựa trên khái niệm Công Lý. Công lý là một thành tố không thể thiếu trong tiến trình hoà giải dân tộc. Công lý cần thiết để phục hồi những liên hệ hoà bình và bình thường giữa những người đã phải sống dưới chế độ khủng bố cộng sản. Công lý phá bỏ chu kỳ bạo lực, sự thù hận và sự trả thù vô luật pháp. Sau hết, công lý còn cần thiết để phục hồi danh dự cho những nạn nhân còn sống sót và gia đình của những nạn nhân đã chết. Tóm lại, Công Lý là cách đối xử nhân bản, công bằng và văn minh nhất.

Song song với nhiệm vụ của Toà Án Đặc Biệt Căm Bốt là mang những kẻ phạm tội ra trước công lý và mang công lý tới cho hàng triệu nạn nhân của chế độ cộng sản Khờ Me Đỏ, còn có một tổ chức xã hội dân sự đảm nhiệm vai trò như một Uỷ Ban Sự Thật; đó là Trung Tâm Tài Liệu về Cam Bốt có tên Anh Ngữ là “Documentation Center of Cambodia”, viết tắt là “DC-Cam”. Trung tâm này - có một lịch sử hình thành rất đáng chú ý - ra đời 11 năm trước để chuẩn bị cho việc thành lập Toà Án Đặc Biệt Căm Bốt sau này.

Tháng 4/1994, Quốc Hội Hoa kỳ thông qua Đạo Luật Công Lý về Tội Ác Diệt Chủng tại Căm Bốt, “Cambodian Genocide Justice Act”. Đạo luật này cho phép - vào tháng 7/1994 - Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ thành lập Phòng Điều Tra Tội Ác Diệt Chủng tại Căm Bốt, “Office of Cambodian Genocide Investigations”. Phòng này có nhiệm vụ điều tra những tội ác tàn bạo của Khờ Me Đỏ trong thời gian từ 1975 đến 1979.

Tháng 1/1995, Phòng Điều Tra Tội Ác Diệt Chủng tại Căm Bốt đã tài trợ cho Đại Học Yale để thực hiện Chương Trình về Nạn Diệt Chủng tại Căm Bốt, “Cambodian Genocide Program”, viết tắt là “CGP”, nhằm tìm kiếm, huấn luyện và thu thập tài liệu về chế độ Khờ Me Đỏ. Công việc của CGP là tìm kiếm chứng cứ để xác định xem các lãnh tụ Khờ Me Đỏ có phạm các tội ác chống nhân loại, tội ác chiến tranh và tội ác diệt chủng hay không? CGP là một chương trình hàn lâm có ba mục tiêu: 1) soạn thảo một tài liệu nghiên cứu và thư mục, “to prepare a documentation survey and index”; 2) nghiên cứu và biên soạn lịch sử, “to undertake historiographical research”; 3) cung cấp huấn luyện về pháp lý, “to provide legal training”.

Để theo đưổi ba mục tiêu nói trên, tháng 1/1995, CGP thành lập DC-Cam như một văn phòng tiền phương tại Phnom Penh. Văn phòng này được đặt dưới quyền một viên chức phụ trách về chương trình, Ông Youk Chhang, một người sống sót trong Cánh Đồng Giết Người của Khờ Me Đỏ. Kể từ ngày 1-1-1977, DC-Cam trở thành viện nghiên cứu độc lập về Căm Bốt, và là một tổ chức bất vụ lợi không phụ thuộc chính phủ hoặc bất cứ một tổ chức chính trị nào. DC-Cam nhận tài trợ rộng rãi từ các nguồn tài chánh quốc tế gồm những tổ chức tư nhân và các chính phủ như Hoa Kỳ (USAID), Swedish, Dutch…

Ban tham mưu của DC-Cam gồm toàn những người Căm Bốt, trong số này có nhiều người tốt nghiệp đại học tại Mỹ và Âu Châu. DC-Cam có một Hội Đồng Giám Đốc gồm 10 chuyên viên thượng thặng người Căm Bốt và một Hội Đồng Cố Vấn gồm 15 chuyên viên ngoại hạng về Căm Bốt. DC-Cam còn được sự trợ giúp của các học giả và chuyên viên tại Hoa Kỳ, Âu Châu và Á Châu về nhiều bộ môn như luật pháp, công pháp quốc tế….DC-Cam là nguồn cung cấp thông tin và tài liệu lớn nhất thế giới cho các học giả, các luật gia, các nhà hoạt động và công chúng về lịch sử của thảm hoạ nhân loại do Đảng Cộng Sản Căm Bốt gây ra.

DC-Cam có hai mục tiêu chính. Mục tiêu thứ nhất là thu thập và lưu trữ những tài liệu lịch sử về
chế độ Khờ Me Đỏ để cho các thế hệ tương lai hiểu rõ giai đoạn lịch sử bi thảm này. Mục tiêu thứ hai là ghi chép, tổ chức, sắp xếp, những thông tin và dữ kiện thành những chứng cứ pháp lý để chứng minh những tội ác của Khờ Me Đỏ. Hai mục tiêu trên đây cổ vũ cho sự Tưởng Nhớ và Công Lý. Đây là hai khái niệm căn bản đặt nền móng cho một nền pháp trị và sự hoà giải dân tộc chân thực cho Căm Bốt.

Để hoàn thành mục tiêu thứ nhất, DC-Cam đã sưu tầm và phân loại được 155,000 trang tài liệu gốc về Khờ Me Đỏ và hơn 6,000 bức ảnh. Hiện còn 400,000 trang tài liệu chờ phân loại. Năm 2009, DC-Cam đã biên soạn và phát hành quyển sách giáo khoa mang tên “Lịch Sử Kampuchea Dân Chủ” nói về lịch sử và tội ác của Đảng Cộng Sản Căm Bốt. Tính tới nay đã có 300,000 cuốn sách giáo khoa nói trên được phân phát tới tay học sinh, và dự trù đến cuối năm 2010 sẽ phát hành thêm 700,000 cuốn nữa. DC-Cam đã đề nghị và được Bộ Giáo Dục chấp thuận trong niên học sắp tới sẽ cho treo hai biểu ngữ có tính giáo dục tại 1,700 trường trung học trong toàn quốc. Nội dung của hai biểu ngữ đó như sau: “Hãy Nói Về Nỗi Chịu Đựng Đã Trải Qua Trong Suốt Thời Kỳ Cộng Sản Để Khuyến Khích Sự Hoà Giải Và Giáo Dục Thế Hệ Trẻ Về Lòng Độ Lượng Và Khoan Dung” và “Hãy Học Hỏi Về Lịch Sử Của Kampuchea Dân Chủ Để Ngăn Ngừa Nạn Diệt Chủng”. Hai tấm biểu ngữ này có kích thước ngoại khổ. Tấm biểu ngữ trước có kích thước 2m chiều ngang và 4m chiều dài; tấm biểu ngữ sau có kích thước bằng một nửa. Ngoài ra, môn học về tội ác diệt chủng của Khờ Me Đỏ cũng đã được chấp thuận đưa vào chương trình giáo dục bậc trung học.

Để hoàn thành mục tiêu thứ hai, DC-Cam đã cố gắng thu thập những chứng cứ như thư tịch, tiểu sử, hình ảnh, địa điểm và những sự kiện lên quan đến tội ác của Khờ Me Đỏ. DC-Cam đã xác định được địa điểm và toạ độ của 189 trại giam, 19,403 mồ chôn tập thể và 80 địa điểm diệt chủng. DC-Cam đóng góp rất nhiều trong việc giữ gìn Viện Bảo Tàng Diệt Chủng Tuol Sleng và khu di tích Cánh Đồng Giết Người Choeung Ek. DC-Cam đã đề nghị chính phủ bảo vệ và tu bổ những địa đìểm gây tội ác của Khờ Me Đỏ để trở thành những di tích lịch sử để tưởng niệm các nạn nhân. Những dữ kiện trên đây đã cung cấp những tài liệu giá trị cho các học giả, các nhà điều tra, các sử gia để tìm hiểu chính xác lịch sử tội ác của Đảng Cộng Sản Cam Bốt. DC-Cam cũng cung cấp những chứng cứ pháp lý cho Toà Án Đặc Biệt Căm Bốt.

Với sáng kiến và sự giúp đỡ của Chính Phủ Hoa Kỳ và Đại Học Yale, DC-Cam đã được thành lập để trở thành một viện nghiên cứu độc lập góp phần vào công việc hoà giải dân tộc tại Cam Bốt. Phương pháp hoà giải dân tộc của Cam Bốt dựa trên ba khái niệm: Công Lý, Sự Thật và Tưởng Nhớ. Sau đây xin tóm tắt ý nghĩa của ba khái niệm nói trên trong hoà giải dân tộc:

a) Khái niệm Công Lý trong hoà giải dân tộc – Mang bọn tội phạm cộng sản ra trước công lý là một thể hiện công bằng, trong sáng và minh bạch đối với những kẻ phạm tội cũng như đối với những nạn nhân của chúng. Công lý tạo được niềm tin tưởng của người dân về luật pháp quốc gia là để bảo vệ an ninh và hoà bình cho xã hội vốn đã bị cộng sản sử dụng như một công cụ khủng bố để đàn áp người dân. Công lý đặt nền móng cho cho một thể chế pháp trị rất cần thiết cho sự hoà giải chân thực để đoàn kết dân tộc, hướng tới tương lai.

b) Khái niệm Sự Thật trong hoà giải dân tộc - Một sự hoà giải chân chính đòi hỏi sự thật phải được trình bày một cách trung thực để:
Nạn nhân có quyền biết sự thật về những tội ác đã gây thống khổ cho họ. Sự thật cũng cần thiết để trả lại danh dự và bạch hoá những tội trạng mà chế độ cộng sản đã vu cáo chống lại họ.
Giúp thân nhân của các nạn nhân đã bị giết, bị thủ tiêu tìm hiểu những gì đã xẩy ra cho những người thân của họ và tìm được những di tích còn sót lại của những người này.
Giúp cho xã hội biết được nguồn gốc và nguyên nhân gây ra tội ác để tránh tái diễn.

c) Khái niệm Tưởng Nhớ trong hoà giải dân tộc – Một dân tộc không có ký ức để nhớ về quá khứ hoặc quên quá khứ, dân tộc đó sẽ vong thân và mất phương hướng. Tưởng nhớ hay tưởng niệm những nạn nhân đã hy sinh trong một biến cố lịch sử chính là để gây niềm thông cảm và tạo tình đoàn kết dân tộc để chống cái ác tái diễn. Tưởng nhớ những thảm hoạ cay đắng trong một giai đoạn lịch sử là để tạo niềm tin hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn chứ không phải ôm lấy quá khứ để sống một cuộc sống nghèo nàn về tinh thần và tình cảm. Tưởng nhớ chính là để nhìn rõ Sự Thật, góp phần vào công cuộc hoà giải dân tộc chứ không phải khơi lại hận thù như Việt Cộng và tay sai hô hoán. Khi xây dựng những Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam trên khắp thế giới, người Việt hải ngoại đã chuẩn bị cho công cuộc hoà giải dân tộc dựa trên hai khái niệm Tưởng Nhớ và Sự Thật

Hoà giải dân tộc dựa trên ba khái niệm Công Lý, Sự Thật và Tưởng Nhớ là kinh nghiệm của hơn 30 quốc gia kể từ sau khi chấm dứt thế chiến 2. Đây là ba khái niệm mà Việt Cộng rất sợ. Chính vì sợ Sự Thật và Tưởng Nhớ mà chúng đang chống phá và tìm mọi cách để phá hoại những Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam trên khắp thế giới. Do đó, đừng bao giờ kêu gọi, gửi kiến nghị hoặc viết thư cho Việt Cộng yêu cầu chúng đứng ra hoà giải dân tộc. Chúng không có khả năng và tư cách để làm việc này. Chúng chỉ tuyên truyền, nói láo và lừa gạt.

Kết Luận

Thảm hoạ mà Đảng Cộng Sản Căm Bốt gây ra cho dân tộc Căm Bốt mang tính nhân loại. Do đó, cộng đồng thế giới đã giúp đỡ về pháp lý và tài chánh để hàn gắn vết thương và hoà giải dân tộc để chuyển tiếp từ chế độ độc tài cộng sản sang chế độ dân chủ pháp trị. Phương pháp hoà giải dân tộc của Căm Bốt đang diễn tiến có triển vọng tốt đẹp. Người Việt cần theo rõi, nghiên cứu để áp dụng vào Việt Nam sau này, bởi vì những tội ác mà Đảng Cộng Sản Căm Bốt gây ra cho dân tộc Căm Bốt cũng chính là những tội ác mà Đảng Cộng Sản Việt Nam đã phạm đối với dân tộc Việt Nam. Những tội ác này có cùng một nguồn gốc là các thứ Leninism, Stalinism và Maoism.

Như đã trình bày ở trên, băng đảng tội phạm Việt Cộng - mà bản chất của chúng là đấu tranh tiêu diệt giai cấp một cách sắt máu - không có tư cách và cũng không có khả năng để hoà giải dân tộc. Đây là sự thật, và thực tế 35 năm nay đã chứng minh điều này. Toàn dân Việt Nam - với truyền thống văn hoá nhân bản - sẽ thực hiện được hoà giải dân tộc sau khi thanh toán xong chế độ cộng sản. Ngay từ bây giờ, các học giả, các nhà trí thức, các nhà nghiên cứu, các sử gia, các luật gia, các nhà hoạt động, các chính trị gia người Việt trên khắp thế giới nên thành lập một tổ chức xã hội dân sự như DC-Cam của Căm Bốt để chuẩn bị cho công cuộc hoà giải dân tộc - một công cuộc quy mô có tầm vóc lịch sử - sau khi thanh toán được chế độ Việt Cộng.

Người Cuba cũng đã chuẩn bị cho một tiến trình hoà giải dân tộc trong tương lai 5, 10… năm nữa khi chế độ cộng sản Cuba sụp đổ. Tiến trình này do hai tác giả Armando M. Largo và Marria C. Verlau soạn thảo có tựa đề: Đối Phó với Quá Khứ: Vai Trò của Sự Thật trong Hoà Giải Dân Tộc, “Dealing with the Past: The Role of Truth in National Reconciliation”. Ngoài ra, người Cuba cũng đã được Ford Foundation và Open Society Institute tài trợ để thành lập một tổ chức có tên: Hoà Giải Dân Tộc Cuba: Lực Lượng Đặc Nhiệm về Tưởng Nhớ, Sự Thật và Công Lý, “Cuban National Reconciliation: Task Force on Memory, Truth and Justice”. Tổ chúc này - gồm hơn 20 nhà trí thức, học giả, giáo sư và các nhà hoạt động - có mục tiêu là nghiên cứu một phương thức hoà giải dân tộc dựa trên ba khái niệm Công Lý, Sự Thật và Tưởng Nhớ để chuyển tiếp từ chế độ độc tài cộng sản Cuba sang một thể chế dân chủ pháp trị. Đây là sự chuẩn bị trước cho một sự kiện lịch sử chắc chắn sẽ diễn ra: Sự tiêu vong của chế độ cộng sản Cuba. Người Việt quốc gia tại hải ngoại cũng nên nghiên cứu, soạn thảo ngay từ bây giờ một tiến trình hoà giải dân tộc dựa trên ba khái niệm: Công Lý, Sự Thật và Tưởng Nhớ. Sớm hay muộn, chắc chắn chế độ độc tài toàn trị Việt Cộng sẽ bị tiêu diệt.

Hồ Chí Minh và băng đảng Việt Cộng đã tàn ác với chính đồng bào của chúng. Hơn ba triệu người Việt đã phải liều chết vượt biển ra đi, sống tha hương trên gần một trăm quốc gia và vùng lãnh thổ khắp thế giới. Những mất mát vật chất có thể bù đắp lại được, nhưng phải cắt lìa khỏi quê hướng để đi sống tha hương không biết ngày về là những mất mát thuộc về tinh thần và tình cảm không thể bù đắp được. Ngày hôm nay, hơn ba triệu người Việt đang sống tha hương trên khắp thế giới chỉ có một ước vọng duy nhất là trở về xây dựng lại quê hương đã bị băng đảng Việt Cộng làm đổ vỡ tan hoang. Điều này chứng tỏ rằng trong tiềm thức họ đã ấp ủ một tinh thần hoà giải dân tộc. Hoà giải để đoàn kết dân tộc là một nhu cầu lịch sử cấp thiết có tính sinh tử như đã trình bày từ đầu của bài viết này. Tuy nhiên, để có thể hoà giải dân tộc, trước hết phải thanh toán cái băng đảng tội ác Việt Cộng bởi vì chúng là chướng ngại vật trên con đường hoà giải dân tộc Đó là logic của lịch sử.

Đỗ Ngọc Uyển

(Khoá 4 Thủ Đức/ Binh Chủng T.T)
Morgan Hill, California
Tháng 8 năm 2010

Bấm chữ "Older Posts" trên đây để xem tiếp .... Dưới Là Bài Cũ Theo Từng Tháng.

 
*** Nếu Thích QUẢNG BA, Thích Phước Tấn bất chấp dư luận can ngăn mà về VN tham dự Phât Đản do Việt Cộng tổ chức tại Hà Nội vào tháng 5/2008. Thì đương nhiên 2 Cộng Sư nầy đã đứng ra khiêu khích và tuyên chiến với cả Cộng Đồng Tự Do Hải Ngoại chúng ta ...