ĐỈNH CAO TRÍ TUỆ CỦA ĐẢNG CƯỚP VIỆT CỘNG
Đỉnh cao trí tuệ
Nguyễn Bá Thông
Có một điều mà người Việt Nam, dù là quốc gia hay cộng sản, tiến bộ hay phản động, thường hay nói đến, đó là sự thông minh cuả dân tộc Việt Nam. Phải khách quan mà công nhận rằng, văn minh, văn hoá, kinh tế, chúng ta chưa hơn các nước trong vùng Đông Nam Á Châu như Thái Lan. Cho đến nay, nước ta vẩn chưa có được một nhà tư tưởng, một nhà khoa học thật lớn.
Niềm tự hào không có cơ sở trên đây dường như đã xuất hiện từ lâu lắm. Nó phản ảnh tự ti hơn là tự tôn, chủ yếu đối với Trung Quốc, vừa là mối đe dọa thường trực vừa là mẫu mực không thể vượt được trong mọi lĩnh vực sau hơn một ngàn năm Bắc thuộc. Tình hình đó dẩn đến sự buồn cười sau đây: Về mặt chính trị, nhân dân Việt Nam luôn kiên quyết bảo vệ chủ quyền dân tộc (Nam quốc sơn hà nam đế cư) thì về tư tưởng, học thuật, ngoài Nguyễn Huệ, Hồ Quý Ly, đều tỏ ra khá lệ thuộc đối với Trung quốc, bằng chứng hiển nhiên nhất là việc duy trì chữ Hán như là văn tự chính thức trong suốt hơn chín thế kỷ độc lập.
Trong chừng mực nào đó, suy nghĩ bằng chữ Hán, trí tuệ Việt Nam đã bị ràng buộc, cản trở trong sự phát triễn cuả nó. Kết quả là chỉ thấy người mình thông minh, tài giỏi chủ yếu trong giai thoại, những chuyện vui cười hoàn toàn hư cấu như các cuộc đi sứ sang Tàu hay tiếp sứ Trung Quốc. Mạc Đĩnh Chi đã làm các quan lại và cả vua Nguyên phải phục sát đất vì những câu đối vừa khéo vừa nhanh (nhưng chỉ là trò chơi chữ nghĩa). Những Trạng Quỳnh, Trạng Lợn đã đại náo Thiên triều bằng những thủ đoạn vặt vãnh, trẻ con. Dường như để chứng tỏ sự ưu việt về trí tuệ cuả mình, các tác giả dân gian vô danh cuả chúng ta tưởng tượng ra những cảnh trong đó triều đình Trung Quốc giống như một ngôi đình làng và vua Trung Quốc không oai gì hơn ông vua cải lương, và nhất là hạ thấp trí tuệ của người Tàu. Nhưng cần gì, miễn là các ông Trạng của chúng ta hơn người là được, và chúng ta hả hê trước mỗi thắng lợi giả tưởng vì đó là thắng lợi của mỗi chúng ta.
Những giai thoại về thi hào Cao Bá Quát phần nào cũng phản ảnh niềm tự hào đó. Nhưng dù mến phục Cao chu thần đến đâu đi nửa, ta cũng phãi công nhận rằng lời ca ngợi là quá cường điệu. Cho đến khi người Pháp chiếm sáu tỉnh Nam Kỳ, người mình vẫn còn cho các nước thuộc văn hoá Tàu là văn minh.
Chỉ khi mất nước rồi, đặc biệt là từ đầu thế kỷ hai mươi, một bộ phận cuả sĩ phu ta như các cụ Phan ChuTrinh, Huỳnh Thúc Kháng.. mới bừng tĩnh vì thấy được là phương Tây không những hơn về khoa học, kỷ thuật, mà còn hơn cã về tư tưởng, học thuật nửa, nên chủ trương cấp tốc duy tân, mở mang dân trí.
Thế nhưng, sau khi thống nhất năm 1975, thì niềm tự hào cố hữu lại sống dậy mãnh liệt hơn bao giờ hết. Say sưa vì đã đánh bại siêu cường đế quốc số một cuả thế giới, nhất là đã sáng tạo được những luận điệu kinh tế, chính trị tuyệt vời “làm chủ tập thể, ba dòng thác cách mạng, tiến nhanh, tiến mạnh lên chủ nghiã xả hội vv.”, các nhà lãnh đạo và các cơ quan truyền thông đại chúng của Việt Nam đã dùng khá nhiều cụm từ “Đỉnh cao trí tuệ”.
Người ta có cảm tưởng là sau năm 1975, thế giới đang bước vào kỷ nguyên Việt Nam, dân tộc ưu việt, tiên phong cuả cả loài nguời. Có một nhà lý luận mác xít cuả Việt Nam đã từng nói: “kiều dân Nhật còn làm tổng thống Pérou được”. Chẳng lẻ cái gène ViệtNam chết mất với người đã ra đi? Nhiều lĩnh vực cho thấy chủ nghĩa anh hùng truyền thống và óc thông minh cuả Việt Nam sống mãnh liệt trong nhân gian và dân ta tài giỏi hơn kiều dân của Nhật.
Cách đây khá lâu, tiến sĩ (?) Phan Khải đã đi diển thuyết nhiều nơi về di truyền học, có thể tuyển chọn đươc những “gien” thi sĩ, võ sĩ, nhạc sĩ, toán học gia, vật lý học vv.. để cãi thiện giống nòi. Có người biết nhiều hiểu rộng, kể chuyện Nhật Bản cử người lấy Đặng Thái Sơn làm chồng để hứng lấy gien Việt Nam. Nghe mà sửng sốt, kinh sợ cho tài nhìn xa của Nhật.
Đến bao giờ chúng ta mới thấy được rằng sự phát triển không phụ thuộc vào những yếu tố nòi giống di truyền mà thôi nói về sự thông minh cuả dân tộc Việt Nam, bỏ được những tự hào vô căn cứ, và lối đại ngôn “Coi Trời bằng vung”.
Đến khi thông qua giai đọan phát triển tư bản chủ nghĩa, tuy không tiến bộ được như Nhật, Nam Hàn, sản xuất xe hơi, tivi, máy vi tính, ViệtNam ta cũng phát triển được cộng nghệ làm nước mắm, tôm khô, bánh tráng và nhiều mặt hàng đông lạnh như mít xoài, thơm, chuối, mảng cầu, vú sửa v.v, mướp đắng phơi khô, trà xanh, trà nhàu, cơm cháy rang mà nhà sản xuất thu mua cơm thừa ở các nhà hàng về tẩy màu, trộn gia vị, sấy khô xuất cảng.
Nhưng đó là những sáng tạo nhỏ bé. Hàng xuất khẩu lớn nhất làm người Việt khắp năm châu hổ thẹn là “Gái Việt Nam”. Thời giá xuất khẩu gái Việt ra nước ngoài khoãng 8000 đô Mỹ, qua trung gian bọn con buôn, trong đó có Nhà Nước CSVN, khi đến tay gia đình, chỉ còn vài trăm Đô. Nhưng các cô đành chấp nhận vì khi sang được nước ngoài, sẽ tìm cách làm việc để gởi tiền về giúp gia đình. Đó mới là nguồn lợi chính thức và lâu dài. Số tiền còn lại sẽ vào tay một mạng dịch vụ gồm có cả công an, xã, ấp, tiền hoa hồng, ma cô, giấy chứng nhận, khám sức khoẻ, học ngoại ngữ, tiền đám cưới và di chuyển v.v. Tại Đài Loan, báo chí đã thẳng thắn đã kích việc quảng cáo bán gái Việt như: “Cô dâu Việt còn trinh 20000 tiền ĐàiLoan, nếu không đúng sẽ hoàn lại tiền”!
Trên đây là những món hàng được đi chính thức, có hộ chiếu do các cơ quan công an cấp. Hiện tượng quá rõ ràng nhưng nhà cầm quyền vẫn tránh né hay vờ vịt không biết.
Nói đến đặc sản Việt Nam, người ta nghĩ gì, phải chăng là những điều dối trá, những món hàng phụ nữ rẽ tiền, xấu hổ nhất, độc đáo nhất, không lẩn lộn được với ai, không có bất cứ nước nào, dù nghèo nhất thế giới cũng không có như vô số mặt hàng “Ôm”, bia ôm, karaokê ôm, hớt tóc ôm, ngũ trưa ôm, đấm bốp ôm v.v..
Ngược lại với sự tự hào cao ngạo cuả đảng cộng sản Việt Nam quang vinh bách chiến bách thắng, ta hãy nhìn lại những thành quả vĩ đại của Dubai, một tiểu vương quốc nhỏ xíu có diện tích 3750 km2 thuộc khối United Arab Emirates gồm bảy tiểu vương quốc nằm ở bờ biển phía Đông Nam cuả bán đảo Á Rập dọc theo vịnh Persian, với 420 ngàn dân có quốc tịch Dubai, một tấm gương phát triển quốc gia khi người lãnh đạo có tầm nhìn xa trông rộng như ông Sheikh Rashied bin Saced al Maktoum (1912-1990) đã hiểu rằng trữ lượng dầu hỏa ít oi sẽ cạn dần, không phải là một nguồn tài nguyên vô tận mà dốc tâm lực vào việc xây dựng một nền kinh tế khiến Dubai có thể đứng vững khi không còn dầu hoả.
Từ hơn thập niên nay, Dubai được biết đến qua những công trình kiến trúc cực kỳ tối tân, sang trọng nếu không nói là liều lĩnh, được xây cất phần lớn tại những khu mậu dịch tự do (free zones), nào là phi trường, hải cảng, những nhà chọc trời với những phòng ốc đầy đủ tiện nghi của thời đại văn minh kỹ thuật cao, những trung tâm mua sấm đồ sộ với đủ thứ mặt hàng xa xí phẩm và miễn thuế (free duty), những khu nghỉ mát sang trọng xây trên những dải đất bồi nhân tạo vươn ra ngoài biển, khi thì hình cây dừa tỏa lá, lúc là hình địa cầu đặc biệt về diện kỹ thuật như khách sạn Burj al Arab cao hơn tháp Eiffel cuả Pháp mang một biểu tượng cuả môt cánh bườm căng gió, toà Dynamic Tower vừa mới khai trương trị giá sơ sơ 30 triệu mỹ kim một căn (condo) khởi xây vào năm 1994 tốn 850 triệu mỹ kim theo National Geographic.
Trong phạm vi phần nầy, người viết chỉ muốn nhấn mạnh tới sự quan trọng cuả việc Dubai có một nhà lãnh đạo có tầm nhìn xa rộng, thay vì đem tiền tiêu phí vào chiến tranh, các cuộc tranh chấp võ ích, dùng lợi tức của dấu hoả mới tìm ra vào năm 1966, để vừa trả nợ trước đó cuả xứ Kuwait, để khởi sự một chương trình phát triển kinh tế đã biến Dubai từ một làng đánh cá, mò trai nghèo nàn thành một trung tâm tài chính và du lịch của Trung Dông, và tạo cho nhân dân nhiều phúc lợi, sống an cư lạc nghiệp, trang trọng và hạnh phúc.
Còn Việt Nam ta, sau khi chiếm được miền Nam, đã chiếm đoạt tài sản, đánh tư sản, cả tiểu tư sản — như một công nhân, nhờ cần cù lao động, mua được một chiếc xe, tự mình lái kiếm miếng ăn cũng thành tư sản luôn. Áp dụng chính sách đổi tiền, có tiền để ngân hàng, muốn rút tiền ra phải có lý do, và các cơ sở kinh doanh phải làm kế hoạnh rút tiền trước hàng tháng. Dân muốn mua cây đinh cũng phải làm đơn.
Công nhân viên chức phải xin xuống lương chết đói, khiến cho dân miền Nam không biết ngày mai sẽ ra sao, đành tìm đường vượt biển tìm tự do và sinh sống ở các nước đã nhận những người tỵ nạn và nhiệt tình giúp đỡ. /-
Nguyễn Bá Thông
Tuesday, November 30, 2010
TIỂU SỬ CỦA JULIAN ASSANGE
Julian Assange, founder of Wikileaks
7:00AM BST 26 Jul 2010
4 Comments
Assange, 39, had an unconventional upbringing. Born and raised in Australia, his parents met at a demonstration against the Vietnam War and instilled in their son a sense of rebellion.
He attended 37 different schools as a child, moving often because his parents ran a touring theatre company, and went on to study pure maths and physics at university. Reports in Australia claim that he left home at 17 and spent some time sleeping rough in Melbourne.
But the internet was his one true passion and he became part of the computer underground in his late teens, learning to hack into email accounts belonging to the rich and influential and mine their secrets.
Related Articles
Leaking of files 'irresponsible' says Pakistan envoy 26 Jul 2010
Secret special forces hit squads hunting Taliban leaders 26 Jul 2010
Sister of fallen Aghanistan soldier sold his medals to fund a holiday 26 Jul 2010
Afghan war logs: British troops killed dozens of civilians 26 Jul 2010
A diversion from the truth? 22 Aug 2010
How Wikileaks turned crowd-sourcing into journalism 26 Jul 2010
After publishing an expose on physicists selling research to military and intelligence agencies, he went on to found Wikileaks in 2007. The site describes itself as the "uncensorable Wikipedia for untraceable mass document leaking and analysis" and has grown to be regarded as the most extensive and safest platforms for whistleblowers to leak to.
The non-profit website is run by a loose band of volunteers and goes to extraordinary lengths to protect the identity of its sources.
One of its greatest scoops involved the publication in April of a secret video taken in 2007 of a US helicopter attack in Iraq that killed a dozen civilians, including two unarmed Reuters journalists.
Despite the dominance of the website, Assange, 39, is a shadowy figure who shuns the limelight and is rarely seen in public. He has no home address, prefering to travel wherever the issues of the day take him and often popping up in Sweden or Iceland, countries whose laws protect internet anonymity.
Something of a nomad, Assange carries a desktop computer and clothes in his rucksack. His travels are funded by money "made on the internet".
"When governments stop torturing and killing people, and when corporations stop abusing the legal system, then perhaps it will be time to ask if free-speech activists are accountable," he said. /-
Dallas: Đại Nhạc Hội Thảm Bại, Vì Biểu Tình Với Rừng Cờ Vàng
Đài NBC: rạp 2,500 chỗ, chỉ có hơn 200 khách xem nhờ vé tặngDALLAS (Bản tin Cung Nhật Thành) -
- Hưởng ứng lời kêu gọi của 2 Cộng Đồng Dallas & Tarrant County, và Ủy Ban Phát Huy Chính Nghĩa Quốc Gia DFW, dưới làn gió lạnh khoảng 45 độ, trên dưới 500 đồng hương và các đoàn thể trong vùng đã tham dự cuộc biểu tình chống cuộc trình diễn văn nghệ của nhiều ca sĩ quốc nội tại Plano (Dallas) tối ngày 27 Tháng 11, 2010. Các phái đoàn từ xa gồm có: phái đoàn CĐ Người Việt Quốc Gia Houston do ông Trương Như Phùng và cô Hoàng Ngọc (vừa đắc cử Chủ Tich Hội Đồng Đại Diện Cộng Đồng Houston) hướng dẫn; phái đoàn Ủy Ban Đấu Tranh Nam California do ông Phan Kỳ Nhơn, Nguyễn Phương Hùng, và 2 đài truyền hình SBTN Nam California và đài VHN, hướng dẫn; phái đoàn Austin do ông Đỗ Văn Phúc và ông Phương huớng dẫn.
Thông tin báo chí Việt Nam có ông Trương Sĩ Lương-Bán Nguyệt San Thế Giới Mới, cô Thu Nga, ông Hạnh và ông Thuận -đài Truyền hình SBTN, đài Sài Gòn 890AM; ông Chí Nhân-đài Dallas Việt Nam Radio, Diễn Đàn Paltalk với anh chị Nguyễn Hoàng Huy Đức trực tiếp trên mạng lưới toàn thế giới với hơn 1000 người theo dõi và Báo Tiếng Nói Cộng Đồng của 5 thành phố ở Texas. Hệ thống Truyền Hình Hoa Kỳ gồm có Đài số 4 FOX, số 5 NBC và số 8 ABC. Các đài này đã phỏng vấn một số người tham dự cuộc biểu tình trong đó có ông Hà Thúc Thanh, phát ngôn viên cuộc biểu tình, ông Nguyễn Xuân Hùng, Tarrant County Commisioner, cô Therese Hoàng Ngọc, Chủ tịch CĐ Houston, một thanh niên trẻ từ Keller, và cô Cung Hoàng Kim, Trưởng Nhóm Sinh Viên Học Sinh - Saturday Ocean Group. Hình ảnh tin tức về cuộc biểu tình chống văn nghệ tuyên truyền VC của chúng ta ở Plano, Dallas, đã được phát ngay trên các hệ thống truyền hình Hoa Kỳ vào lúc 9 và 10 giờ tối, cùng ngày. Ông Nguyễn Xuân Hùng đã nói với đài 4 FOX, “Chính quyền CS cho các đoàn hát từ VN sang để cố chứng tỏ là ở VN có dân chủ, có tự do, nên mới có văn nghệ lưu diễn ra hải ngoại và ngược lại.” Nhưng chúng ta biết thưc sự thì trái ngược, ca sĩ hải ngoại về VN trình diễn phải xin phép trước, phải đưa rõ tên và nội dung bài hát và chờ nhà nước VC kiểm duyệt, có được chấp thuận thì mới được hát, nên họ về VN chỉ toàn hát nhạc “Tình” vớ vẩn và tuyệt đối không được phép hát một bài nào có hình ảnh người lính VNCH của Miền Nam trước 1975...
Còn ngày xưa ở Miền Nam, được tự do hát, ngay cả những bài phản chiến chống chế độ, không phải xin phép gì thì lại xem thường, nói xấu chế độ Tự Do (quá dễ dãi) của Miền Nam. Ngoài ra, đảng và nhà nước VC còn thẳng tay đàn áp, bỏ tù các thành phần đối lập trong nước.Trong bản tin, đài Truyền Hình số 4 Fox có nhận xét: Thật là dễ dàng khi phỏng vấn và thu hình những người yểm trợ và tham dự biểu tình. Nhưng khi xin phỏng vấn những người đi xem thì “không ai dám chường mặt ra, họ chỉ lén lút đi xem.” Sau cùng, đài 4 đành phỏng vấn một em bé...11 tuổi, theo cha mẹ coi hát! Tương tự, ba ngày trước cuộc biểu tình, đài Truyền Hình số 8 ABC đã phỏng vấn ông Hà Thúc Thanh, bà Lê Lam Ngọc, ông Cao Chánh Cương của 2 Tổ Chức Cộng Đồng Người Việt, Dallas & Tarrant County, một cách dễ dàng. Nhưng đài ABC than phiền là “người tổ chức ca nhạc VC trốn, cúp điện thoại, không dám cho họ phỏng vấn…”
Trong đêm biểu tình, hoạt cảnh LS Lê Thị Công Nhân cùng LM Nguyễn Văn Lý bị bịt miệng và bị kéo lê với xiềng xích, do bà Đoan Trang, Hội Phụ Nữ Quốc Gia và Đoàn Thanh Niên Hồn Việt, diễn tả rất sinh động sự bị áp bức của người Việt trong nước. Ban Yểm Trợ cuộc biểu tình đã năng nổ làm việc. Trước đó, ông Nguyễn Kinh Luân và tôi, Cung Nhật Thành, đã họp với Cảnh Sát Plano, Plano Centre, ngày 17 tháng 11, để phối hợp và phân định chỗ của đoàn biểu tình, và sau đó phải liên tục trả lời giúp đồng hương các nơi gọi hỏi đường. Ban Yểm Trợ tiếp đãi đồng bào tham dự biểu tình trong gió lạnh với nước trà nóng, sữa đậu nành nóng, bánh mì thịt chả lụa và nước uống. Đó là do công sức của các anh chị Nguyễn Trọng Hiếu, Kim Oanh, và Nguyễn thị Văn Hiến thuộc CĐ Tarrant, chị Nguyễn Thái Thủy, anh chị Quỳnh & Diệu Nữ Trần Tiên, và anh Đặng Sanh thuộc CĐ Dallas, và nhiều anh chị em khác. Xin Cám Ơn sự đóng góp của đồng bào Dallas và vùng lân cận cho quỹ biểu tình, cám ơn anh chị John Krall & Đặng Mỹ Dung, tác giả truyện Ngàn Giọt Lệ Rơi, đã sốt sắng góp $200.00 ngay hôm họp quyết định Biểu Tình. Buổi biểu tình đã thành công ngoài sự dự đoán của mọi người.
Xin chân thành Tri Ân tất cả đồng bào thuộc đủ mọi lớp tuổi, ở Dallas & Fort Worth và các thành phố lân cân, cũng như các đoàn thể xa gần, đã bỏ việc nhà và thời giờ nghỉ ngơi yên ấm trong dịp lễ Thanksgiving, cùng đến Dallas với chúng ta dưới làn gió lạnh, để cùng lên tiếng chống độc tài CS, thay cho hơn 85 triệu dân Việt trong nước, bị VC trấn áp nên không thể nói được.
Dallas, ngày 27/11/2010
Cung Nhật Thành
(Bài đã biên tập bởi VB)Theo Việt Báo
Một số TIN QUAN TRỌNG bị tiết lộ mới nhất trên WikiLeaks
Đào Nguyên source The Lookout và NPR, Nov 29, 2010
Cali Today News - Chúa nhật qua thì WikiLeaks tiết lộ khoảng 250,000 tin gọi là các ‘diplomatic cables’ trong vòng từ 3 năm qua, cho thấy những bí mật ít được biết của ngành ngoại giao thế giới.
Trong các tin hàng đầu có chuyện là nhiều quốc gia vùng Trung Đông tỏ ra lo lắng về khả năng thủ đắc vũ khí nguyên tử của Iran, kể cả vua của Ả Rập Saudi từng nhiều lần yêu cầu Mỹ “cắt đầu con rắn độc”, nghĩa là oanh tạc Iran.
Đại sứ Mỹ ở Seoul từng nói nếu khéo vận động, Trung Quốc có thể ủng hộ một nước Triều Tiên thống nhất là đồng minh của Hoa Kỳ.
Phó Tổng Thống Afghanistan A.Z. Massoud từng mang tiền mặt lên tới 52 triệu đô la Mỹ khi ông thăm xứ Các Tiểu Vương Thống Nhất Ả Rập trong năm 2009 và ông Massoud thì chối bỏ chuyện này.
Chính phủ Mỹ đang nỗ lực gỡ bỏ chất uranium tinh chất cao từ một nhà máy nguyên tử của Pakistan vì e ngại số lượg uranium này có thể bị lạm dụng để chế ra một vũ khí nguyên tử phạm luật.
Ngoại Trưởng Clinton ra lệnh cho các nhà ngoại giao Mỹ thu thập tin tức từ các đối tác ngoại quốc kể cả thu thập tin về kế hoạch của TTK Ban Ki-moon của Liên Hiệp Quốc về Iran.
TT Putin và TT Berlusconi của Ý đã có liên lạc mật thiết hơn người ta tưởng. Ông Putin đã tặng “nhiều phẩm vật giá trị” cho ông Berlusconi và ông Berlusconi tỏ ra công khai bênh vực cho Nga ở diễn đàn châu Âu.
Thứ hai 29/11 bà Clinton lên tiếng chỉ trích việc làm của WikiLeaks có thể gây nguy hiểm cho các nhà ngoại giao trên thế giới.
Đào Nguyên source The Lookout và NPR
By Max HastingsLast updated at 9:09 AM on 30th November 2010
Comments (41)
Add to My Stories
Pimply geek: Bradley Manning, thought to be the origin of the leaks
Seldom in history has a lone pimply geek, convinced that he knows what is right for the world, caused such mayhem.
Private Bradley Manning, a 23-year-old U.S. soldier who says ‘information should be free’, has laid bare his Government’s cable traffic on a scale that makes the outcome of the 1943 Dambusters’ raid seem like a mere dripping tap.
Here is the jumbo jet version of the electronic leaks we have grown accustomed to in Britain: bank details and personal NHS records broadcast to the four winds, company systems hacked, private correspondence laid bare.
The simple truth about our computer-dominated, 21st-century societies is that if something is recorded on a database or transmitted electronically, it is vulnerable to penetration or exposure.
Governments are hacking each other’s systems almost daily. Secrets are safer on dreary old paper, which can be locked in a safe, than in a billion-dollar brain.
How important is the information Manning and Assange have revealed?
Thắc mắc về một chi tiết quan trọng trong bài nói chuyện của Ls Lưu Tường Quang
Vào chiều thứ Bảy vừa qua (23/10) tôi có đi tham dự buổi nói chuyện của Đảng Vì Dân với đồng hương ở Sydney tại nhà hàng International, Canley Vale.
Trước khi ông Nguyễn Công Bằng (Tổng Thư Ký của Đảng Vì Dân) tâm tình và phần hỏi đáp là hai bài nói chuyện của Ls Lưu Tường Quang và Ls Đào Tăng Dực.
Bài nói chuyện của Ls Lưu Tường Quang có tựa đề là “Việt Nam và Vấn Đề Biển Đông Trong Thập Niên 2010”. Trong bài nói chuyện này ông có nhắc lại 2 điểm quan trọng của trong Tuyên Bố Chung giữa Tổng thống George W. Bush và Thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng sau khi hai người gặp nhau tại Washington vào cuối tháng 6 năm 2008 và ra tuyên bố chung vào ngày 25/6/2008.
Theo lời Ls Lưu Tường Quang thì trong Tuyên Bố Chung này, Tổng thống Bush nhấn mạnh hai điểm quan trọng như sau (chúng tôi xin ghi lại đúng nguyên văn của tác giả):
1. Hoa Kỳ tôn trọng sự toàn vẹn lãnh thổ của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
2. Hoa Kỳ không ủng hộ bất cứ những phong trào, những thế lực nào nhằm lật đổ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
Điểm thứ nhất là điều đương nhiên bởi vì Việt Nam được Liên Hiệp Quốc và quốc tế công nhận.
Tuy nhiên tôi vô cùng ngạc nhiên về điểm thứ hai.
Nếu có một tổ chức chính trị nào lật đổ được chính quyền CSVN do sự ủng hộ của đa số quần chúng, thì đó là quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam.
Quan trọng hơn nữa là Tổng thống George W. Bush không thể phản bội lại lý tưởng về tự do và dân chủ mà người Mỹ đã tự hào từ ngày lập quốc đến nay. Câu quan trọng nhất trong Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của nước Mỹ ra đời ngày 4/7/1776 là: “Mọi con người được sinh ra đều bình đẳng và được tạo hóa ban cho một số quyền không thể tước bỏ, như quyền sống, quyền tự do, quyền được mưu cầu hạnh phúc.”
Kể từ khi Hoa Kỳ trở thành cường quốc mạnh nhất thế giới, lãnh đạo thế giới tự do đối đầu lại Khối Cộng Sản sau Đệ Nhị Thế Chiến, Hoa Kỳ luôn luôn dùng chủ thuyết tự do dân chủ như là một vũ khí hữu hiệu nhất để chống lại thế giới Cộng Sản.
Từ khi lập quốc, trong bất cứ bài diễn văn nào của các vị tổng thống Hoa Kỳ khi nhậm chức đều có nhắc đến sứ mạng về tự do và dân chủ, để nhắc nhở người Mỹ đừng quên lý tưởng cao đẹp nhất mà tổ tiên để lại cho các thế hệ mai sau, đồng thời họ cũng muốn gởi thông điệp đó đến tất cả các dân tộc khác trên thế giới.
Tiểu biểu nhất là trong bài đọc diễn văn khi nhậm chức vào ngày 20/1/1961, Tổng Thống Kennedy đã tuyên bốn một cách hùng hồn như sau: “Chúng ta phải nói cho thế giới biết rằng, dù họ có thích hay không thích, chúng ta sẽ sẵn sàng trả bất cứ giá nào, chịu tất cả mọi gánh nặng, đương đầu với tất cả mọi khó khăn, ủng hộ tất cá các đồng minh, chống lại tất cả mọi kẻ thù để bảo vệ sự sống còn của chúng ta và sự tự do của con người” (Let every nation know, whether it wishes us well or ill, that we shall pay any price, bear any burden, meet any hardship, support any friend, oppose any foe, in order to assure the survival and the success of liberty). Cho đến ngày nay người Mỹ vẫn luôn tự hào về câu nói này của tổng thống Kennedy.
Trong hai bài diễn văn nhậm chức của George W. Bush (mà ông Lưu Tường Quang đề cập đến), danh từ mà ông nhắc đến nhiều nhất là hai từ Liberty và Freedom (Tự do) - (quý vị chỉ cần vào Google đánh chữ “Inaugural Address by George W. Bush” thì sẽ ra ngay). Tiêu biểu nhất là trong bài diễn văn nhậm chức lần thứ hai vào ngày 20/1/2005, trong đó có đoạn như sau: “So it is the policy of the United States to seek and support the growth of democratic movements and institutions in every nation and culture, with the ultimate goal of ending tyranny in our world”, tạm dịch: “Cho nên chính sách của Hoa Kỳ là theo đuổi và hỗ trợ những phong trào, các cơ quan tranh đấu cho dân chủ tại tất cả các quốc gia và nền văn hóa, với mục đích cuối cùng là chấm dứt các chính thể độc tài chuyên chế trên thế giới.”
Cho nên sau khi nghe qua bài nói chuyện của Ls Lưu Tường Quang tôi vô cùng ngạc nhiên, không lẽ Tổng thống George W. Bush phản bội lại lý tưởng mà dân tộc ông từng theo đuổi và tự hào kể từ ngày lập quốc đến nay, và phản bội lại ngay chính lời nói của ông trong bài diễn văn quan trọng nhất trong cuộc đời làm chính trị của mình.
Chúng ta đang sống trong thời đại “Internet”, mọi thứ chỉ trong tích tắc là có thể tìm ra liền, cho nên ngay sau về đến nhà, tôi vào Google để tìm “Tuyên Bố Chung giữa TT Bush và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng”. Chỉ vài giây là trước mặt tôi hiện ra hai bản Tuyên Bố Chung mà mình muốn tìm, một bản bằng tiếng Anh (Joint Statement Between The United States of America and The Socialist Republic of Vietnam – dated June, 25, 2008) và một bản bằng tiếng Việt (Bản tiếng Việt do chính phủ CSVN dịch đúng nguyên văn bảng tiếng Anh của chính phủ Mỹ).
Tôi đọc nhiều lần và đọc thật kỹ hai bản văn này, nhưng vẫn tìm không ra điểm thứ hai của Ls Lưu Tường Quang (“Hoa Kỳ không ủng hộ bất cứ những phong trào, những thế lực nào nhằm lật đổ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”).
Ở điểm thứ nhất, Tổng thống Bush chỉ nói một cách rất vắn tắt như sau: “The two leaders were pleased with the successes of Vietnamese Americans and noted their contribution to the promotion of the relationship between the two countries. President Bush welcomed these contributions and reiterated the U.S. government’s support for Vietnam’s national sovereignty, security, and territorial integrity” – tạm dịch: “Hai nhà lãnh đạo hài lòng với những thành công của người Mỹ gốc Việt và ghi nhận sự đóng góp của họ vào việc thúc đẩy quan hệ giữa hai nước. Tổng thống Bush hoan nghênh những đóng góp này và tái khẳng định sự ủng hộ của Chính phủ Hoa Kỳ đối với chủ quyền quốc gia, an ninh, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.”
Nhưng cũng đừng quên là trong Tuyên Bố Chung ngắn gọn này (chỉ dài khoảng 1500 chữ) mà TT Bush đã nhắn đến từ ngữ Nhân Quyền (Human Rights) đến 4 lần. Và cũng không nên quên rằng một quốc gia Việt Nam tự do dân chủ vẫn có lợi cho nước Mỹ hơn là một chế độ độc tài đảng trị. Trong suốt 35 năm người Mỹ không bao giờ không đề cập đến vấn đề nhân quyền tại Việt Nam mỗi khi có cơ hội.
Ls Lưu Tường Quang là một trong những người Úc gốc Việt nổi tiếng nhất của cộng đồng người Việt tại Úc, từng là một viên chức ngoại giao cao cấp của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa và chính phủ Úc, đồng thời cũng là diễn giả thường xuyên trong những buổi nói chuyện của cộng đồng người Việt tại Sydney nói riêng và nước Úc nói chung, tiếng nói của ông chắc chắn có trọng lượng rất nhiều so với một người bình thường. Hy vọng ông giải tỏa thắc mắc của một người bình thường như tôi, một người theo dõi vấn đề chính trị một cách một cách rất “amateur”.
Theo tôi, điểm thứ hai mà Ls Quang nêu ra rất quan trọng vì nó ảnh hưởng đến quan điểm và quyết định chiến lược của các tổ chức chính trị trong và ngoài nước trong vấn đề tranh đấu cho dân chủ và tự do.
Và điều quan trọng nữa là một số những vị lãnh đạo các tổ chức chính trị người Việt trong và ngoài nước thường có cái nhìn sai lệch về một người bạn đồng minh sát cánh với dân tộc VN trong suốt 20 năm chiến đấu để bảo vệ lý tưởng tự do, một dân tộc đã hy sinh tại chiến trường VN 56,000 binh sĩ, gần 200,000 bị thương, phí tổn lên đến 200 tỉ mỹ kim (tính vào thời điểm đó) và hiện đang là nơi định cư của hơn 2 triệu người Việt.
Trong 35 năm qua tại hải ngoại chúng ta vẫn thường xuyên nghe các diễn giả nhắc đi nhắc lại câu nói “Người Mỹ chỉ biết đến quyền lợi của mình” khi bàn về chuyện Việt nam. Đó là điều đương nhiên, chỉ có những quốc gia độc tài như CSVN mới chỉ biết đến quyền lợi của phe nhóm và cá nhân mà ngoảnh mặt trước nỗi đau và quyền lợi chung của dân tộc. Nhưng cũng đừng nên quên rằng trong suốt hơn 200 năm qua kể từ khi người Mỹ đặt chân lên Đà Nẵng lần đầu tiên vào tháng Giêng năm 1803, đã có biết bao nhiêu lần quyền lợi của nước Mỹ và quyền lợi của nước VN trùng hợp nhau, nhưng chúng ta đều để mất cơ hội. Trong lúc đó thì người Nhật và người Đức đã biết tận dụng chương trình viện trợ “Marshall” của Mỹ để vươn lên từ đống tro tàn.
Điệp khúc “Chúng ta thua vì bị người Mỹ phản bội…” cứ nghe nhắc đi nhắc lại trong 35 năm qua, nhưng có bao giờ chúng ta tự hỏi: tại sao người Mỹ không phản bội Nam Hàn, không phản bội Đài Loan, không phản bội Do Thái… mà lại phản bội VNCH. Chúng ta trách người Mỹ không ủng hộ mạnh mẽ một tổ chức chính trị tranh đấu tự do dân chủ cho VN, nhưng có bao giờ chúng ta tự hỏi là có một tổ chức chính trị nào ở hải ngoại đủ uy tín và hậu thuẫn của cộng đồng người Việt để họ đặt niềm tin hay không? Ngay cả trong cộng đồng chúng ta mỗi khi nghe đến những đảng phái chính trị của người Việt đã thấy nản lòng, thì đòi hỏi gì hơn ở người Mỹ? Chúng ta chỉ biết chửi Mỹ nhưng không có một nhân vật cao cấp nào của chính quyền VNCH đủ cam đảm đứng ra nhận lỗi trước đồng bào của mình về việc làm mất nước.
Dù có thương hay có ghét Mỹ thì trước mắt đó vẫn là quốc gia quan trọng nhất có thể giúp chúng ta tranh đấu giành lại quyền tự do và dân chủ, và đó cũng là quốc gia có thể giúp chúng ta vượt qua sự lạc hậu và nghèo khổ trong thời hậu Cộng Sản. Vấn đề là chúng ta có đủ khôn ngoan để tận dụng cơ hội như người Nhật, người Đức, người Đài Loan, người Đại Hàn, người Do Thái… đã làm sau Đệ Nhị Thế Chiến hay không? Họ đã biết tận dụng viện trợ, kỹ thuật và thị trường rộng lớn của nước Mỹ để làm giàu cho xứ sở họ, còn hơn là cứ chửi hay nghĩ xấu về một người bạn đồng minh - để đời này sang đời khác tiếp tục sống trong sự nghèo nàn và lạc hậu. Nghèo nàn không phải chỉ ở miếng cơm manh áo mà tệ hại hơn nữa là nghèo nàn ngay trong nếp suy nghĩ.
Thuận Lê, Bankstown
Ghi chú: Một người bạn của tôi có ghi âm lại toàn bộ buổi nói chuyện của Đảng Vì Dân. Trước khi viết ý kiến này tôi có mượn để nghe kỹ lại đoạn ghi âm trên hầu tránh có những sai sót. Tôi có hỏi Việt Luận cho phép gởi bản ghi âm đó ở tòa soạn để những quý vị nào muốn kiểm chứng có thể nghe lại. Xin cám ơn Việt Luận đồng ý lời đề nghị của tôi./-
_______________________________________________________
Monday, November 29, 2010
TỴ NẠN CHỐNG VĂN CÔNG HỘ LÝ CỦA VIỆT CỘNG TẠI PLANO -TEXAS.
Cuộc biểu tình chống Việt gian tại Dallas đêm 27-11-2010
Bản tin ghi nhanhTin DFW-tgm:
Sau gần một tháng sửa soạn cho cuộc biểu tình chống đại nhạc hội “Tiếu vương hội”, gồm 26 ca sĩ từ trong nước, khoảng 10 ca sĩ trong tổ chức Duyên Dáng VN, qua trình diễn vào đêm 27-11-2010, tại Plano, TexaS... đúng 6:00 giờ chiều, khi bóng đêm đổ xuống, khoảng gần 500 đồng bào tại hai vùng DFW đã kéo tới trước khuôn viên của hí viện Plano Centre để phản đối buổi ĐNH có tính cách tuyên truyền cho NQ-36 này. Trong đoàn biểu tình rầm rộ hôm nay, như đã loan tin 2 ngày trước, chúng tôi nhận thấy có phái đoàn Nam California, do 2 ông Phan Kỳ Nhơn và Nguyễn Phương Hùng hướng dẫn, có Camemen của 2 đài SBTN-NamCali và VHN tháp tùng để thu hình.
Quý vị trong phái đoàn này đã thay nhau cầm lái ngày đêm, nghĩa là vượt hơn 1600 dặm cho kịp giờ tham dự cuộc biểu tình. Phái đoàn thứ hai đến từ thủ phủ Austin của Texas do chiến hữu Đỗ Văn Phúc dẫn đầu, cũng đã chạy như bay cho kịp giờ gặp mặt bà con tại CĐ Dallas, may mà không bị giấy phạt của cảnh sát công lộ. Phái đoàn thứ ba do 2 ông Trương Như Phùng và Nguyễn Tấn Trí cầm đầu, rầm rộ nhất, đến từ Houston với 2 xe van; đặc biệt có Luật sư (trẻ) Teresa Hoàng, người vừa thắng cử Chủ Tịch CĐ trong cuộc bầu cử rất sôi nổi tại Houston, Texas tuần qua.Trong bóng đêm, thỉnh thoảng có ngọn đèn pha từ các máy quay phim của đài truyền hình SBTN-dfw chĩa vào “Bản doanh” cuộc biểu tình, chúng tôi thấy quý ông bà trong ban tổ chức rất hăng say qua loa phóng thanh như: Phạm Văn Tiền, Hà Thúc Thanh, Lam Ngọc, Nguyễn Kinh Luân... lo điều hợp, giới thiệu các đoàn biểu tình từ xa đến, giới thiệu các nhân sĩ đến từ nhiều nơi khác như ông Nguyễn Tấn Trí, Lại Thế Hùng, giám sát viên (gốc Việt) Andy Nguyễn tại Tarrant County,Texas.
Quý vị từ xa đến và địa phương đều được mời lên phát biểu ý kiến về cuộc biểu tình rất sôi nổi như ông Trương Như Phùng, ông Phan Kỳ Nhơn, ông Nguyễn Phương Hùng, ông Đỗ Văn Phúc, cô LS trẻ Teresa Hoang, Lại Thế Hùng, Andy Nguyễn, Bùi Quang Thống...Trước khí thế bừng bừng bằng những khẩu hiệu “đả đảo Việt gian, đả đảo văn công tuyên vận VC, lên án nhà cầm quyền CSVN bán nước, gởi ca-nô ra hải ngoại để lũng đoạn tập thể người Việt lưu vong hải ngoại; và qua những lời giải thích của tại sao có cuộc biểu tình hôm nay, bằng hai thứ tiếng Việt Mỹ, của ban tổ chức đã được giới truyền thông Việt Mỹ ghi nhận. Để kịp lên online bản tin nhanh này, chúng tôi xin ghi ra các dữ kiện chính sau sau đây:
1) Cuộc biểu tình tuần hành trước rạp Plano Centre, khoảng gần 500 người tham dự (tính vào lúc cao điểm nhất) sau giờ khai mạc 6:30 PM.
2) Tính vào lúc chấm dứt cuộc biểu tình (8:45 PM), ký giả của TGM vào bên trong hí trường ghi nhận có khoảng 300 người tham dự, trong khi sức chứa của rạp hát khoảng 2500 ghế.
3) Đoàn biểu tình rất trật tự. Trong bóng đêm, gió lạnh nhưng rừng Cờ Vàng, biểu ngữ vẫn trung bay rất đẹp mắt. Trẻ già, trong ánh nến cầm tay lung linh, vẫn kiên trì rảo bước dọc theo con đường phía trước khuôn viên hí viện rất trật tự, ho to những khẩu hiệu chống cộng.
4) Anh chị em trong ban điều hành đoàn biểu tình đã khàn cả cổ họng vì phải hô to những khẩu hiệu đả đảo CSVN để tạo khí thế, trong khi thỉnh thoảng vài ba chiếc xe của khách ham vui ca nhạc tiến vào bãi đậu xe của hí viện.
5) Nhiều cảnh sát và an ninh của Thành phố Plano rất tử tế với đoàn biểu tình. Ngay cả khi người biểu tình vào bên trong rạp hát để xử dụng cầu vệ sinh vẫn được Cảnh sát chỉ dẫn.6) Ngoài các cơ quan truyền thông Việt ngữ, chúng tôi nhận thấy có ba đài truyền hình Mỹ đến phỏng các nhân vật chủ chốt trong cuộc biểu tình đó là đài số-4, số 5 và số 8.Tóm lại, cuộc biểu tình tuần hành vào đêm hôm qua, thứ Bảy, 27-11 tại Plano, Texas rất thành công ngoài dự trù của BTC.
Xin ghi lại một lời nói rất cần cho chúng ta suy nghĩ, hay nói đúng hơn như một lời bày tỏ cảm tưởng của chính chúng ta trong đêm xuống đường vừa qua. Lời của anh Đoàn Nguyễn, từ Houston, đến tham gia cuộc biểu tình đêm qua.“Mặc dù, mặc 2,3 lớp áo vẫn không ngăn nổi cơn lạnh thấu da thịt của mùa đông bắc Mỹ. Bà con cô, chú bác, các em vẫn đứng để chờ dưới bóng đêm, giương cao ngọn cờ hô đả đảo Việt gian, mỗi khi có chiếc xe nào của kẻ ham vui, tiếp tay với chế độ áp bức bạo tàn ở Việt Nam chạy ngang qua.
Tôi đứng đó, 300, 400 người nối tiếp nhau đứng đó, tại sao? Ai biết nói giùm đi! Có người vừa mới rời nhà thương về cũng ra đứng đó; có kẻ vừa đắc cử Chủ Tịch cộng đồng cũng lên đứng đó. Trời đông giá lạnh sương dày, ai bắt chúng ta ra đứng đó hỡi trời! ĐẢ ĐẢO VIỆT GIAN Việt Cộng. ĐNg Xin mời quý độc giả theo dõi trên www.thegioimoiOnline.com và báo in, Tap chi Thế Giới Mới bài viết đầy đủ chi tiết hơn trong nay mai.BBT-tgm
TÔ VĂN LAI (Thi thế tú tài cho em bị đuổi)
ĐÃ CHÍNH THỨC BÁN "THÚY NGA" CHO VIỆT CỘNG (?)
Trung Tâm Thúy Nga đã bán cho chủ mới là Six flags tại VN
Kính chuyển để Bà Con Tị Nạn biết rõ về con người của NNN, một kẻ xuất thân từ các xóm đạo Ngã Ba Ông Tạ, vượt biển bị tai nạn chết hết vợ con, sang đây viết tiểu thuyết bán chạy như tôm tươi nhờ những mẩu chuyện liên hệ đến các thảm nạn vượt biển, rồi làm MC cho TVL để làm giầu mà quên liêm sỉ, quên những thảm nạn của chính gia đình mình, đồng bào mình, rồi cuối cùng che dấu, lấp liếm mấy cũng lòi ra con người táng tận lương tâm như kết quả hiện thời. Ai còn tin được mồm mép của NNN và con gái lộn chồng của NC Kỳ Cục nữa thì xin đọc bài viết của Ông hay Bà TG ở cuối email này.
Kính.
Đây là một tin đáng tin cậy từ đồng hương ở Toronto, Canada
Thuý Nga đã bán trung tâm của họ từ mùa hè năm 2009 cho chủ mới là Six flags tại VN tập đoàn này là chóp bu từ thủ tướng đứng làm chủ nhân, những Paris Bynight về sau ca sĩ trong nước rất nhiều, khi giới thiệu ông Ngạn nói "hầu hết ca sĩ hải ngoại" Nhưng kỳ thữc hầu hết ca sĩ trong nước! Điều lo lắng của ông hết sức chính xác, tiếc thay qúa muộn, việc vận động mua băng gốc là điều chính đáng, vì đạo đức, nhà tôi không giàu có nhưng không mua băng lậu bằng cách kêu gọi anh em trong gia đình góp tiền mua băng gốc rồi chuyền nhau coi nên giá thành không khác so với băng sang lậu
- Làm như thế mình khỏi áy náy trong lòng Nguyễn Mậu Hiệpvà sau đây là thư của độc giả gởi cho Nguyển Ngọc Ngạn Thưa anh Nguyễn Ngọc Ngạn,Tôi bạo dạn viết vài dòng cho anh. Cứ xem đây là một người trong khán giả và độc giả rất ái mộ văn tài của anh từ sau khi đọc truyện "Nước Đục" của anh hơn mười năm trước.
Tôi chưa từng được găp anh, nhưng với anh Tô văn Lai thì không lạ gì. Tôi biết anh Lai từ ngày ảnh đến Mỹ phải ngủ ở nhà các bạn bè, đi từng tiểu bang để bán các cuốn Thúy Nga rất vất vả để tạo nên một Trung tâm Thúy Nga ngày nay.
Một tấm gương rất đáng kính phục.Cuốn Thúy Nga 40 có Khánh Ly hát bài "Mẹ" hay gì đó với hình ảnh Máy Bay Trực Thăng Việt Nam Cộng Hòa Bắn Xuống Dân Chúng là một sự trình bày láo khoét.
Dĩ nhiên là tôi biết ai thực hiện vì có thời gian người đó đã ở Mỹ và làm việc chung với tôi (và trở về định cư tại Việt Nam ).Sau những phản ứng dữ dội của đồng bào VN tại Mỹ vì những hình ảnh láo khóet bôi lọ Quân Lực VNCH, thì TT Thúy Nga lại bình an vô sự và mọi người đã quên đi.
Người bạn trẻ đó lại làm một cuốn phim khác có tựa là "Áo Lụa Hà Đông" phát hành cách đây khỏang 2 năm tại VN và hải ngọai. Lại cũng những cảnh quân đội của Việt Nam Cộng Hòa bắn vào trường học làm chết nhân vật nữ chính trong truyện phim.
Lại một trình bày và tuyên truyền Láo Khoét! Một số người vô tư cho là phim cảm động. Tôi chỉ biết chán nản lắc đầu. Ý thức của một số không nhỏ của những người xem phim trong cộng đồng VN ở đây quá kém, phải buồn lòng mà nói như vậy. Và dĩ nhiên đối tượng của tuyên truyền cộng sản luôn nhắm vào những người này!!!
Nhưng điều đáng nói, và nguyên nhân lá thư bỏ ngỏ này là vì trong một DVD Thúy Nga gần đây, anh (Nguyễn Ngọc Ngạn) đã nhắc đến tên người bạn trẻ đó để cám ơn và tuyên dương đã có công với Trung tâm Thúy Nga.Tại sao anh không lờ đi, đừng tuyên dương như vậy, bởi vì hậu quả là sẽ có không ít người nghi ngờ thiện chí của Thúy Nga về đường lối "quốc gia", anh có thấy như vậy không???
Tại sao một phim clip trong Thúy Nga 40 và phim "Áo Lụa Hà Đông" cũng của LH thực hiện đều luôn bêu xấu VNCH mà thực ra những tội pháo kích vào trường học, giết tập thể dân chúng toàn là do người cộng sản làm khi chiến tranh đang tiếp diễn tại Việt Nam vào 35 năm trước!!!
Anh Tô văn Lai có quyền về Saigon tính chuyện làm ăn, thì phải giao thiệp với cộng sản, cũng như LH nếu ở Mỹ thì khó có tiền để làm phim nên phải dựa vào guồng máy cai trị để Được Làm Phim.
Năm nay đã hơn 40 tuổi, LH vẫn còn "trẻ" và mù mờ về "quốc gia dân tộc" thì sự chọn lựa để đứng về phía nào có lợi cho mình là điều dễ hiểu.Khi con người có ý thức thì một Bill Gates khi lập công ty Microsoft cũng chỉ khoảng 20 gì đó, và Nguyễn Thái Học của Việt Nam Quốc Dân Đảng cũng chỉ dưới 24 tuổi.
Nhưng tôi không trách LH vì mỗi người đều có lý tưởng dù có đi sai đường. Những tai hại mà LH tuyên truyền là có bộ máy của cộng sản ở đàng sau điều khiển, tôi chỉ tiếc là TT Thúy Nga và anh dính vào đó.Dính vào cộng sản thì chỉ có thân bại danh liệt, đừng mong nhờ chúng mà được vinh thân phì gia.Anh là nhà văn, không nên để những điều đó làm vẩn đục sự nghiệp của mình.
Còn anh Tô văn Lai, đã xưng là giáo sư thì đã từng đi dạy những thế hệ trẻ, cũng không nên để tiểu sử của mình dính vào bất cứ một thằng Việt cộng nào trong những năm cuối đời. Hãy nhìn Nguyễn Cao Kỳ thì biết, thật tội nghiệp, không biết ông ta đã mở mắt chưa!!!
TG. Canada
TED BAILLIEU, CHÓ NGÁP PHẢI RUỒI
ĐÃ CHÍNH THỨC LÀ THỦ HIẾN THỨ 46 CỦA TIỂU BANG VICTORIA (Melbourne)
New Victorian Premier Ted Baillieu is unlikely to waste any time implementing his government's agenda as he enters his first day as the state's leader.
Mr Baillieu, 57, was sworn in as Victoria's 46th Premier by Governor David de Kretser on Monday about an hour after Labor leader conceded defeat following Saturday's state election.
The Liberals are likely to win the tightly contested seat of Bentleigh as Victorian Electoral Commission workers count the last prepoll, postal and absentee votes, giving the Liberal-National Coalition a likely 45-43 lead over Labor in the lower house.
It's thought Mr Baillieu will hit the ground running by recalling parliament before Christmas in a bid to make the most of his first 100 days in office.
Before he was sworn in, Mr Baillieu held a two-hour meeting of his shadow cabinet to prepare for government.
He said his first priority was to provide "stable, disciplined, responsible government".
Mr Brumby's concession speech, interrupted only once as he reined in his emotions, lasted about 20 minutes.
He took no questions and gave no indication of his future as Labor leader and as a member of parliament.
It is likely he will step down from the leadership but he has previously committed to see out his four-year term representing the seat of Broadmeadows.Health Minister Daniel Andrews is touted as a likely successor to lead Labor in opposition./-
MỘT DÂN BIỂU CỘNG HÒA
ĐÒI HỎI BIỆN LÝ TRUY TỐ JULIAN ASSANGE (Quốc tịch Úc) - Website WIKILEAKS.
***Mt68:
Julian Assange, 39 tuổi là một tên bất hảo, đã bị Úc truy lùng về tội HIẾP DÂM. Sau khi trốn khỏi Úc, mấy năm nay hắn sống quanh quẩn ở các nước Trung Đông và mấy tháng gần đây thì mới thấy xuất hiện là người sáng lập ra Website WIKILEAKS .
Website nầy đã tiết lộ hàng ngàn trang về những bí mật quốc phòng của Mỹ và đồng minh. Hiện cũng chưa biết chắc là JULIAN đang sống ở chỗ nào ? Và cũng chưa rõ làm sao hắn có những tài liệu tối mật ấy ???
Tình báo nhiều nước Tự Do đang lùng kiếm Julian và chắc trong tương lai gần dư luận sẽ biết rõ nhiều chi tiết chính xác về chủ nhân website Wikileaks hơn./- mt68
A PROMINENT Republican congressman has called for the prosecution of WikiLeaks' founder Julian Assange.
Peter King, the ranking member of the House of Representatives' homeland security committee, urged the US attorney-general to charge the Australian with espionage, saying the latest release "manifests Mr Assange's purposeful intent to damage not only our national interests in fighting the war on terror, but also undermines the very safety of coalition forces in Iraq and Afghanistan".
Mr King also urged the State Department to designate WikiLeaks a "foreign terrorist organisation", saying it "posed a clear and present danger to the national security of the United States".
The White House called the release a "reckless and dangerous action".
Start of sidebar. Skip to end of sidebar.
Related Coverage
Revealed - what the US really thinks The Daily Telegraph, 6 hours ago
WikiLeaks reveal America's secrets Herald Sun, 6 hours ago
Security breach investigation The Daily Telegraph, 6 hours ago
AFP to investigate WikiLeaks Herald Sun, 11 hours ago
WikiLeaks sets off dilpomatic 9/11 The Daily Telegraph, 18 hours ago
End of sidebar. Return to start of sidebar.
"Such disclosures put at risk our diplomats, intelligence professionals and people around the world who come to the US for assistance in promoting democracy and open government," White House press secretary Robert Gibbs said.
Democratic senator John Kerry, the chairman of the foreign relations committee, called the release a "reckless action which jeopardises lives".
"This is not an academic exercise about freedom of information and it is not akin to the release of the Pentagon Papers, which involved an analysis aimed at saving American lives and exposing government deception," he added, referring to a secret history of the Vietnam War leaked in 1971.
Mr Assange wrote to the State Department at the weekend addressing concerns that the release placed individuals at risk, saying "no single individual has ever come to harm as a result of anything we have ever published".
But a report in London's The Daily Telegraph highlights WikiLeaks' failure to protect sources in the latest batch. One cable from the US embassy in Baku, Azerbaijan, reports a tip-off from a businessman about a company supplying equipment to Iran that could be used in nuclear reactor construction. The site has cut the businessman's name, but left in details on his background, education, profession, assets, the fact that he had been a national champion in a sport and the names of two sporting associations in which he had held prominent positions.
The Pentagon said it had taken steps to "prevent further compromise of sensitive data".
AFP
Sunday, November 28, 2010
SUI GIA Của Thủ Vẹm NGUYỄN TUẤN VŨ
LÀ NGUYỄN BANG -GỐC CÔNG CHỨC CAO CẤP VNCH
Tiết lộ dộng trời về chuyện gia đình con rể của Nguyễn Tấn Dũng
Chắc trong chúng ta sẽ có lần thắc mắc sao lại không có mã di động 099 mà chỉ có 090, 091, 092, 093, 094, 095, 096, 097, 098.
Năm trước thấy Bộ Thông Tin Truyền Thông nói hết kho số 09 cho di động nên mới ra kho số 012… Sắp tới mọi người sẽ có câu trả lời vì sẽ thấy một “chú” di động mới ra đời, có dịch vụ di động mang mã số 099-xxx-xxxx.
Nhà cung cấp dịch vụ này mang tên Indochina Telecom. Chắc ai cũng sẽ đang thắc mắc Indochina Telecom của ai mà lại được dành cho mã di động đẹp nhất Việt Nam như thế.
Indochina Telecom được thành lập dưới danh nghĩa của Tổng cục II Bộ Quốc Phòng nhưng nguồn vốn và chi phối thực tế từ ông sui của anh 3 Thủ Tướng – ông Nguyễn Bang (cha của Nguyễn Bảo Hoàng hay Henry) và con rễ của ông ấy (Thomas O’Cornor, tức anh rễ của Hoàng), có sự tham gia của ông Đỗ Trung Tá – nguyên Bộ trưởng Bộ BCVT.
Ngoài ưu tiên được dành mã số đẹp, công ty viễn thông này còn có một đặc tính khác lạ hơn so với các công ty di động khác hiện nay, đó là nó sẽ phải bỏ ra hàng trăm triệu Đô-La để đầu tư nhà trạm phát sóng, máy móc thiết bị đắt tiền tốn kém, mà tất cả các công ty di động của Tập Đoàn Bưu chính Viễn Thông VNPT bao gồm Vinaphone, Mobifone và một phần của Viettel Mobile sẽ phải “phát sóng thay” cho nó. Mà nó cũng chẳng phải bỏ tiền ra mua các sóng này, thay vào đó nó chơi rất “cha” bằng cách khi nào nó bán được dịch vụ, tức là khách hàng 099 mà có gọi và phát sinh doanh thu thì nó ăn chia phần trăm lại cho các công ty di động này. Đúng là một hợp dồng trong mơ cũng không thể có được. Chẳng phải bỏ tiền ra đầu tư ban đầu tốn kém, cũng chẳng phải chịu rủi ro nếu mua sóng theo dung lượng nào đó mà chưa biết bán tới đó hay không. Ấy vậy mà một công ty di dộng có mã đẹp như thế chỉ cần vài chục triệu Đô-La Mỹ là hoạt động được rồi. Dự kiến là siêu lợi nhuận vì di động bình thường (phải đầu tư lớn) đã lời rất nhiều, còn cái này thì chẳng phải đầu tư gì đáng kể.
Mấy chục triệu Đô-La này phía Tổng cục II không phải bỏ ra mà gia đình ông sui anh 3 lo hết. Nhưng trên thực tế, khoản tiền này cũng chẳng phải là tiền túi của gia đình này mà nó có nguồn gốc thật đáng xấu hổ. Những ai đọc các loạt bài ca ngợi phò mã Henry cách đây hơn một tháng trên các báo lề phải thì chắc vẫn còn nhớ các bồi bút nhắc tới VITC là một công ty được vị phò mã (tức là lúc đó chưa phải phò mã) Henry thành lập và phát triển nó lớn mạnh đến mức doanh số cả chục triệu Đô. Doanh số lên cả chục triệu là thật nhưng sự thật đầy đủ thì hãy đọc tiếp dưới đây.
Nguyễn Bang khi mới sang VN móc nối được với Đỗ Trung Tá và mua chuộc tay quan tham này cho một kế hoạch mà nhiều người tin là được toan tính từ đó đến nay. VITC do con rễ của ông Bang là Thomas O’Cornor thành lập, đang buôn linh tinh đủ thứ từ xử lý môi trường, PVC, xuất khẩu ở VN thì đột ngột nhảy vào lĩnh vực viễn thông và có ngay hợp đồng với công ty Viễn thông Quốc tế VTI (trực thuộc VNPT) để chuyển lưu lượng điện thoại từ nước ngoài về VN với trị giá cả triệu Đô-La Mỹ một tháng. Điều kỳ lạ là nếu như các công ty khác làm ăn tương tự với VTI (như AT&T, France Telecom, …) đều phải thanh toán trước thì VITC luôn được thanh toán sau với trị giá có thời điểm lên đến gần 50 triệu Đô. Việc làm ăn này bắt đầu từ 2002 và lúc đó Henry đang làm Giám đốc kinh doanh cho VITC, anh rễ Thomas làm Tổng Giám Đốc, ông bố Nguyễn Bang làm Chủ Tịch. Ai cũng thắc mắc tại sao những tay Việt kiều này lại có thể chiếm dụng một số lượng vốn hàng chục triệu Đô thường xuyên và lâu dài như vậy. Có một số quan chức VNPT muốn đưa vấn đề này ra nhưng đều thất bại vì lúc đó ông Đỗ Trung Tá đã trở thành Bộ Trưởng Bộ BCVT từ cái ghế Chủ Tịch HĐQT VNPT.
Số vốn chiếm dụng này gia đình Nguyễn Bang dùng đầu tư vào chứng khoán, bất động sản và mở một nhà hàng tên Vine ở số 1 Xuân Diệu.
Đến tháng 3/2008 VITC tuyên bố đóng cửa VPĐD tại VN với số nợ VTI lúc đó lên tới 23 triệu Đô-La Mỹ và giải tán toàn bộ nhân viên đang làm việc ở đây. Tuy nhiên sau đó, theo đề nghị của ông Tá và lãnh đạo VTI nên VITC duy trì một văn phòng giả, lẳng lặng chuyển hết máy móc về số 1 Xuân Diệu, cho thiết bị chạy không tải, không có lưu lượng để qua mắt các nhà chức trách để duy trì cái hợp đồng với VTI nhằm chiếm dụng 23 triệu lâu dài.
Kế hoạch của gia đình Nguyễn Bang cấu kết với Đỗ Trung Tá (dù giờ đây không còn làm Bộ Trưởng nhưng vẫn còn ảnh hưởng mạnh trên chính trường, đặc biệt là với ông 3 Dũng) là VTI sẽ xóa nợ 23 triệu này bằng những thủ đoạn như đối soát cước, mua lại cổ phần của VITC bên Mỹ, …
Tuy nhiên việc này đến hiện nay đang gặp phản đối của nhiều người trong VNPT nên đến giờ vẫn không thực hiện được. Nhưng số tiền 23 triệu Đô thì vẫn nằm trong túi gia đình Nguyễn Bang và bây giờ được tiếp tục đầu tư vào Indochina Telecom. Trong quá trình lừa đảo trên, có một số nhân viên VITC, người nước ngoài lẫn người Việt cũng bị gia đình Nguyễn Bang lừa đảo và lợi dụng nên rất bất bình. Họ đang tìm cách đưa vấn đề này ra ánh sáng. Donald Berger (người Canada) đầu tiên hùn hạp với Thomas làm nhà hàng Vine, mới đây bị Thomas hất văng khỏi nhà hàng này. Hay như Larry Grace, một luật sư ở Chicago và là bạn học đại học của Hoàng phò mã, có thời được Thomas (thường gọi là Tom) mời sang tư vấn vụ bán một phần cổ phần của VITC cho VNPT (25%). Tuy nhiên chỉ sau 1 thời gian ngắn làm việc với gia đình này thì Larry phát hiện ngay ra đây là một công ty lừa đảo và ngay lập tức bỏ dở dự án và rút về nước làm Thomas và Hoàng vô cùng cay cú. Larry đã nhận ra bản chất lừa đảo của Tom và gia đình Nguyễn Bang từ rất sớm đã có một lần khởi kiện Tom ở Singapore liên quan đến việc lừa đảo và sử dụng vốn sai mục đích. Tom đã phải tốn khá nhiều tiền để lo lót vụ này êm xuôi. Larry cách đây vài năm đã gửi thư đến VNPT tố cáo bản chất lừa đảo của VITC và dụng ý xấu của Tom nhưng chả ai quan tâm.
Nhưng Larry tuyên bố sẽ không bỏ cuộc trong việc vạch mặt việc chiếm dụng 23 triệu Đô tiền của nhà nước (tức của nhân dân). Tôi tin là câu chuyện này sẽ bị lôi ra ánh sáng, không sớm thì muộn. Anh 4 cũng đã nắm được thông tin này, hy vọng sẽ là một bằng chứng tốt để trừng trị Đỗ Trung Tá – thân tính của anh 3.
Về con rể của Thủ tướng CS Ba Dũng
Rể của Thủ tướng cs là Henry Nguyễn (tên Việt là Hoàng), con trai cưng của Nguyễn Bang, nguyên là 1 thứ trưởng của chính quyền Sài Gòn trước 1975. Cả gia đình Nguyễn Bang đã lên đường rời VN chỉ vài ngày trước 30/4/75 và định cư ở Mỹ ngay sau đó ở bang Chicago.
Chị của Henry là 1 cô gái đẹp và lấy chồng là con trai 1 gia đình tài phiệt Mỹ tên là Thomas Cornor, kể từ đó gia đình Nguyễn Bang và Henry Nguyễn tham gia vào nhóm tài phiệt này. Anh rể Henry là Thomas sau đó lập một công ty viễn thông để làm ăn với VN mang tên VITC từ năm 2002, quan hệ móc nối rất chặt với các quan chức bộ Bưu chính Viễn thông (nay là Thông tin Truyền thông) và tập đoàn VNPT. Lúc đó Nguyễn Bang là Chủ tịch VITC, Thomas Cornor là Tổng giam đốc còn Henry làm Giám đốc kinh doanh. Ngay từ những ngày đầu vào VN làm ăn, gia đình này đã đặt mục tiêu phải tiếp cận, móc nối và cấu kết với các quan chức cấp cao nhất của Chính phủ VN. Sau đó, cách đây gần 3 năm, Henry bỗng dưng nổi lên làm Tổng Giám đốc quỹ đầu tư IDG Venture tại VN với số vốn 100 triệu USD (mới tăng thêm 200 triệu).
Điều này là người ta đồn đoán rằng tiền này thực chất dến từ gia đình Cornor và Nguyễn Bang dù rằng nó mang danh nghĩa của IDG. Cũng có thể IDG huy động vốn từ gia đình Henry cho việc đầu tư tại VN. Quỹ này chuyên đầu tư mua các công ty tại VN và có quan hệ làm ăn rất chặt chẽ với quỹ Viet Capital do cô Phượng, con gái của Thủ tướng làm chủ. Kết quả cuối cùng của sự phối hợp này thì giờ các bạn biết rồi, Herny và Phương vừa cưới nhau.
Sau khi làm thông gia với Thủ tướng, gia đình Nguyễn Bang lại được chấp thêm cánh, trở thành một thế lực mạnh trong giới tài phiệt Mỹ làm ăn tại VN. Ông ta đang liên tục “rao giảng” lợi thế này bên Mỹ.Về phía Thủ tướng, chắc ông ta cũng cần cuộc hôn nhân này để củng cố cho thế lực của mình, nhưng điều này đang trở thành vấn đề mà các đối thủ trong nội bộ của ông chơi lại ông.
Theo một qui định lâu đời của Đảng, Đảng viên không được phép cho con kết hôn với những gia đình có dính trực hệ 3 đời đến ngụy quyền. Qui định này gần đây trở nên mờ nhạt và ít ai tuân thủ nhưng vẫn chưa có quyết định nào xóa bỏ giá trị của nó. Do vậy việc con gái mình lấy con trai 1 cựu quan chức cao cấp của ngụy quyền đang trở thành 1 nguy cơ tấn công vào Thủ Tướng. Hiện nay chưa nổi lên các chiến dịch tấn công rõ ràng nhưng dư luận ngầm bên trong đang phát triển, chưa biết sẽ diễn tiến thế nào./-
Bầu cử ở Melbourne
CUỐI CÙNG ELIZABETH MILLER
SẼ LÀ NGƯỜI QUYẾT ĐỊNH VẬN MẠNG CỦA TED BAILLIEU
Liberal latecomer could tip Coalition into power for Victoria
Stephen Lunn and Milanda Rout
From: The Australian
November 29, 2010 12:00AM
Source: The Australian
Less than two months after being chosen for Bentleigh, Elizabeth Miller is set to become the woman who delivered government to the Liberals.
The former nurse holds a 423-vote lead in the southeast Melbourne seat, although neither side is yet willing to claim or concede the outcome until postal and absentee votes are counted today.
But sitting member Rob Hudson had all but given up hope last night, with 96 per cent of the vote counted. "The results still have to be verified, but the situation is certainly not promising," he told The Australian.
With the Victorian Election Commission counting 3225 pre-poll votes yesterday afternoon, Ms Miller's narrow 210-vote election-night lead doubled, but Mr Hudson said the VEC had been unable to tell him how many postal and absentee votes still remained to be counted.
Before the VEC decided to count Bentleigh's pre-poll votes yesterday, Ms Miller told The Australian she was thrilled with the unexpectedly strong result, having wiped out a 6.2 per cent margin.
Start of sidebar. Skip to end of sidebar.
Related Coverage
Liberals wrestle power in Victoria Adelaide Now, 5 hours ago
Ted Baillieu turns up an election winner The Australian, 6 hours ago
Bentleigh fast-track suits Libs Herald Sun, 6 hours ago
Early birds crucial to result The Australian, 6 hours ago
Baillieu set to take power The Australian, 6 hours ago
End of sidebar. Return to start of sidebar.
"I thought it was a tall order, and many thought I couldn't do it, but I knew if I worked hard I could," she said. "It's fantastic."
Ms Miller said she hit the streets as soon as she was preselected in October, door-knocking thousands of people, meeting and greeting at railway stations in the electorate and attending community functions.
"In the last month, that's when I noticed a real difference in people on the street, because they started to recognise me and know who I was," she said.
She said the community had grown tired of the Brumby government on issues such as health, law and order and transport.
While Labor leader John Brumby was still putting the pivotal seat "most likely" in Labor's win column yesterday to tie the election 44-all, Mr Hudson, looking increasingly like the last man standing between Ted Baillieu and a famous election victory, was far less confident. "We're still in there with a chance, but it's going to be tough. I'd rather be in front than behind," Mr Hudson said.
Whatever the outcome, he said, the fight would not end there. "I would imagine there will be a recount, because there's been a whole lot of issues we've raised with the VEC in the count that we'd like to see dealt with by the senior electoral commissioner."
Asked whether he was alleging irregularities in the count, he said he wanted some of the rulings made by electoral officers on the night to be reviewed. "We believe there are a number of votes . . . that need to be reconsidered as formal votes (for Labor)," he said.
Mr Hudson, 54, a former adviser to former premier Steve Bracks and once director of the Victorian Council of Social Service, was swept into the seat in 2002 in the Bracks-slide election. He said that Bentleigh had a tradition of swinging with the change of government, and blamed general fatigue with the 11-year-old Labor administration and a range of seat-specific issues for the swing that had wiped out his 6.2 per cent margin.
"This is a big commuting suburb, and while transport has improved in recent months it has has been the source of frustration for commuters. It's been a major headache," he said. "Allied to that was the issue of perceptions of safety on trains . . . a flashpoint for people's anxiety."
Small business owner Elaine Longhurst, whose bakery in the middle of the Bentleigh electorate has been a family-owned business since 1852, said she was excited by the possibility of a change in government after 11 years.
Ms Longhurst, 63, said Mr Baillieu, who had spent much of one Saturday late in the campaign in Bentleigh talking to local traders, would bring some "much-needed stability" to parliament.
"They try to paint him as Ted the Toff, but he certainly doesn't come across that way in my view," she said. "When you've got a mother-in-law who votes against you, it shows you are really committed to your beliefs, and full credit to him for that."./-
Saturday, November 27, 2010
Một trận đánh 56 năm trước ở ĐÈO MANG GIANG
Nguyễn Ðạt Thịnh
Tưởng nhớ những ngày gian nan chiến đấu bảo vệ quê hương, nhiều bạn đồng ngũ của tôi, những người đã từng chiến đấu lâu năm trên chiến trường Cao Nguyên Miền Nam, lập ra mạng pleikuphonui. Họ nhận diện ra tôi cũng đã có lần làm “công dân” Pleiku và yêu cầu tôi viết về một kỷ niệm trên chiến trường Cao Nguyên.
Cô Thu Ðào, nguyên nữ sinh trung học PleiMe, bảo tôi, “Anh chứng kiến trận đánh PleiMe mà sau này trường em học mang tên; viết về trận PleiMe đi anh.”
Dĩ nhiên tôi có chứng kiến trận PleiMe với tư cách một phóng viên chiến trường, và ngày đó tôi đã viết về PleiMe trên Chiến Sĩ Cộng Hòa, tờ báo chính thức của Quân Ðội VNCH, nhưng tôi không muốn viết lại thêm một lần nữa trận đánh mà tôi chỉ chứng kiến. Tôi muốn viết về một trận đánh trên Cao Nguyên mà tôi đã thật sự tham dự: trận phục kích trên đèo Mang Yang năm 1954, một trận đánh 56 năm về trước.
Trận phục kích trên đèo Mang Yang
Trận phục kích khiếp đảm này xẩy ra vào ngày 24 tháng Sáu 1954, ngày tôi vừa tròn 23 tuổi đời; mang cấp bực trung úy, chỉ huy một đại đội thuộc Tiểu Ðoàn 9 Sơn Cước, tiểu đoàn hoàn toàn Việt Nam đầu tiên trên Ðệ Tứ Quân Khu (lãnh thổ sau này được tái mệnh danh là Quân Khu II).
Anh Bùi Quyền bảo tôi là khóa học của anh tại trường Võ Bị Quốc Gia có giảng dạy về trận Mang Yang.
Có thể nói trận phục kích này là trận giao tranh quyết liệt cuối cùng trên chiến trường Việt Nam , giai đoạn thứ nhất – 1945-1954.
Ðơn vị bị phục kích gồm có Lực Lượng Lưu Ðộng 100 của Pháp và tiểu đoàn khinh quân 520, tiểu đoàn trưởng là thiếu tá Nguyễn Bính Thinh, thường viết văn ký tên An Khê. Tiểu đoàn 9 Sơn Cước, đơn vị tôi phục vụ, giữ trọng trách đoạn hậu và ở lại phòng vệ An Khê. Tiểu đoàn trưởng của chúng tôi là đại úy Nguyễn Văn Phước, sau này làm trưởng phòng Nhì bộ Tổng Tham Mưu và tử nạn trực thăng.
Ðược coi là một đơn vị có thành tích chiến đấu lẫy lừng trên một chiến trường mang tính quốc tế vì sự có mặt của quân đội hầu hết các quốc gia trên thế giới, Lữ Ðoàn 100 gồm 2 tiểu đoàn Korea 1 và Korea 2, hai đơn vị đã chiến đấu oai dũng trong những trận giao tranh với chí nguyện quân Trung Cộng tại Chipyong-ni, tại Wonju và tại đỉnh Arrowhead Ridge.
Ðến chiến trường Việt Nam, và để trở thành một lực lượng cấp Lữ Ðoàn, cánh quân từ Triều Tiên đến được tăng cường bằng lực lượng “commando Bergerol”, trung đoàn 10 pháo binh thuộc địa, tiểu đoàn lưu động 43 bộ binh thuộc địa, và chi đoàn 3 thiết kỵ.
Một tuần lễ trước khi trận “đèo Mang Yang” xẩy ra, tôi có duyên được gặp đại tá Barrou (tôi không tìm được first name của ông ta), tư lệnh Lũ Ðoàn 100, tại cây số 16 trên đường thuộc địa 19 (sau này là quốc lộ 19).
Ðại đội tôi có nhiệm vụ mở đường 19 từ An Khê ra đến một địa điểm nào đó, càng xa càng tốt, cho đến thời điểm chúng tôi “bắt tay” được với Lữ Ðoàn 100, từ Pleiku đổ xuống.
Sơ đồ đường 19, từ Pleiku đổ xuống Quy Nhơn, An Khê nằm đúng chính giữa - trên cây số 90, tính từ Pleiku xuống hay tính từ Quy Nhơn lên. GM 100 bị phục kích tại cây số 15.
Ðèo Mang Yang, địa hình lý tưởng cho một cuộc phục kích
Cái “bắt tay” không mấy thân thiện
Ngay khi tôi vẫy tay ra hiệu cho đoàn công voa của Lữ đoàn 100 ngừng lại, thì một anh Tây khoảng 40 tuổi từ trên chiếc command car (loại xe jeep lớn) bước xuống. Anh cổi trần, hông đeo khẩu Colt 12 (giống khẩu súng tôi đang đeo), đến đứng trước mặt tôi, xấc xược hỏi: “Tu es un lieutenant?” (mày là trung úy phải không?) Anh ta biết cấp bực của tôi, vì tôi mang hai con đỉa trên nắp túi áo. Ngày đó quân đội quốc gia Việt Nam còn dùng lon Pháp.
Hắn không đeo lon, nhưng chỉ riêng việc hắn ngồi xe command car với 4, 5 cây ăng ten chi chit cũng đủ để tôi đoán hắn là một sĩ quan cao cấp; nhưng đã không đeo lon, hắn lại ăn nói xấc xược (tutoyer) giúp tôi có quyền xấc xược lại. Tôi bảo hắn, “Oui. Et toi?” (Tao là trung úy, đúng rồi. Còn mày là gì?)
Barrou cười xoà đưa tay vừa bắt tay tôi vừa tự giới thiệu, “Colonel Barrou”.
Tôi giải thích cho Barrou hiểu trên 16 cây số đường vào đến An Khê, đoàn công voa sẽ gặp khoảng 40 trái mìn, mỗi trái tôi đều cắm một cây cờ đỏ và đặt trên đó một nhánh cây lớn.
“40?”
“Trên hay dưới chút đỉnh,” tôi xác nhận.
“Sao anh không gỡ mà chỉ đánh dấu chỗ chôn mìn?”
“Tôi cần khoảng 15 phút để gỡ mỗi quả mìn, nếu tôi làm công tác gỡ mìn thì giờ này tôi chỉ ra khỏi An Khê khoảng 3 cây số.”
Sau này tôi mới hiểu con số 40 quả mìn làm Barrou kinh hãi: trước khi “bắt tay” với tôi, ông đã bị 2 quả mìn tại PK 22, và “ăn” thêm 3 trái SKZ tại khúc quanh gấp được gọi là “cùi chỏ Tử Thần”, bỏ lại đèo Mang Yang 6 quân xa bị bắn hư hỏng, và chở theo trên 20 thương binh, tử sĩ.
“Anh làm như vậy là rất đúng. Giờ này, anh lên xe đầu hướng dẫn đoàn công voa tránh mìn,” Barrou bảo tôi, ông có vẻ hài lòng vì tôi đã đi qua, và biết rõ đoạn đường đoàn công voa sắp phải lăn bánh vào.
“Tại mỗi chỗ có chôn mìn tôi đều đặt một tiểu tổ ở lại đó, không cho Việt Cộng ra gỡ mìn, gài lại. Tôi sẽ cắt một sĩ quan trong đại đội tôi lên xe hướng dẫn công voa; tôi ở lại đây, chỉ huy cuộc hành quân bảo vệ đường giao thông cho đến khi chiếc xe chót của đoàn công voa vượt qua địa điểm này.”
“Cũng được,” viên đại tá Pháp có vẻ hài lòng, trèo lên xe, trong lúc tôi cắt thiếu úy Ðào, trung đội trưởng trung đội 1 của đại đội tôi lên chiếc xe đầu đoàn công voa để hướng dẫn. Ðào là sĩ quan trừ bị, trình độ đại học, nói tiếng Pháp giỏi nên việc hướng dẫn một đoàn công voa Tây –công voa của Lữ Ðoàn 100- về An Khê rất xuông sẻ.
Ðại tá Barrou quen lối đánh trận địa chiến trên chiến trường Triều Tiên, có vẽ lọng cọng với tình hình chiến trường mới, chỗ nào cũng có mìn, chỗ nào cũng có địch; có thể ông thấy thiếu, và thèm thuồng một chiến tuyến rõ rệt: bên này là ta, bên kia là địch.
Công việc mở đường nguy hiểm và không lần nào tránh khỏi tổn thất, nhưng đó lại là việc chúng tôi thường xuyên phải làm. Hai tuần một lần chúng tôi mở đường để công voa dân sự đưa tiếp tế từ Pleiku lên An Khê. Công việc nguy hiểm, nhưng cũng đã quen nên chúng tôi biết cách giảm thiểu tổn thất.
Chúng tôi không ngờ nghệch đưa ngực ra cho địch ẩn núp hai bên lề đường bắn sẻ; chúng tôi lại còn tiên hạ thủ -đánh địch trước- để tranh thế thượng phong.
Một vài tiên liệu nho nhỏ giúp chúng tôi tránh được nhiều mánh khóe của địch. Chúng biết hai ngày thứ Năm đầu tháng và giữa tháng là hai ngày chúng tôi đón đoàn xe tiếp tế trên đường 19.
Khuya thứ Năm, vài tiếng đồng hồ trước khi chúng tôi hành quân mở đường, chúng gài mìn cá nhân, bố trí xạ thủ bắn sẻ trên những con đường mòn dài theo hai bên đường, vì chúng biết, toàn bộ lực lượng chúng tôi không đi cả trên mặt đường mà chia thành 3 cánh, chỉ một cánh có trách nhiệm rà mìn đi giữa đường, hai cánh khác đi theo hai con đường song song với đường cái.
Sáng thứ Tư, tôi thường gửi vài toán biệt kích lẻn vào rừng, phục kích, gài mìn, trên những con đường mòn từ mật khu của chúng đổ ra đường 19. Chúng không cho đoàn xe tiếp tế tiến vào An Khê bằng đường 19, chúng tôi cũng không cho chúng đến gần đường 19. Do đó đi gài mìn, chúng lại thường vấp mìn và bị phục kích trước.
Biện pháp phục kích đánh phục binh địch giúp chúng tôi dành quyền tạo bất an cho chúng trên đường chúng di chuyển; võ “gậy ông đập lưng ông” khiến hoạt động gài mìn của địch trên đường 19 giảm đi nhiều.
Nhưng hôm nay hoạt động của chúng gia tăng rõ rệt: chắc chắn cũng được tin Lữ Ðoàn 100 vào chiến trường, chúng vận dụng một lực lượng lớn hơn thường khi để dàn chào những người mới đến. Ðêm hôm trước 4 toán biệt kích tôi gửi đi phục trên đường di chuyển của địch, đều đụng độ với những toán đánh mìn đổ ra đường 19; vậy mà suốt buổi sáng nay chúng tôi vẫn còn bận rộn với 14 toán đánh mìn chống chiến xa, kích hỏa bằng điện trở, không kể những quả mìn chống cá nhân, và mìn định hướng.
Dồn nỗ lực vào việc khiêng vác mìn, bọn đặc công đánh mìn không được võ trang đủ mạnh để giao tranh, nhưng chúng tôi cũng bị tổn thất khá nặng, vì mìn, bẫy của chúng. Tôi trình bầy với Barrou là tôi có nhu cầu tản thương 16 người lính đã được băng bó tạm, và 10 quân nhân tử trận, yêu cầu ông cho 3 chiếc xe tản thương lên đầu đoàn xe để giúp chúng tôi đưa thương binh về An Khê.
Chỉ sau này, chiến trường Việt Nam mới có trực thăng, ngày đó việc tản thương vô cùng khó khăn, và những người bị thương nặng ít hy vọng được cứu sống.
Barrou cho tôi biết những chiếc xe cứu thương của ông cũng đã đầy thương binh vì hai trận phục kích trước, và bảo tôi đưa thương binh lên bất cứ quân xa nào còn chỗ trống.
Trước khi gặp toán mở đường chúng tôi, đoàn xe của GM 100 cũng đã đụng trận 2 lần, mỗi lần họ tốn hai tiếng đồng hồ và một số thương vong, nên Barrou tỏ ra phấn khởi được chúng tôi đón ở PK 16, tính từ An Khê ra.
Ðoàn công voa ầm ầm chuyển bánh, nhưng lại êm ái trườn đi, không một tiếng mìn, không một tiếng súng; bẩy giờ tối hôm đó, chiếc xe cuối cùng vượt qua cứ điểm chúng tôi trấn giữ trên đường 19. Tôi gọi tiểu đoàn báo cáo công tác hoàn tất, và đề nghị với tiểu đoàn trưởng là chúng tôi không rút trở về An Khê, mà nằm lại tại chỗ, để tránh nguy hiểm trong cuộc rút quân đêm.
Ðại úy Phước đồng ý; tôi xin ông cho toán quân y tiểu đoàn đón những thương binh và tử sĩ của đại đội tôi được đoàn công voa Pháp đưa về An Khê.
Thiếu úy Khỏe, đại đội phó hỏi tôi về bữa ăn tối của binh sĩ.
“Ăn lương khô dằn bụng,” tôi ra lệnh. “Tuyệt đối không củi lửa. Mỗi trung đội giữ thế phục kích ngay tại chỗ mình đang chiếm lãnh.” Tôi chủ trương giữ lợi thế của lực lượng không di động đêm, nhường cho địch việc làm nguy hiểm này.
Ðêm hôm đó trung đội 2 của thiếu úy Tự bắn hạ 3 anh du kích mò ra đường cái thám thính.
Tôi mừng vì suốt đêm đại đội không tổn thất thêm sau khi đã tổn thất khá nặng để giải tỏa 16 cây số đường 19. Sáng hôm sau, đại đội 4 được gửi ra đón chúng tôi; có lẽ tiểu đoàn sợ sau khi tổn thất đến gần 1/4 quân số, chúng tôi không còn tự lực mở đường trở về được. Ðiều đó có thể xẩy ra nếu tôi vội về ngay đêm hôm trước.
Trưa hôm sau, chưa về đến An Khê, tôi đã nhận được lệnh đưa đại đội lên tăng cường cứ điểm Núi Nhọn, một ngọn núi nằm cách An Khê khoảng 6 cây số trên đường 19 hướng đổ xuống Quy Nhơn.
Thường khi Núi Nhọn chi do một trung đội trấn thủ; để thiếu úy đại đội phó hướng dẫn đơn vị đến vị trí mới, tôi vào phòng hành quân dự phiên họp giữa lực lượng trú phòng An Khê và GM 100.
Trong buổi họp hành quân tôi được biết Lữ Ðoàn 100 nhận trọng trách đổ xuống duyên hải bằng đường 19 để tấn công Liên Khu 5 của Việt Cộng, họ đóng vai mũi dùi tấn công thứ nhì, phối hợp với lực lượng đổ bộ đã vào Quy Nhơn trước đó.
Ðại đội tôi được đưa lên tăng cường căn cứ Núi Nhọn, trong dụng ý yểm trợ cuộc tiến quân của GM 100. Vai trò yểm trợ được quan niệm máy móc, vì ngoại trừ những quân nhân Pháp thuộc GM 100 mới vào chiến truờng, toàn thể sĩ quan trong phòng họp đều hiểu Núi Nhọn không có khả năng yểm trợ bất cứ một đơn vị bạn nào hành quân cách đỉnh núi 6 cây số. Hoả lực pháo binh của Núi Nhọn là một khẩu đại bác 75 ly của Pháp, loại cũ kỹ đã bị phế thải từ sau Thế Chiến II. Chúng tôi quen gọi nó bằng cái tên Tây của nó là canon soixante quinze, nó ngồi trên hai vỏ xe bơm, một đã xẹp từ nhiều năm nay.
Một chiến cụ cổ lỗ nữa của Núi Nhọn là cái ống dòm thu ngắn 16 lần được đặt trên giá 3 chân, một trong 2 ống nhắm bị mảnh đại bác địch phá vỡ, nhưng mắt thứ nhì vẫn tốt.
Sau khi nghe thuyết trình, tôi thấy lo ngại về cuộc tiến quân của GM 100 xuống duyên hải, tôi góp ý là con đường 19 khúc giữa An Khê và Quy Nhơn đã bỏ hoang phế từ nhiều năm nay, chắc chắn sẽ không thuận lợi cho việc chuyển vận những quân cụ nặng, như thiết giáp, pháo binh. GM 100 có 12 chiếc thiết giáp của trung đoàn 5 thiết kỵ và 12 khẩu 105 ly của trung đoàn 10 pháo binh thuộc địa, cộng thêm một số quân xa khoảng trên 200 chiếc. Tôi trình bày là ngoại trừ những quân xa nhẹ như jeep và dodge 4x 4, không chiếc nào qua cầu được.
Thổ công binh sửa một cây cầu trên đường 19
Buổi họp hành quân, nói là để phối hợp giữa lực lượng lưu động GM 100 với lực lượng địa phương gồm tiểu đoàn 9 sơn cước và tiểu đoàn 520 khinh quân, không đạt được một kết quả cụ thể nào.
Chúng tôi cho người Pháp biết tình hình địa phương, nhưng các sĩ quan Pháp coi thường ý kiến của sĩ quan Việt Nam, nhất là đại tá Barrou, người đang chỉ huy một lực lượng mạnh gấp 3 lần lực lượng Việt Nam trấn đóng tại An Khê.
Họp xong, tôi vội vàng ra xe định đi về căn cứ Núi Nhọn để xem cách bố trí địa điểm từ giờ này sẽ là trách nhiệm của tôi.
Thiếu úy Tự chờ tôi ngoài xe và báo cáo cho tôi biết là ống dòm “một mắt” ghi nhận nhiều vận chuyển đạn dược của địch đến cây cầu gẫy An Túc, trên đường 19, cách Núi Nhọn khoảng 5 cây số. Tự nói trong 5 tiếng đồng hồ chót, quan sát viên ghi nhận 21 chuyến molotova đổ đạn xuống đầu cầu.
Tôi chưa kịp có phản ứng gì thì một câu hỏi từ đằng sau vọng tới, “Qu’est ce qu’il te raconte?”
Người hỏi là thiếu tá Muller, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 43 lưu động của Pháp. Anh ta ngồi cạnh tôi trong buổi họp tham mưu. Muller đã sống trên chiến trường Việt Nam khá lâu; so với những sĩ quan Pháp thuộc trung đoàn Triều Tiên, anh tỏ ra hiểu biết hơn.
Tôi kể lại những điều Tự báo cáo với tôi, lấy bản đồ ra vạch đỏ địa điểm địch đang đổ đạn xuống, rồi bảo anh, “trong tiểu khu An Khê chỉ riêng mình tôi có khẩu đại bác 75 ly có thể bắn tới cây cầu này. Ngoài ra trọng pháo của An Khê chỉ có đến súng cối 81, vói không tới.”
“Anh muốn sử dụng những khẩu 105 của Lữ Ðoàn?”
“Tôi không nghĩ là mình có sự lựa chọn nào khác.”
Tối hôm đó căn cứ Núi Nhọn được tăng cường một toán DLA (detachement de liaison d’artillerie) của GM 100. Một pháo đội 4 cây 105 bắn phá đống thùng đạn được xe Molotova chở đến đổ bên kia cầu.
Sáng hôm sau, Miller rủ tôi ra xem hiện trường; ngoài những thùng đạn cho súng trường, trung và tiểu liên tôi thấy nhiều thùng mìn, và đạn súng không giật. Tôi bảo anh ta, “Chúng chuẩn bị phục kích cuộc di chuyển của Lữ Ðoàn xuống Quy Nhơn.” Muller gật gù; anh hiểu là tôi nhận xét đúng. Mìn và súng không giật là lợi khí cho những cuộc phục kích đánh công voa.
Tối hôm đó, đại úy Phước gọi tôi về ăn cơm chiều tại câu lạc bộ sĩ quan. Tôi ngồi cùng bàn với ổng và những đại đội trưởng thâm niên như Văn Bá Ninh, Nguyễn Khắc Tuân. Phước cười hỏi tôi, “Anh hù tụi Tây kí gì mà tôi thấy tụi nó có vẻ không tính đổ xuống Quy Nhơn nữa.”
Tôi kể lại cuộc pháo kích của GM 100 vào kho đạn lộ thiên của Việt Cộng bên đầu cầu An Túc.
Tuân bảo tôi, “Mày làm phước cho tụi nó đó, chứ vượt cầu An Túc là không còn thằng nào trở về An Khê được.”
Ninh, “Dỡn hoài. Tuần nào tôi không vượt cầu An Túc, tuần trước tôi còn vào quậy trong K’Nack mà cũng chỉ vướng 2 con vì mìn.”
Chiến trường Cao Nguyên thật khó nói. Cả hai anh Tuân và anh Ninh đều đúng: GM 100 vượt cầu An Túc trực chỉ Qui Nhơn, thì quả là không còn một hy vọng nhỏ nào có thể quay trở về An Khê. Họ sẽ bị đánh tan trên những đoạn đường đồi gần Bình Ðịnh. Nhưng Ninh cũng không sai, anh từng đi săn nai trong những khu Việt Cộng gọi là khu giải phóng.
Chúng tôi thảo luận về chuyện đi hay không đi Qui Nhơn của Lữ Ðoàn 100, tôi nêu lên nhận xét, “Nếu muốn đón đánh Lữ Ðoàn 100 trên đường đổ xuống Quy Nhơn, thì Việt Cộng đã không cần đổ đạn ở đầu cầu An Túc.”
Ninh đặt dao, nĩa xuống bàn hơi vội, để có hai bàn tay trống vỗ vào nhau, rồi nói như thét lên, “Mày thấy đúng. Thằng Việt Cộng mưu đồ chuyện gì khác chứ không phải chuyện đón đánh GM 100 đổ xuống Qui Nhơn.”
Trong lúc chúng tôi đoán mò, thì thiếu tướng De Beaufort, tư lệnh Quân Khu IV ra lệnh cho Lữ Ðoàn 100 rút trở về Pleiku. Phòng nhì quân khu báo cáo với ông ý đồ của địch là bỏ trống Liên Khu 5, kéo đại quân của chúng lên bao vây An Khê để tái diễn một Ðiện Biên Phủ khác.
Từ đoạn này trở đi, tôi viết theo tài liệu quân sử, vì Tiểu Ðoàn 9 Sơn Cước bị bỏ lại phòng thủ An Khê, tôi không tham dự và cũng không tận mắt chứng kiến cuộc phục kích Mang Yang ngày 24 tháng Sáu 1954.
Ðại tá Barrou đi trên một chiếc jeep mui trần, theo sau một chi đội thiết kỵ gồm 3 chiếc half-trucks, loại xe bọc sắt có thùng trống phía sau, và 2 chiếc M- 8, loại chiến xa nhẹ. Không yểm chỉ gồm 2 chiếc thám thính cơ nhỏ lượn quanh đoàn công voa.
chiến xa M-8 và loại halftruck sử dụng trên chiến trường Việt Nam trước năm 1954
Ðúng 14 giờ 15, Barrou nhận thấy có dấu hiệu xáo trộn, đoàn xe mở đầu công voa chạy nhanh hơn, ông gọi điện ra lệnh giữ tốc độ bình thường. Chưa kịp buông ống nói xuống thì Barrou đã nghe tiếng đại liên, lựu đạn, và súng không giật nổ dài theo đoàn công voa.
Chỉ trong 4 phút ngắn ngủi, chi đội thiết kỵ bị tiêu diệt trước mắt ông: toàn bộ 3 chiếc halftrucks và một chiếc M- 8 bốc cháy dữ dội.
Lúc đó ông còn ở cây số thứ 15, một cây số sâu vào vùng an toàn tôi đón ông tuần trước.
14 giờ 25, một trái 57 không giật bắn nổ tung chiếc dodge 4x4 truyền tin bên cạnh Barrou, tước mất phương tiện chỉ huy bằng vô tuyến của ông.
Chỉ còn khẩu lệnh để chỉ huy người sĩ quan đứng gần ông nhất, Barrou bảo đại úy Fievet, đại đội trưởng Tổng Hành Dinh của Lữ Ðoàn tập trung lực lượng để phản công. Nhưng ông chưa nói dứt câu thì một viên đạn trúng đùi đã đẩy ông ngã chúi vào rãnh thoát nước bên đường 19; Fievet bị thương nặng hơn, nằm cạnh ông, và Barrou chứng kiến vị sĩ quan này tắt thở.
Trung tá Lajouanie, trung đoàn trưởng trung đoàn Triều Tiên đưa quân lên tấn công ngọn đồi từ đó xuất phát hỏa lực phục kích; ông sử dụng chiếc M- 8 cuối cùng trong cố gắng tuyệt vọng này; binh sĩ Pháp tiến sau chiếc thiết giáp, nhưng ngay sau khi chiếc M- 8 bị bắn cháy, lực lượng đánh lên đồi, mất chỗ núp, bị khẩu đại liên bố trí giữa lưng đồi thanh toán. Trung tá Lajounie gục ngã.
Barrou cố bò đến chiến M- 8 thứ nhì bị bắn cháy nhưng khẩu đại liên vẫn còn nguyên vẹn; có lẽ ông muốn sử dụng hỏa lực này để bắn trả lại địch, nhưng ông vừa lên đến pháo tháp thì một tràng đại liên đã quạt ông ngã trở xuống mặt đường.
Một quân nhân thuộc tiểu đoàn 43 lưu động cõng ông về xe cứu thương của tiểu đoàn rồi bỏ đó, anh ta không biết ông là tư lệnh lữ đoàn. Thiếu tá Muller bận rộn bố trí tiểu đoàn ông chống lại lực lượng phục kích.
Hai chiếc quân xa của tiểu đoàn 43 chạy thoát đến đồn PK 22 cầu cứu, nhưng chỉ do một đại đội trấn đóng, đồn này cũng không có khả năng tiếp viện. Ðồn trưởng gọi về Pleiku báo cáo.
Tiểu Ðoàn 520 Khinh Quân cũng tổn thất nặng nề, nhưng tài liệu khinh bạc của Pháp ghi nhận là binh sĩ Việt Nam bỏ chạy vào rừng để thoát thân.
Thiếu tá Kleinmann, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2 Triều Tiên bố trí lực lượng quanh những chiếc xe còn ngùn ngụt cháy để chống lại cuộc xung phong của Việt Cộng. Ông sử dụng pháo binh, bắn trực xạ vào lực lượng địch, khiến áp lực địch giảm bớt.
16 giờ 20 bốn chiếc B- 26 của không quân bay đến trợ chiến. Quân Pháp lên tinh thần nhưng hai chiến tuyến đã quá gần nhau, nên hoả lực không yểm giết cả lính Pháp lẫn Việt Cộng.
Sự can thiệp của không quân không chặn đứng được cuộc tấn công, mà còn khiến lực lượng Việt Cộng cố gắng xung phong vào gần hơn để phi công không dám sử dụng bom, vì sợ giết quân Pháp.
Tư lệnh quân khu đưa GM 42 tiến về đồn PK 22, và ra lệnh cho thiếu tá Kleinmann chạy bộ về PK 22 để “bắt tay” với GM 42; Kleimann thảo luận với thiếu tá Guinard, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2 Triều Tiên, và thiếu tá y sĩ Varme-Janville.
Họ quyết định rời mặt đường, băng rừng để tiến về đồn PK 22. Janville hỏi 2 tiểu đoàn trưởng về số phận của những thương binh. Guinard nói không thể khiêng họ băng rừng được, Janville bảo họ, “Hai anh đi may mắn; tôi ở lại với thương binh.”
PK 15 trở thành mồ chôn của Lữ Ðoàn Triều Tiên. Ba tiểu đoàn 43, 1 và 2 Triều Tiên vào An Khê với quân số lý thuyết đầy đủ 834 quân nhân, giờ này tiểu đoàn 43 còn 452, tiểu đoàn 1 Triều Tiên còn 497, và tiểu đoàn 2 Triều Tiên còn 345.
Lữ Ðoàn mất 85% xe cơ hữu, 100% đại bác, 68% dụng cụ truyền tin, và 50% vũ khí cá nhân, đại, trung liên. Lữ Ðoàn Trưởng, đại tá Barrou, bị thương và bị bắt làm tù binh.
Ðoạn đầu của bài báo, tôi viết căn cứ trên trí nhớ, chắc chắn không thể tránh được nhiều thiếu xót, sai lầm, xin bạn đọc điểm khuyết cho. Ngoài mục đích làm vui những người bạn Phố Núi Pleiku, tôi còn mang một hy vọng nhỏ nữa là nguời bạn văn của tôi, anh An Khê-Nguyễn Bính Thinh, đọc về trận đánh thê lương này và liên lạc với tôi.
Nguyễn Ðạt Thịnh
Bấm chữ "Older Posts" trên đây để xem tiếp .... Dưới Là Bài Cũ Theo Từng Tháng.
-
►
2006
(249)
- Jun 2006 (13)
- Jul 2006 (51)
- Aug 2006 (36)
- Sep 2006 (32)
- Oct 2006 (33)
- Nov 2006 (37)
- Dec 2006 (47)
-
►
2007
(2315)
- Jan 2007 (66)
- Feb 2007 (62)
- Mar 2007 (54)
- Apr 2007 (95)
- May 2007 (123)
- Jun 2007 (192)
- Jul 2007 (249)
- Aug 2007 (204)
- Sep 2007 (255)
- Oct 2007 (329)
- Nov 2007 (361)
- Dec 2007 (325)
-
►
2008
(3206)
- Jan 2008 (228)
- Feb 2008 (204)
- Mar 2008 (273)
- Apr 2008 (328)
- May 2008 (304)
- Jun 2008 (312)
- Jul 2008 (258)
- Aug 2008 (310)
- Sep 2008 (290)
- Oct 2008 (256)
- Nov 2008 (218)
- Dec 2008 (225)
-
►
2009
(1551)
- Jan 2009 (152)
- Feb 2009 (126)
- Mar 2009 (139)
- Apr 2009 (148)
- May 2009 (183)
- Jun 2009 (164)
- Jul 2009 (145)
- Aug 2009 (100)
- Sep 2009 (102)
- Oct 2009 (117)
- Nov 2009 (94)
- Dec 2009 (81)
-
▼
2010
(1605)
- Jan 2010 (111)
- Feb 2010 (115)
- Mar 2010 (122)
- Apr 2010 (132)
- May 2010 (146)
- Jun 2010 (129)
- Jul 2010 (191)
- Aug 2010 (147)
- Sep 2010 (125)
- Oct 2010 (133)
- Nov 2010 (131)
- Dec 2010 (123)





