Mt68
TRẢ LỜI 1 SƠN TRẦN "PHỎNG LỬA" NÀO ĐÂY ???
From:
"mau than68"
To:
DienDanCongLuan@yahoogroups.com
THƯA ÔNG SƠN TRẦN;
ÔNG CÓ ĐỌC CÁC TÀI LIỆU LIÊN QUAN CHƯA ??? SAO ĐÃ VỘI VẬY ??? CHƯA ĐỌC SAO ÔNG NHẢY DỰNG LÊN VẬY ??? DÙ SAU NẦY DANH SÁCH CÓ LÊN ĐẾN CON SỐ BAO NHIÊU ĐI NỮA CŨNG ĐỀU DO TÀI LIỆU CÓ THẬT MÀ RA - CHỨ KHÔNG DO CHÚNG TÔI TỰ PHỊA - QUÝ ÔNG CỨ NÊU CHÚNG TÔI LÀ NẰM VÙNG KHÔNG SAO CẢ NẾU CÓ TÀI LIỆU ? HẦU HẾT DANH SÁCH NẦY ĐỀU DO DANH SÁCH KHEN THƯỞNG CỦA VIỆT CỘNG CHÍNH THỨC ĐƯA RA THÌ ÔNG TRẢ LỜI SAO ĐÂY ÔNG SƠN TRẦN ???
CÁC TÀI LIỆU LIÊN QUAN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG KHAI HÓA RẢI RÁC , TRƯỚC SAU VÀ CHÚNG TÔI CHỈ GOM LẠI CHỨ KHÔNG TỰ ĐỘNG THÊM BỚT GÌ CẢ.
- XIN ÔNG SƠN VUI LÒNG LÀM NGƯỜI LỚN MỘT CHÚT ĐƯỢC KHÔNG ÔNG???
- CHƯA ĐỌC TÀI LIỆU MÀ BỖNG CHỐC PHÁT BIỂU NHƯ THẾ CÓ HÀM HỒ và TRẺ CON LẮM KHÔNG ÔNG SƠN TRẦN ???./- mt68---
On Mon, 31/1/11, Son Tran
From: Son Tran
Kính thưa quý vị,
Liệu, cứ cái đà này, cuối cùng rồi đến một ngày nào đó, đa số người việt hải ngoại là Việt cộng, thân cộng hay cộng sản nằm vùng. Có thiệt vậy không? Coi chừng có phản ứng nghịch lại., một hình thức tuyên truyền không công cho VC.
Rồi người ta lại phải thêm tên của tác giả vào danh sách của chính tác giả, thì,...ăn nói làm sao?
Hãy cố gắng đừng để tư thù, chuyện ganh ghét cá nhân vào việc chung này mà làm hư cả đại sự.
Stran.
Monday, January 31, 2011
DANH SÁCH NẰM VÙNG HẢI NGOẠI CẬP NHỰT HÓA ĐẾN THÁNG 2/2011
***Kính xin lưu ý:
KHÔNG HỀ CÓ CHUYỆN CHỤP MŨ GÌ CẢ !!! Chúng tôi chỉ trích ra từ những tài liệu do chính chúng tự công khai hóa, hay do chính Việt Cộng công bố qua những danh sách tuyên dương Việt Kiều nằm vùng Hải Ngoại có công với chúng.
- Tất cả tài liệu liên quan đều được lưu giữ với tên của Label là : "VietCongNamVung" , nằm ở cột bên phải (Sidebar) của Trang Mậu Thân 68 với địa chỉ :
http://www.mauthan68.blogspot.com
Trân trọng kính báo trình; VÀ CHÚNG TÔI SẼ TIẾP TỤC CẬP NHỰT KHI CÓ NHỮNG TÀI LIỆU MỚI HƠN./- mt68
Artist Lê Bá Đảng- France
Artist Đỗ Trọng Ngọc- Canada
Bs. Bùi Duy Tâm-SFO-USA
Bs. Kiều Quang Chẩn-Cali-USA
Bs. Nguyễn Ngọc Hương-Springvale
Bs. Nguyễn Thị Thu Cúc- Melbourne
Bs. Trần Thanh Nhơn-Melbourne
Bs.Hoàng Anh Dũng-Belgium
Bs.Quỳnh Kiều (Đinh Thị Tố-Quỳnh)-Cali
Bác Sĩ Bùi Kim Hải- Belgium
Bác Sĩ Bùi Minh Đức- USA
Bác Sĩ Hoàng Anh Dũng- Belgium
Bác Sĩ Nguyễn Tăng Trí- Canada
Bùi Kiến Thành- Canada
Bùi Ái- France
Ca Sĩ Nguyễn Ái Vân- Doanh Gia VC-San Jose
Calvin Trần- USA
Cao Huy Thuần-Pháp
Cao Lương Thiện-San José
Cao Văn San- Thailand
Charlie Lý (San Jose)
Charlie Nguyễn -BÙI VĂN CHẤN (Chết 2005)
Cindy Hồ-Hội VK San Jose
Cựu Nghị Nguyễn Sang-Melbourne
Cựu Trưng Vương Trần Thị Tuyết (Chồng Mathilde) Pháp
David Dương-USA
Eng Tô Quốc Phú- France
Gs VT Nguyễn Thị Hoàng Bắc
Gs. Tâm Đàn-Úc
Gs. Võ Kim Sơn-Bolsa
Gs.CHUNG HOÀNG CHƯƠNG-SFO
Gs.Tạ Văn Tài-USA
Hoàng Nguyên Nhuận-Sydney
Hoàng Sơn- Th/Sĩ
Hoàng Văn Khẩn- Swiss
Hoàng Văn Lộc - England
Huynh T. Helen-Hội VK San Jose
Huỳnh Tấn Lê-Cali-Về Nguồn
Hà Dương Tường-Pháp
Họa sĩ Dương Văn Thành- Thụy Điển
Hồ Lê Khoa, Chồng Bs.Cúc-Melbourne
Hồ Quang Đặng- USA
Hồ Tú Bảo-Nhựt
Hồ Văn Xuân Nhi Jr.-Cali
Hồng Quang-USA
Hứa Ngô-Hội VK San Jose
Kenneth Lê-Hội VK San Jose
Ks. Đỗ Anh Thư-USA
Lawyer Phùng Tuệ Châu- USA
Lm. Nguyễn Đình Thi-Pháp
Ls Vũ Ngọc Trác-Hội VK San Jose
Ls. Nguyễn Hữu Liêm-USA 09
Luật Gia Nguyễn Như Hà - France
Lê Trọng Văn (Lê Văn)- Cựu BBC-England
Lê Văn Chiêu-Cali
Lê Văn Dinh- Thailand
Lê Văn Hướng-San José
Lê Văn Ninh-Arlington-Texas
Lê Xuân Sơn- USA- Cựu QT Củ Chi
Lưu Thừa Chí (ĐL-PNN)
Lưu Trí Diễn-Th/Sĩ
Lương Cần Liêm-Pháp
Lương Văn Mỹ Thiện-Th/Sĩ
Mathematician Lê Tự quốc Thắng- USA
Mayer Bùi Thị Thu Minh- Germany
Musician Nguyễn Thiện Đạo- France
Nguyễn Bang-Sui gia NTDũng-Chicago
Nguyễn Bá Thuần-Denmark
Nguyễn Cao Kỳ-USA
Nguyễn Chánh Khê-USA
Nguyễn Công Chánh-SFO-USA
Nguyễn Duy Thắng-Th/Sĩ
Nguyễn Giang - Việt Ngữ BBC Luân Đôn
Nguyễn Hoài Bắc- Canada
Nguyễn Huỳnh Mai- Belgium
Nguyễn Hưng Quốc (Nguyễn Ngọc Tuấn) - Úc
Nguyễn Hạnh Phước- USA
Nguyễn Hữu Ba- Úc Châu
Nguyễn Minh Hiếu -Hội VK San Jose
Nguyễn Mỹ Linh-Wash.DC
Nguyễn Mỹ Lý-Úc
Nguyễn Quốc Vọng-Australia
Nguyễn Thành Trung-Th/Sĩ
Nguyễn Thị Thật - France
Nguyễn Thịnh Cường-Th/Sĩ
Nguyễn Văn Hiếu-Melbourne
Nguyễn Văn Hiền -Berlin Germany
Nguyễn Văn Khải- Th/Sĩ
Nguyễn Văn Lam- Th/Sĩ
Nguyễn Xuân Hoàng-Cali
Nguyễn Xuân Thu- Melbourne
Nguyễn Đức Thành- England
Ngô Quốc Phương -BBC Luân Đôn
Ngọc Dung Moser-Th/Sĩ
Ph.Chem Vũ Mạnh Huỳnh-USA
Ph.D Biogen Elizabeth Nguyễn - USA
Ph.D Lê Phước Hùng- USA
Ph.D Nguyễn Kiểm Thân- Swiss
Ph.D Nguyễn Lương Dũng- Germany
Ph.D Nguyễn Quý Đạo- France
Ph.D Nguyễn Quốc Bình -Canada
Ph.D Nguyễn Trí Dũng- Japan
Ph.D Nguyễn Đăng Hưng- Belgium
Ph.D Phạm Đức Trung Kiên - USA
Ph.D Tô Thanh Bình- Germany
Ph.D Đoàn Kim Sơn- France
Phan Anh Tuấn (Tuấn Phan) -Seattle
Phan Mạnh Lương-USA
Phan Thành - Canada
Phan Văn Giưỡng-St Albans
Phạm Thị Dung- Germany
Phạm Trọng Luật-Pháp
Phạm Văn Minh-Sydney
Quinn Trần- Hội VK San Jose
Scientist Nguyễn Thị Quý -Australia
Scientist Ph.D Nguyễn Trọng Bình- USA
Thanh Huyền Ballmer Cao- Th/Sĩ
Thích Giác Nhiên-Houston
Thích Hạnh Tấn-Đức
Thích Minh Tâm-Úc
Thích Mãn Giác (Chết) -USA
Thích Nguyên Hạnh-USA
Thích Như Điển-Đức
Thích Phước Huệ-VESAK-Sydney
Thích Phước Tấn-Melbourne
Thích Quảng Ba-Canberra
Tony Lâm-Hội VK San Jose
Trung Dung-V.Home Group-USA
Trương Minh Hòa- Perth-Úc
Trần Bình Nam-Úc
Trần Hùng-Hội VK San Jose
Trần Hữu Dũng-Ohio
Trần Trung Phương (ĐL-PNN)
Trần Văn Thọ-Nhựt
Ts. David Huy Hồ -USA
Ts. Huỳnh Hữu Tuệ-Canada
Ts. Lâm Như Tạng-Sydney
Ts. Lê Dũng Tráng-Pháp
Ts. Lê Quang Bình-USA
Ts. Lê Văn Tâm-Đức
Ts. Nguyễn Trí Hiếu-Cali Bank-USA
Ts. Nguyễn Văn Chuyển-Nhựt
Ts. Phạm Gia Thụ-Canada
Ts. Thái Kim Lan-Germany
Ts. Trương Nguyễn Trân-Pháp
Ts. Trần Minh Tâm-Thụy Sĩ
Ts. Trần Thanh Vân- Pháp 09
Ts. Trần Tiễn Khanh-USA
Ts. Đỗ Hữu Tâm-Irvine
Ts. Đỗ Ngọc Bích-ĐH Yale
Ts. Đỗ Đức Cường-USA
TSYK Nguyễn Văn Tuấn, Sydney
Voctor Wang-Hội VK San Jose
Võ Bích Liên-Hội VK San Jose
Vĩnh Hảo-Houston
Vũ Giản-Th/Sĩ
Vũ Quang Việt-LHQ
Vũ Đức Vượng-San Jose
Đinh Viết Tứ- USA
Đoàn Thị Thanh Tâm-Melbourne-Úc
Đông Âu Bùi Văn Hạ - Russia
Đông Âu Hoàng Văn Vinh-Russia
Đông Âu Hoàng Đình Thắng- Czech
Đông Âu Hồ Chí Hưng -Poland
Đông Âu Lê Thanh Bình - Poland
Đông Âu Lê Thiết Hùng - Poland
Đông Âu Nguyễn Hữu Nhiệm- Slovakia
Đông Âu Nguyễn Lân Tuất - Russia
Đông Âu Nguyễn Quốc Cường -Poland
Đông Âu PhD Lê Văn Mừng - Poland
Đông Âu Trần Thị Mùi - Slovakia
Đông Âu Vũ Thị Thư - Czech
Đặng Văn Hiền- VESAK08-Australia
Đỗ Anh Thư- USA
Đỗ Vẫn Trọn-Hội VK San Jose
Saturday, January 29, 2011
Ls. LÊ DUY SAN Có biết các Email "LUOI LE"; "BOVU"; "LƯU DAN SET"; "DAIMAYO"; "Kbc 90802"... LÀ CỦA AI KHÔNG ?
- CỦA 1 TÊN Điên NGUYỄN MẠNH PHÚC-ĐS.17 QGHC Ở NAM CALI ĐẤY !!! NHỮNG ĐỊA CHỈ EMAIL MÀ HẮN GỞI ĐI HẦU HẾT LÀ QGHC ĐÓ. HỎI QGHC NAM CALI SẼ RÕ RÀNG HƠN.
Để trả lời ông Bo Vu biết là ai đã dậy ai. Lê Duy San
Hội Trưởng Hội Cựu Học Sinh Chu Văn An California
Nhiệm kỳ 2006-2008, 2008-2010, 2010-2012
Viết về một đồng môn:
Giáo Sư Tạ Văn Tài
Lê Duy San
Tôi đã viết nhiều bài về Trường (Chu Văn An), về Thày và về Bạn. Nhưng đây là lần đầu tiên tôi viết về một Đồng Môn, đồng môn Tạ Văn Tài.
Viết về Trường, về Thày cũng như về Bạn rất dễ bởi vì mình biết rõ, không những rõ về hình dáng, về tính tình mà nhiều khi còn biết rõ cả về lịch sử (của Trường), tiểu sử, gia thế (của Bạn). Hơn nữa, viết về Trường, về Thày, về Bạn, thường chúng ta viết về những kỷ niệm vui buồn thời còn đi học, nên cũng ít khi động chạm tới ai, mà dù có, thì nó cũng chỉ nhẹ nhàng và bạn bè mình cũng sẵn sàng tha thứ. Nhưng viết về đồng môn thì thật là khó, bời vì nhiều khi, mặt họ, mình cũng còn chẳng biết, thì làm sao mình biết được tính tình, lập trường hay tiểu sử, gia thế của họ. Nếu có thì cũng chỉ qua người khác, như bạn bè của họ, hay qua sách vở, báo chí do người khác viết. Mà người khác viết thì có thể vì qúy mến họ, nên đã tâng bốc quá đáng; nhưng cũng có thể vì hiềm khích, ghen ghét hay thù hận mà mạt sát, bôi nhọ đến tận cùng.
Vì thế, viết về một đồng môn, nhất là đồng môn đó lại là một giáo sư danh tiếng như giáo sư Tạ Văn Tài và nhất là lại đang bị nhiều người không những chê trách mà còn mạt sát thậm tệ, thật là một việc khó khăn và nguy hiểm vì nếu không khéo, mình có thể bị vạ lây.
Giáo sư Tạ Văn Tài không những là đồng môn của tôi tại trường Chu Văn An rồi tại trường Đại Học Luật Khoa Saigon, ông học trên tôi hai lớp, mà còn là đồng nghiệp. Khi tôi còn làm Thẩm Phán tại Tòa Sơ Thẩn Saigon (sau này tôi từ chức để ra hành nghề Luật Sư), thì ông Tài tập sự tại văn phòng Luật Sư Tăng Thị Thành Trai ở số 9 Công Trường Lam Sơn. Vì có cấp bằng Ph.D ở Mỹ về, nên ông Tài chỉ phải tập sự có một năm và không phải thi tốt nghiệp. Ông được ghi tên vào Danh Biểu Luật Sư Đoàn Tòa Thượng Thẩm Saigon với tư cách là Luật Sư Thiệt Thọ vào ngày 26 tháng 1 năm 1970. Ai còn nghi ngờ về tước vị Luật Sư của ông có thể vào website của Hội Aí Hữu Luật Khoa Việt Nam ở Nam California: www.aihuuluatkhoa.com rồi click vào Danh Biểu Luật Sư Tòa Thượng Thẩm Saigon sẽ biết ông Tài tuyên thệ ngày nào và ngày nào được ghi vào Danh Biểu Luật Sư Thực Thu.
Ông Tài là một sinh viên giỏi, hiền lành và khiêm tốn. Năm 1965, lúc còn là sinh viên Cao Học Luật và làm việc dưới quyền Kỹ Sư Trần Đỗ Cung, vì ngoại ngữ khá nên được tuyển chọn cho sang Mỹ du học cùng với hai sinh viên khác. Ông Tài học tại Đại Học Virginia và tốt nghiêp Ph. D. Về nước ông xin tập sự Luật Sư tại văn phòng Luật Sư Tăng Thị Thành Trai như tôi đã nói trên.
Trong bài “Hai mươi năm cải tổ kinh tế và luật pháp ở Việt Nam” (Bài tham luận bằng tiếng Anh của luật sư Tạ Văn Tài trình bày trước Hội đồng Quan hệ Ngoại giao - Council on Foreign Relations - tại New York City ngày 21 tháng 3 năm 2006. Bản tiếng Việt do ông Ngô Văn Ban sơ thảo và luật sư Tài hiệu đính), có lời “Lời dẫn” như sau: “Ngày 21 tháng 3 năm 2006, ở New York, tại Council on Foreign Relations, một diễn đàn hàng đầu về các vấn đề ngoại giao của Mỹ, luật sư Tạ Văn Tài, nguyên giáo sư các Đại học Luật và Trường Quốc gia Hành chánh Việt Nam trước 1975 và nguyên giảng sư / nhân viên nghiên cứu trường Đại học Luật Harvard, đã trình bày một cái nhìn tổng quan về các cải tổ kinh tế và luật pháp tại Việt Nam trong 20 năm qua, trong một ban hội thảo gồm có Giáo sư Jerome Cohen của Đại học Luật New York là chủ toạ, với hai thuyết trình viên khác là Giáo sư Brian Quinn, Đại học Luật Stanford, và Giáo sư Mark Sidel, Đại học Luật Iowa.” Trong “Lời dẫn” này, tôi thấy có mấy chữ “nguyên giảng sư / nhân viên viện nguyên cứu trường Đại Học Luật Harvard”
Trong bài “Tính Dân Tộc của Phật Giáo Việt Nam trong lãnh vực Chính Trị” viết chung với Giáo Sư Hoàng Xuân Hào, đã có ở trên Net từ lâu, tiểu sử của luật sư Tạ Văn Tài đã được tóm tắt như sau:
- Cựu sinh viên và Giáo Sư Đại Học Văn Khoa và Luặt Khoa Saigon và Trường Quốc Gia Hành Chánh, Saigon
- Tốt nghiệp Cao Học Luật Khoa tại Đại Học Harvard, 1985. Tiến Sĩ về Công Quyền và Ngoại Giao tại Đại Học Virginia.
- Luật Sư tại Việt Nam trứơc năm 1975 và tại các toà án Tiểu Bang và Liên Bang ở Massachusetts từ năm 1986.
- Hội Viên Nghiên Cứu từ năm 1975 và Giảng Viên Luật Việt Nam tại Trường Luật Khoa, Đại Học Harvard.
- Học Giả Nghiên Cứu tại Trường Luật Khoa, Đại Học New York, 1990-1994.
Điều này cho chúng ta thấy rõ ông Tài không có nhận là giáo sư của trường Harvard từ lâu, Tôi không biết bản tiểu sử của ông Tài nộp cho Toà Liên Bang Immigration Court xử vụ anh Nguyễn Tấn Vinh đã dịch chữ Giảng Viên hay Giảng Sư sang Anh ngữ là gì nên tôi không dám lạm bàn. Nhưng có một điều là, người Việt mình, hễ cứ thấy ai dậy học là kêu bằng giáo sư và người được gọi là giáo sư thấy cũng chẳng quan trọng gì cần phải đính chính. Nhưng khi có chuyện thì mới thấy là quan trọng thì đã quá muộn.
Điều mà tôi muốn nói tới đồng môn Tạ Văn Tài ở đây không phải là tư cách hay tước vị của ông Tạ Văn Tài mà là lập trường của ông và nhiệm vụ của nhân chứngcủa ông trước tòa án.
Phiên tòa xử anh Nguyễn Tấn Vinh tại toà Liên Bang Immigration Court không phải là phiên tòa xử tội anh Vinh. Tội anh Vinh là tội khủng bố , đã được xử tại Phi Luật Tân và anh đã thụ án xong. Nay anh trở về Mỹ sinh sống. Luật Sư Phạm Đức Tiến, hiện đang hành nghề tại Vùng Washington DC, chuyên về luật di trú và quốc tế cho biết: “Theo luật Di Trú, những người sống tại Mỹ và không phải là công dân Mỹ, có thể bị đưa ra tòa xử trục xuất nếu bị kết án về tội đại hình (felony) hay những tội có tính cách xấu xa (crime involving moral turpitude). Vì thế anh Vinh đã bị đưa ra tòa Liên Bang Immigration Court để xử trục xuất anh.
Cũng theo Luật Sư Phạm Đức Tiến thì người bị đưa ra tòa có thể xin được hưởng 3 khoan miễn sau:
1/ Xin tỵ nạn (Asylum)
2/ Xin đình chỉ / tạm hoãn trục xuất (Withholding of Removal)
3/ Xin khoan miễn trục xuất vì sợ bị tra tấn nếu bị trả về (Relief under Convention Against Torture)
A/ Về khoan miễn thứ 1
Muốn được hưởng khoan miễn thứ 1, người bị trục xuất phải là những người hoạt động chính trị tức các chính trị gia hoặc là những người bất đồng chính kiến, không muốn sinh sống tại quốc gia mình nữa. Thí dụ như chúng ta, không thích sống dưới chế độ Cộng Sản, chúng ta là những người bất đồng chính kiến với chính quyền Công Sản nên chúng ta được Hoa Kỳ cho hưởng quy chế tỵ nạn.
Anh Nguyễn Tấn Vinh là người không chấp nhận chế độ Công Sản Việt Nam nên anh có thể được coi là người bất đồng chính kiến. Anh cũng có thể coi là chính tri gia vì anh là thành Viện của Chính Phủ Việt Nam Tự do của ông Nguyễn Hữu Chánh, anh là thành viên của đảng Dân Tộc. Nhưng vì hoạt động của anh tại Phi Luật Tân bị tòa án Phi Luật Tân kết án về tội khủng bố. Đây là một tội hình sự với trường hợp gia trọng (aggravated felony) nên anh không thể được hưởng khoan miễn thứ 1, tức được hưởng tỵ nạn (Asylum).
B/ Về khoan miễn thứ 2
Đối với khoan miễn thứ 2, thì án phạt mà can phạm bị kết án phải dưới 5 năm. Tội của anh Nguyễn Tấn Vinh là tội hình sự với trường hợp gia trọng và án phạt là 5 năm. Nên anh Nguyễn Tấn Vinh cũng không có thể được hưởng khoan miễn thứ 2.
C/ Về khoan miễn thứ 3
Vậy thì chỉ còn chiếc phao cuối cùng mà các luật sư của anh Vinh hy vọng đó là khoan miễn thứ 3 tức khoan miễn vì sợ sẽ bị tra tấn nếu bị trả về Việt Nam. Luật sư Joseph Sandoval, luật sư của anh Vinh qủa là một luật sư giỏi, đã nhìn thấy rõ vấn đề và đi thẳng vào vấn đề này. Ông đã đưa ra rất nhiều nhân chứng quan trọng và có tên tuổi như Cựu Quốc Trưởng VNCH, Đại Tướng Nguyễn Khánh, cựu tù cải tạo Cộng Sản VN, Linh Mục Phan Phát Huồn, Thủ Tướng chính phủ VNTD Nguyễn Hữu Chánh, hai người Mỹ là ông Dennis Catron, cựu chủ tịch đảng Cộng Hòa của tiểu bang California, ông Arron Cohen, một nhân vật hoạt động chống tệ nạn buôn bán nô lệ tình dục trẻ em và bà Bùi Kim Thành, một luật sư hành nghề tại Việt Nam mới tỵ nạn tại Hoa Kỳ.
Nếu phía Công tố không mời nhân chứng là Luật Sư Tạ Văn Tài hay Luật Sư Tài từ chối lấy cớ là mình có liên hệ với Cộng Sản Việt Nam, sợ lời chứng không được vô tư, thì chắc ông Chánh Án Richard D. Walsh đã tìm nhân chứng khác. Nhưng ông Tài đã không từ chối và lời chứng của ông đã khiến ông Chánh Án Walsh phải nghị án từ 2 đến 4 tuần lễ để suy nghĩ cho kỹ càng hơn mới có thể ra phán quyết.
Ông Tạ Văn Tài đã làm chứng những gì và đã khai thế nào trước toà?
Chúng ta biết, ra trước tòa, các nhân chứng cũng như hai bên nguyên bị đều phải giơ tay tuyên thệ sẽ nói sự thật và tất cả sự thật. Toà đã hỏi gì và ông Tài đã trả lời ra sao ? Ông Tài có nói đúng sự thật không?
Ông Tài cho biết Tòa chỉ yêu cầu ông trình bày một điểm là liệu có triển vọng (probability or not) có sự tra tấn (torture) những người bị trả về Việt Nam hay không? Ông Tài đã trả lời là: “Tôi ước đóan là có một triển vọng khá cao là không có sự tra tấn anh Vinh”.
Ông Tài là một expert witness, ông lại là một giáo sư Luật học và ông cũng đã nghiên cứu kỹ luật pháp của Việt Cộng. Chẳng lẽ ông không biết là dưới chế độ Cộng Sản, luật pháp không phải là để bảo vệ người dân mà là để bảo vệ chế độ. Chẳng lẽ ông không biết Luật Sư dưới chế độ Cộng Sản cũng không được tự do hành nghề nhất là trong các vụ án có liên quan đến chính trị. Chẳng lẽ ông không biết rằng Việt Công thù ghét những người chống đối chúng với mục đích lật đổ chế độ như thế nào hay sao, mà lại cho rằng Việt Công sợ những người bất đồng chính kiến hơn những người như anh Vinh cho nên ông đã ước đoán là có triển vọng khá cao là không có sự tra tấn Anh Vinh nếu anh bị trả về Việt Nam. Là một expert witness, chẳng lẽ ông không biết ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam đã bắt hai nhà Phật học thông thái là Thượng Tọa Trí Siêu và Thượng Tọa Tuệ Sĩ ở chùa Già Lam, rồi lên án tử hình ngày 30-9-1988 về tội “âm mưu lật đổ chính phủ” ?
Lời chứng của ông Tài như vậy có đúng sự thật không? Một câu nói chết người như vậy mà thư gửi cho tôi, ông Tài còn giám nói với tôi là ông có lòng từ bi, bác ái với những người như anh Vinh? Trong một đoạn khác, ông Tài nói: “Tuy tôi không đồng ý với việc bạo động để đạt thành qủa Dân Chủ cho Việt Nam nhưng tôi coi anh Vinh là người trẻ tuổi, non dạ và bị kẻ lừa đảo, lợi dụng sự hăng say của tuổi trẻ, họ đứng đằng sau giật giây cho nên rút cục anh Vinh phải nhận trước tòa Phi Luật Tân và Mỹ là lầm lẫn.
Biết là anh Vinh bị lợi dụng, biết là anh Vinh lầm lẫn, lại có lòng từ bi bác ái, sao ông Tài không trả lời trước tòa là: “Tôi ước đóan là có một triển vọng khá cao là có sự tra tấn anh Vinh nếu anh bị trả về Việt Nam”. Tôi nghĩ rằng câu này, nói theo kiểu ông Tài, có triển vọng khá cao mới thật sự là đúng với tình trạng nhân quyền ở Việt Nam hiện nay. Rất tiếc, không hiểu vì lý do gì ông Tài đã không trả lời Tòa như vậy. Phải chăng ông đã quên là ông đã trưởng thành trong chế độ Việt Nam Cộng Hoà, cấp bằng Ph.D mà ông đã có và nhờ đó mà ông mới có cái danh vị giáo sư Đại Học Luật và Quốc Gia Hành Chánh là nhờ ở học bổng mà chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cấp? Và ông đã quên luôn cả một người anh đã chết trong lao tù Cộng Sản?
Ông Tài đã quên tất cả và ông cũng mất tất cả. Thật đáng tiếc!!!
Tôi không biết chính phủ Việt Nam Tự Do của ông Nguyễn Hữu Chánh là chính phủ gì. Tôi không biết đảng Dân Tộc là đảng gì. Nhưng dưới mắt tôi, hành động anh Nguyễn Tấn Vinh là hành động của một thanh niên yêu nước, muốn lật đổ chế độ Cộng Sản Việt Nam là một trong những chế độ độc tài, dã man và tồi tệ nhất thế giới. Tôi xin ngả nón chào anh Nguyên Tấn Vinh và chúc anh may mắn.
San Jose, 4/2009
Lê Duy San
--- On Fri, 1/28/11, Bo Vu
From: Bo Vu
Date: Friday, January 28, 2011, 10:37 AM
Nhieu tin tuc khap noi gui ve KBC cho biet tap the Cuu Sinh Vien Quoc Gia Hinh Chinh len an Tan Ban Chap Hanh Hoi CSV/QGHC Chi Hoi Texas da vi pham noi qui Tong Hoi la tham gia vao sinh hoat chinh tri tai cong dong dia phuong. Anh cuu Chu Tich Vu Duong Cu da l xin ra khoi hoi Texas de phan doi anh Nguyen Phat Quan va Ban Chap Hanh. Co tin tuc moi se pho bien tiep theo. Tin nay trung hop voi viec Nguyen Chi Vy va Nguyen Ngoc Lien muon bien Hoi CSV/QGHC lam cong cu cua Vatican va cong dong xoi thit dia phuong.
KBC muon biet Le Duy San nay co phai la cuu hoc tro Chu van An, nguoi da bi giao su Ta Van Tai day cho nhieu bai hoc ? Le Duy San da bi khai tru khoi hoi Chu Van An va dang chay theo Nguyen Ngoc Lien de xin tro lai Dang Dai Viet.
KBC 90802
LUOILE--- On Fri, 1/28/11, san le
Thủ thuật tân tiến của MUBARAK
TÊ LIỆT HÓA CÁC TRUNG TÂM PHÁT TÍN HIỆU CỦA MOBILE và INTERNET ĐỂ CHỐNG TỔ CHỨC BIỂU TÌNH.
AFP – Egyptian demonstrators demanding the ouster of President Hosni Mubarak shouts slogans on top of Egyptian …
by Katia Dolmadjian Katia Dolmadjian – Sat Jan 29, 12:05 pm ET
PARIS (AFP) – The scale of Egypt's crackdown on the Internet and mobile phones amid deadly protests against the rule of President Hosni Mubarak is unprecedented in the history of the web, experts said.
US President Barack Obama, social networking sites and rights groups around the world all condemned the moves by Egyptian authorities to stop activists using cellphones and cyber technology to organise rallies.
"It's a first in the history of the Internet," Rik Ferguson, an expert for Trend Micro, the world's third biggest computer security firm, told AFP.
Julien Coulon, co-founder of Cedexis, a French Internet performance monitoring and traffic management system, added: "In 24 hours we have lost 97 percent of Egyptian Internet traffic.
According to Renesys, a US Internet monitoring company, Egypt's four main Internet service providers cut off international access to their customers in a near simultaneous move at 2234 GMT on Thursday.
Around 23 million Egyptians have either regular or occasional access to the Internet, according to official figures, more than a quarter of the population.
"In an action unprecedented in Internet history, the Egyptian government appears to have ordered service providers to shut down all international connections to the Internet," James Cowie of Renesys said in a blog post.
Link Egypt, Vodafone/Raya, Telecom Egypt and Etisalat Misr were all off air but Cowie said one exception was the Noor Group, which still has 83 live routes to its Egyptian customers.
He said it was not clear why the Noor Group was apparently unaffected "but we observe that the Egyptian Stock Exchange (www.egyptse.com) is still alive at a Noor address."
Mobile telephone networks were also severely disrupted in the country on Friday. Phone signals were patchy and text messages inoperative.
British-based Vodafone said all mobile operators in Egypt had been "instructed" Friday to suspend services in some areas amid spiralling unrest, adding that under Egyptian law it was "obliged" to comply with the order.
Egyptian operator ECMS, linked to France's Telecom-Orange, said the authorities had ordered them to shut them off late Thursday.
"We had no warning, it was quite sudden," a spokesman for Telecom-Orange told AFP in France.
The shutdown in Egypt is the most comprehensive official electronic blackout of its kind, experts said.
Links to the web were were cut for only a few days during a wave of protests against Myanmar's ruling military junta in 2007, while demonstrations against the re-election of Iranian president Mahmoud Ahmadinejad in 2009 specifically targeted Twitter and Facebook.
Egypt -- like Tunisia where mass popular unrest drove out Zine El Abidine Ben Ali earlier this month -- is on a list of 13 countries classed as "enemies of the Internet" by media rights group Reporters Without Borders (RSF).
"So far there has been no systematic filtering by Egyptian authorities -- they have completely controlled the whole Internet," said Soazig Dollet, the Middle East and North Africa specialist for RSF.
Condemnation of Egypt's Internet crackdown has been widespread.
Obama and Secretary of State Hillary Clinton called on Cairo to restore the Internet and social networking sites.
Facebook, the world's largest social network with nearly 600 million members, and Twitter also weighed in.
"Although the turmoil in Egypt is a matter for the Egyptian people and their government to resolve, limiting Internet access for millions of people is a matter of concern for the global community," said Andrew Noyes, a Facebook spokesman.
Twitter, which has more than 175 million registered users, said of efforts to block the service in Egypt: "We believe that the open exchange of info & views benefits societies & helps govts better connect w/ their people."
US digital rights groups also criticised the Egyptian government.
"This action is inconsistent with all international human rights norms, and is unprecedented in Internet history," said Leslie Harris, president of the Center for Democracy and Technology in the United States./-
Vành Khăn Tang Cho Một Anh Hùng QL/VNCH
Cố Đại Tá NGUYỄN MẠNH TƯỜNG
Nghĩa Trang Melrose Abby Memorial Park nằm ở thành phố Anaheim, ngay phía dưới Xa Lộ 5. Đến nhà nguyện trước 9 giờ sáng, tôi đã thấy đông đảo đồng hương và chiến hữu trong màu áo của đủ quân binh chủng: Bộ Binh, Thiết Giáp, Nhảy Dù, Nha Kỷ Thuật, Hải Quân, Không Quân và đặc biệt là SVSQ Thủ Đức.
Một số đang chuẫn bị cho Lễ Phủ Kỳ. Toán phủ kỳ được chỉ huy bởi một cựu Lôi Hổ trẻ, oai phong với cây kiếm bạc bên hông, cùng với hai cựu TQLC bồng súng chào và 8 chiến hữu thay mặt các Quân Binh Chủng trịnh trọng nâng lá Quốc Kỳ VNCH để phủ lên quan tài của một vị niên trưởng mà danh tiếng của Ông đã được mọi người biết đến : Mãnh Sư Đại Tá Nguyễn Mạnh Tường.Đại Tá Tường, vẫn còn đủ nét cương nghị trên khuôn mặt, trong quân phục Nhảy Dù, chiếc nón đỏ trên ngực, nằm bất động trong chiếc quan tài, như một “thiên thần” chỉ đang say ngủ.Từng người lần lượt đến cung kính chào Ông lần cuối. Vài người ôm quan tài khóc sướt mướt. Các nhà sư, trong đó có một vị sư người Mỹ, niệm kinh hành lễ.
Niên Trưởng Vũ Trọng Mục , người bạn có nặng tấm lòng, đứng ra tổ chức tang lễ cho người đồng môn cùng Khóa Vì Dân Thủ Đức (khóa 5), đã thưa với tất cả mọi người là Ông rất hãnh diện và sung sướng để được làm việc này cho một người Bạn đức độ, anh hùng. Ông cám ơn những bạn bè chiến hữu ở Bắc Cali đã dành cho Ông cái vinh dự lớn lao và cảm động này.Một số đông bà con, chiến hữu đại diện cho Hội Đồng Hương và Tiểu Khu Bình Định, có người đã từng làm việc bên cạnh Đại Tá Tường, đứng thành hai hàng dài trước quan tài, sụt sùi nói lời ngưỡng mộ, biết ơn và từ biệt Ông, con Mãnh Sư bao phen đã làm kẻ thù khiếp sợ, cứu nguy và an cư cho dân, quân Bình Định trong suốt một thời khói lửa, điêu linh..Không khí thật nghiêm trang, cảm động. Điều đặc biệt đáng buồn là không tìm thấy những vành tang trắng. Vợ con Ông không có mặt. Chẳng lẽ họ đã thực sự cạn tình, cạn nghĩa, quên mất thế nào là Nghĩa Tử Nghĩa Tận, hay là vì một lý do nào khác.
Người đàn ông quỳ lạy, dâng hương và đội sớ trước bàn thờ hôm nay, xin được nhận Ông như nghĩa phụ là con rể của cựu Đại Tá Trần Đình Vỵ, vị Tiểu Khu Trưởng, người bạn chiến đấu một thời với Ông ở Bình Định. Nơi Ông đã lập nhiều chiến tích vẻ vang, mà dư âm sẽ còn vang dội mãi trong lòng người và sử sách.Trong nhà nguyện hôm nay, ngoài những cựu chiến binh, bạn hữu, còn có rất nhiều người, mà hầu hết chưa từng quen biết Đại Tá Tường. Họ đến đây với lòng ngưỡng mộ và kính yêu Ông. Họ đến để nhìn mặt Ông lần đầu cũng là lần cuối, khóc chào tiễn biệt một vị anh hùng. Ông ra đi nhưng không bao giờ chết. Ông sẽ sống mãi trong lòng mọi người. Và hôm nay, dù vợ con Ông không đến. Trước quan tài thiếu mấy vành tang trắng.
Nhưng có biết bao chiến hữu, đồng hương có mặt, cũng như đang ở khắp mọi nơi trên quả địa cầu này, đã dành cho Ông một vành tang rất trang trọng trong lòng.Ai dám nói trong đoàn quân chiến bại không có những anh hùng? QLVNCH có rất nhiều vị anh hùng, và Mãnh Sư Nguyễn Mạnh Tường rất xứng đáng để được gọi là một anh hùng. Ông ra đi nhưng sẽ không bao giờ chết và không bao giờ cô đơn, dù trên chính quê nhà hay ở chốn tha hương./-
Phạm Tín An Ninh
(Gốc SĐ23BB)
Kính báo động
MÀU MÁU ĐỎ ... ĐÃ TRÀN NGẬP SÂN KHẤU "THÚY NGA BAN ĐÊM" (Thúy Nga by night) SỐ 101.
Trần Cao Lãnh
USA.
Kính thưa Bà Con Tỵ Nạn Chân Chính khắp nơi;
Chắc nhiều Bà Con cũng đã nghe cả một năm qua (2010) , có nhiều tin đồn rằng TRUNG TÂM THÚY NGA đã bán cho Việt Cộng từ lâu. Không phải là những tin đồn đó là vô căn cứ, không đáng tin cậy.
Nhưng cho đến nay, tin tức THÚY NGA ĐÃ BÁN THÂN CHO VIỆT CỘNG vẫn chưa được chứng minh bằng những bằng chứng cụ thể rõ ràng.
Tuy nhiên đối với cá nhân tôi thì ngay từ những tin sơ khởi được loan truyền báo động thì tôi đã mạnh tin là " Việt Cộng luôn chú ý đến những TỤ ĐIỂM SINH HOẠT CỦA CỘNG ĐỒNG TỴ NẠN HẢI NGOẠI, NHẤT LÀ NHỮNG TỤ ĐIỂM VĂN NGHỆ" để đưa người của chúng len lỏi vào đó nhằm gây ảnh hưởng, lèo lái cái tụ điểm đó. Nếu căn cứ vào sách lược Ngọai Vận của Việt Cộng được thể hiện công khai qua Nghị Quyết 36 thì chúng ta đã thấy mức độ khả tín rất cao của nguồn tin về Thúy Nga đã bán cho Việt Cộng.
Ngoài mục đích của Nghị Quyết 36 ra; chắc bà con khắp nơi cũng đã từng nghe qua chính TÔ VĂN LAI đã ỡm ờ xì ra cái tin là Thúy Nga đã quyết định thay đổi công việc làm ăn, không nói là từ bỏ Thúy Nga Ban Đêm. Nhưng liên tục Thúy Nga đã than phiền sự kiện BĂNG COPY đã bán tràn ngập ở mọi nơi, kể cả trong nước nên Thúy Nga phải đổi sang nghề CHUYỂN HÀNG BẰNG CARGO ... ra vào Việt Nam.
Sự tiết lộ của Tô Văn Lai chỉ là bước dọn đường ... để từ từ Thúy Nga sẽ công khai hóa việc chuyển nhượng Thúy Nga cho Việt Cộng mà Bà Con sẽ biết rất chậm sau nầy thì tự nhiên cảm giác sẽ chai lì một phần nào vì đã nghe từ lâu; sẽ không sửng sốt như khi đột ngột hay tin Thúy Nga bán cho Việt Cộng !
Với một lý do xa hơn, khiến cho có nhiều Bà Con cũng như tôi đều tin nguồn tin Thúy Nga đã bán cho Việt Cộng xong rồi. Chắc quý vị còn nhớ khá lâu, trong chuyến công du Hoa Kỳ TÔN NỮ THỊ NINH là một tai mắt có thớ của Việt Cộng đã thẳng thừng tuyên bố hăm dọa Hải Ngoại là " Chính quyền Việt Cộng sẽ MUA HẾT truyền thông báo chí của Người Tỵ Nạn Hải Ngoại." Lời tuyên bố của TÔN NỮ THỊ NINH đã đi trước Nghị Quyết 36 và các ĐẠI HỘI VIỆT KIỀU mà VC rầm rộ tổ chức mỗi năm ở trong nước.
Với những dấu hiệu tổng quát như đã sơ lược lướt qua ở trên cho thấy chuyện THÚY NGA đã bán cho Việt Cộng , mặc dù đã được chúng bưng bít và tảng lờ ; nhưng nó còn ầm ỉ âm vang trong Cộng Đồng Tỵ Nạn Hải Ngoại của chúng ta, khiến cho chúng ta cần phải quan tâm theo dõi cẩn thận hơn.
Bởi vì nếu Việt Cộng đã mua được THÚY NGA thì coi như chúng đã THIẾT LẬP ĐƯỢC MỘT HẬU CẦN NGAY TẠI HẢI NGOẠI. Từ đó chúng sẽ chỉ huy , điều hành các Ổ ĐẶC CÔNG TÌNH BÁO một cách dễ dàng và nguy hiểm hơn vì chúng đã TRỰC TIẾP ban hành các chỉ thị ngay tại địa phương, không cần phải chờ xin lịnh đâu xa.
Nếu Việt Cộng mua được THÚY NGA thì chúng sẽ lần hồi ĐƯA CÁC VĂN CÔNG ra Hải Ngoại một cách kín đáo và dễ dàng hơn nữa, vì đã có cơ sở để hoạt động do chính chúng điều hành. Chừng đó nhứt định chúng sẽ mua chuộc được nhiều NẰM VÙNG hơn và chiến lược bao vây NGƯỜI VIỆT TY NẠN sẽ được chúng xiết chặt gọng kềm ác liệt hơn nữa.
Tôi viết đơn sơ mấy lời nầy, chỉ với tâm nguyện BÁO ĐỘNG cùng Bà Con Tỵ Nạn chân chính khăp nơi nhằm lưu ý đến NHỮNG NGÓN ĐÒN NGOẠI VẬN CỦA VIỆT CỘNG, cụ thể là Trung Tâm Ca Nhạc THÚY NGA. Nếu quả thật đã lọt vào tay Việt Cộng thì TAI HẠI sẽ lớn lao vô cùng cho đồng bào tỵ nạn chúng ta.
Tôi thành thật nghĩ rằng: Ngày nào Việt Cộng đã công khai hóa viêc chúng sở hữu THÚY NGA thì thời điểm đó chúng đã bám rễ rất sâu trong Cộng Đồng Hải Ngoại rồi. Hiện giờ chúng còn đang mập mờ là vì chúng đang song song ra sức THIẾT LẬP CÁC TỔ TÌNH BÁO TRÁ HÌNH bằng cách gấp rút thành lập CÁC HỘI KINH DOANH VIỆT KIỀU. Như chúng đã hoàn thành ở Melbourne Úc Châu, Thụy Sĩ, Wash.DC; Canada và San Jose mới đây nhứt.
Kính thưa Bà Con;
Sau đây tôi xin đi vào một vài chi tiết mà tôi đã giựt mình nhận thấy trên DVD mới nhứt , số 101 với chủ đề " HẠNH PHÚC ĐẦU NĂM" vừa mới phát hành trước Tết Tân Mão nầy.
1- MÀU MÁU ĐỎ TRÀN NGẬP TRÊN SÂN KHẤU.
Kính xin quý vị cứ mở DVD 101 ra xem thử thì sẽ thấy hay đã thấy rồi ! MÀU ĐỎ đã được chú tâm dàn dựng SUỐT TỪ ĐẦU ĐẾN CUỐI, chứ không phải chỉ hiện ra ở một vài dàn cảnh. Riêng một cảnh mà NHƯ QUỲNH cầm những chiếc đũa để múa hát thì họ đã cố cột dính vào tay NHƯ QUỲNH và các vũ công , mỗi người MỘT TẤM VẢI ĐỎ như những lá cờ VC , chỉ thiếu sao vàng nữa là công khai hóa đủ bộ.
Nhìn vào SÂN KHẤU , bất cứ ai cũng đã nhìn thấy chúng treo các LỒNG ĐÈN MÀU ĐỎ giống hệt như là sân khấu của VIỆT CỘNG hay bắt chước theo lối trang trí rập khuôn của TRUNG CỘNG. Không biết tôi có lầm không ? Nếu không thì hình như trang trí về TÊT CỦA TA thì từ trước tới giờ không ai treo lồng đèn có đúng không bà con ? Lồng đèn là chúng ta chỉ treo vào dịp Trung Thu mà thôi , thưa có phải vậy không quý vị ?!!!
2- CÁC CHI TIẾT PHỤ.
Tôi chú ý thấy TÔ NGỌC THỦY vẫn còn làm việc trong hậu trường. Nhưng riêng TÔ VĂN LAI thì tôi thấy hơi lạ là TÔ VĂN LAI đã ngồi thụt lùi ở mấy hàng ghế sau, lẫn lộn với khán giả thường. Không như từ trước là TÔ VĂN LAI luôn ngồi ở hàng ghế đầu, dành cho các VIP ca ca ??? Có phải TÔ VĂN LAI để lộ cho thấy hắn ta không phải là VIP quan trọng , chủ nhân ông của Thúy Nga nữa chăng ???
Một chi tiết khác là Nguyễn Ngọc Ngạn lại giới thiệu QUANG DŨNG là một ca sĩ được đồng bào Hải Ngoại mến mộ số 1 (dùng chữ gì đó nghe hơi chỏi tai?). Quang Dũng là ca sĩ số 1 của VC thì đúng ! Còn nói QD là ca sĩ số 1 của chung người Việt, nhứt là ở Hải Ngoại thì hoàn toàn là những lời lẽ " BỢ TRỨNG" của NNNgạn. Quang Dũng đã về sống trong nước , đã mở tiệm cà phê kiếm chác và nếu nói đến các CA SĨ GIAO LƯU mà VC thả ra nước ngoài thì QUANG DŨNG chính là đứa giao lưu chính thức hơn cả.
Một chi tiết nhỏ nữa mà người nghe , nếu không phải là khán giả VC thì chắc đã ngạc nhiên không ít khi nghe CAROL KIM dùng chữ "HOÀNH TRÁNG" để mô tả sân khấu Thúy Nga.
Cá nhân tôi khi nghe hai chữ "HOÀNH TRÁNG " tôi tự nghĩ ; vô tình Carol Kim đã nhận xét đúng ý nghĩa xác thật về sân khấu THÚY NGA 101 . Quả là "SÂN KHẤU THÚY NGA BAN ĐÊM 101 RẤT HOÀNH TRÁNG " THEO KIỂU CÁCH TRÌNH BÀY CỦA THÓI QUEN SÂN KHẤU VIỆT CỘNG , nổi bật nhứt là MÀU MÁU ĐỎ TRUYỀN THỐNG CỦA CỘNG SẢN.
Tóm lại tôi chỉ BÁO ĐỘNG CẢNH GIÁC , chứ tôi cũng chưa tìm được bằng chứng gì chắc chắn hơn về tin đồn THUÝ NGA ĐÃ BÁN THÂN CHO VIỆT CỘNG. Tuy nhiên tôi vẫn tin rằng, nếu VC đã mua THÚY NGA thì lần hồi VIỆT CỘNG SẼ LỘ DIỆN theo cách thức hành sự rập khuôn, theo thói quen bất biến của chúng.
Nếu đúng thế thì MÀU MÁU ĐỎ THÚY NGA 101 ... là dấu hiệu khởi đầu dưới bàn tay đạo diễn trực tiếp của Việt Cộng rồi chăng ???
Trân trọng kính báo động ./-
Trần Cao Lãnh
USA
29 Jan 2011
Hà Giang,
người đàn bà hiếm có trong trại tù
Phạm Tín An Ninh:
Sinh ra và lớn lên tại Khánh Hòa, Tuổi Quý Mùi. Mất mẹ lúc 3 tuổi, nên sống với ông bà nội. Lúc nhỏ, theo học tại trường Trung học Văn Hóa và Võ Tánh Nha Trang. Nhập ngũ: Khóa 18 SQ Trừ Bị Thủ Đức. Phục vụ tại Sư Đoàn 23 BB. Sau tháng 4/75: Đi tù tại các trại tù Nam và Bắc Việt Nam.(Thân sinh cũng bị đi tù và chết trong tù cải tạo vào tháng 6/1976). Vượt biên, định cư tại Vương Quốc Na-Uy từ năm 1984. Đi học và làm việc trong ngành Ngân Hàng Bưu Điện. Về hưu từ đầu năm 2008. Tác phẩm: Ở Cuối Hai Con Đường (2008), Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân (sẽ xuất bản)
1-Mallorca, một hòn đảo du lịch nổi tiếng của Tây Ban Nha, nằm trong quần đảo Balearic. Trước khi đến đây, vì nghĩ là đảo, nên tôi tưởng chỉ có rừng núi và biển cùng một vài làng mạc hay khu phố nhỏ. Nhưng tôi rất ngạc nhiên khi phi cơ đáp xuống phi trường Palma rộng lớn, kiến trúc tân kỳ, sang trọng còn hơn nhiều phi trường quốc tế khác mà tôi đã từng đi qua. Palma là thủ phủ tráng lệ của Mallorca, nằm trên một dãy đồi cao nhìn xuống biển xanh. Đặc biệt khu nhà thờ Cathedral nằm bên cạnh giáo đường Mussulman, gồm những kiến trúc độc đáo, nổi tiếng theo kiểu Mediterranean Gothic từ thế kỷ thứ 13.Chiếc xe bus của công ty du lịch đưa chúng tôi đi qua vài thành phố cảng, sang trọng và sầm uất, nằm dọc theo bờ biển, để đến Alcudia, khu nghỉ mát nằm phía đông bắc Palma chừng ba giờ xe. Chúng tôi chọn nơi này, vì bờ biển đẹp, một cái vịnh nhỏ, nằm khuất sau dãy núi Victoria, nên không có sóng và khá an toàn cho trẻ em. Những em bé năm, sáu tuổi có thể lội ra cách bờ 50-60 mét.Thực ra kỳ nghỉ hè này chỉ là món nợ mà vợ chồng tôi phải trả cho con bé cháu nội. Trước đây hai năm tôi hứa với cô bé là sẽ thưởng một kỳ nghỉ hè hai tuần lễ ở Mallorca nếu nó đọc và viết được tiếng Việt. Chúng tôi ở trong một khách sạn, đi bộ ra biển chừng vài phút. (Đa số khách sạn ở vùng này giống như những khu apartment, mỗi phòng trọ, ngoài các phòng ngủ, còn có phòng khách và bếp với đầy đủ dụng cụ nấu ăn). Ở Bắc Âu thời tiết lạnh đến bảy, tám tháng, không có nhiều dịp được ra biển tắm, nên con bé cháu nội rất mê biển. Sáng nào, mới vừa thức dậy, con bé cũng giục ông bà nội ra biển, mãi đến chiều, khi trời sắp tắt nắng mới chịu trở về. Đã vậy khi về đến khách sạn, cô bé còn xin được tiếp tục bơi lội trong hồ tắm của khách sạn đến tối mịt mới chịu vào phòng. Trong khi bà xã làm thức ăn, tôi có nhiệm vụ ngồi trên bờ hồ trông chừng con bé.Ở đây, hầu hết khách du lịch đến từ Âu Châu, đa số là người Bắc Âu và Đức. Suốt tuần lễ đầu tiên, tôi không gặp người Á châu nào, ngoại trừ gia đình người Tàu làm chủ một nhà hàng buffet, sinh sống ở đây đã lâu năm. Một hôm, khi nằm trên chiếc ghế dựa bên hồ tắm nhìn trời, bất ngờ nghe cô bé cháu nội nói chuyện bằng tiếng Việt với một người nào đó. Nhìn xuống hồ tôi nhận ra một cô gái tóc đen đang tắm và đùa giỡn với con bé. Thấy tôi nhìn, cô gái lạ đưa tay vẫy, và nở một nụ cười chào tôi. Giữa một nơi xa lạ, người đồng hương dễ quen nhau.Trưa hôm sau, trong lúc vợ chồng tôi nằm trốn nắng dưới cây dù lớn ngoài bãi tắm, con bé cháu nội dắt tay cô gái đến chào chúng tôi. Cô gái tự giới thiệu tên mình là Lam Khê, khoảng chừng 19, 20 tuổi, khuôn mặt khá xinh và đôi mắt thật to, tự nhiên dễ mến. Nhưng điều làm tôi chú ý chính là cái tên Lam Khê, trùng hợp với một địa danh vẫn còn đậm trong ký ức, cho dù cuộc đời thăng trầm đây đó của tôi còn có biết bao nhiêu cái tên để nhớ.Buổi chiều, khi vợ chồng tôi và cô bé cháu nội đang ăn tối trong nhà hàng buffet của một người chủ gốc Tàu, thì bất ngờ thấy Lam Khê đi vào cùng với một người đàn bà Việt Nam và một người đàn ông ngoại quốc. Có lẽ Lam Khê đã kể về chúng tôi, nên cả hai người đến chào và bắt tay chúng tôi.
Khi đứng lên bắt tay bà mẹ, tôi bất ngờ đến giật mình khi nhận ra người đàn bà này chính là người mà tôi vừa nghĩ tới sáng nay khi gặp Lam Khê. Trong khi tôi đang ngạc nhiên về những cuộc hạnh ngộ bất ngờ trong đời mình, thì bà nở nụ cười giới thiệu người đàn ông ngoại quốc đi bên cạnh:-Đây là ông xã em. Anh người Đức. Chúng em sống ở thành phố Hamburg.Tôi đưa tay bắt tay và gật đầu chào người đàn ông, nhưng lại hỏi bà:-Xin lỗi, tên bà có phải là Hà Giang?-Sao ông bà biết tên tôi? Người đàn bà trố mắt nhìn chúng tôi ngạc nhiên.-Không ngờ tôi lại gặp bà ở đây - Tôi vừa nói vừa kéo ghế mời cả ba người- Hóa ra chúng ta đã từng gặp nhau. Chúng tôi xin được mời ông bà và cháu Lam Khê.Bà ngồi xuống bên cạnh vợ tôi, nét ngạc nhiên vẫn còn nguyên trên mặt. Để đánh tan không khí căng thẳng, tôi giải thích:- Tôi biết bà khi tôi đang ở tù ngoài miền Bắc. Sáng nay khi gặp và biết tên cháu Lam Khê, tôi đã nghĩ ngay đến bà. Bởi cái tên Lam Khê, tôi và đám bạn tù không thể nào quên. Không ngờ bây giờ lại gặp bà ở đây. Xin cám ơn tình cảm và lòng tốt của bà đã dành cho chúng tôi trong những ngày sa cơ khốn khó.Bà nhìn tôi dò xét. Suốt bữa ăn, chúng tôi nhắc lại những ngày vui buồn ở vùng núi xa xăm ấy. Trong khung cảnh vui vẻ, nhưng nhìn khuôn mặt và nụ cười không trọn, tôi có cảm giác bà ta đang ưu tư một điều gì đó.Lam Khê, cái tên khá đẹp đó lại là một khu núi rừng Thanh Hóa, tiêu điều hoang vắng, nằm sát biên giới Lào-Việt, mà bọn tù “cải tạo” chúng tôi bị đưa đến đây để phát rừng trồng cây, xây dựng một lâm trường, trong một mùa hè nắng và gió Lào muốn cháy cả thịt da.Ngày đầu mới đến, giữa một khu núi rừng xa xôi hẻo lánh, chúng tôi chỉ thấy có hai căn nhà lá cọ vừa mới dựng lên, trong đó chỉ có vài người ở. Họ được giới thiệu là “những bảo vệ và cán bộ lâm trường”. Điều làm chúng tôi vừa ngạc nhiên vừa thích thú là sự có mặt của một cô con gái trẻ, trông dáng dấp e ấp thư sinh, mà lại là “thủ trưởng” toàn bộ lâm trường này. Tôi nhớ một câu ví von của người nào đó: “Hoa lạc giữa rừng gươm”!Cả đội tù chúng tôi trên sáu mươi người được lệnh ngồi trên một bãi cỏ bên bìa rừng, để “nghe nữ đồng chí giám đốc lâm trường lên lớp”. Mặc một bộ đồ công nhân màu xanh, rộng thùng thình, khuôn mặt không một chút phấn son, nhưng trông khá xinh với đôi mắt thật to và buồn. Cô chào chúng tôi bằng một nụ cười, nói năng từ tốn, tự giới thiệu tên là Hà Giang, trước khi nói về địa thế, đặc tính khu rừng, cách thức phát hoang và phương pháp an toàn. Cô gọi chúng tôi là các chú và xưng mình là em. Sự kiện chưa từng thấy trong những năm tù. Cuối cùng cô nhờ anh đội trưởng cắt cử cho cô năm người để cô hướng dẫn việc đo đạc, cấm cọc, căng giây.
Tôi được may mắn nằm trong năm thằng được chọn.Dường như từ ngày có chúng tôi, đôi mắt của cô trông bớt buồn hơn. Nhiều lúc cô đùa giỡn rất thân tình. Mỗi ngày năm đứa chúng tôi theo cô vào rừng để đo đạc. Những lúc ấy cô thường ngồi tâm tình. Cô kể về đời mình và thường hỏi mỗi người chúng tôi về hoàn cảnh cha mẹ, vợ con ở quê nhà. Nghe chúng tôi kể sự gian truân của gia đình cùng nỗi nhớ thương vô vọng, nhiều lần cô đã lau nước mắt. Thấy một anh đeo trên cổ tấm ảnh của vợ lồng trong mảnh gỗ mun nhỏ, cô xin được xem rồi bảo nhỏ “các chú thật chung tình”.Hà Giang là một sinh viên giỏi, được gửi sang Đông Đức học về Lâm Nghiệp. Sau khi tốt nghiệp trở về đúng vào lúc đảng Cộng Sản phát động phong trào “trí thức đi thực tế”, cô được đưa lên Lào Cai, hướng dẫn những người dân tộc trồng và bảo vệ rừng. Mới đến Lào Cai vài tháng, chưa quen với khí hậu khắc nghiệt và tập quán địa phương, thì giặc “bành trướng” Trung Quốc tràn qua biên giới. Rất may mắn, lúc ấy cô đang về học một lớp chính trị ở Hà Nội, nên thoát nạn và được Bộ điều vào Thanh Hóa để thành lập lâm trường mới. Đó chính là lâm trường mà chúng tôi đang có mặt. Thực ra đây chỉ là một vùng núi rừng hoang vắng, với ban điều hành gồm năm người, do cô làm giám đốc, cơ sở chỉ là hai căn nhà lá, công nhân là 60 thằng tù khổ sai bọn tôi, và dụng cụ chỉ có toàn dao phát rừng và vài cái cuốc chim!Một hôm, thấy thấp thoáng một người đàn ông lạ, chúng tôi hỏi cô. Ngập ngừng một lúc thì cô mới buồn bã tâm sự. Người đàn ông ấy là một công nhân máy kéo tiên tiến, đang phục vụ ở một lâm trường khác, cách nơi này hơn hai mươi cây số, có nhiều tuổi đảng, được đảng bộ sắp xếp để lâp gia đình với cô, làm gương cho kế hoạch “trí thức cùng chung sống với công nhân” của đảng mới đề ra. Mục đích làm cho đám công nhân ít học, phấn khởi trước sự ưu ái của đảng, đem hết sức lực ra phục vụ và trung thành với đảng. Đây cũng là “phần thưởng” để cô được bổ nhậm về lâm trường mới này với chức danh giám đốc!Chúng tôi ngạc nhiên, vì gã công nhân tiên tiến này trông lớn hơn cô nhiều tuổi, rổ mặt, đen đủi, cục mịch. Không có điều nào hợp với cô con gái có học và dễ thương này. Cô còn bảo là trong trái tim cô, không hề có một ngăn nhỏ nào dành cho anh ta, nhưng không dám làm trái ý đảng, sẽ bị kỷ luật nặng, vì vậy cô phải gật đầu, nhưng tìm cách trì hoãn đám cưới được ngày nào hay ngày ấy. Cô nói là cô đang trong thời kỳ “nín thở qua sông”!Mặc dù có cảm tình và tội nghiệp cô, nhưng chúng tôi luôn “đề cao cảnh giác” không dám nói điều gì. Vì kinh nghiệm cho chúng tôi biết, Cộng Sản luôn gài nhiều cái bẫy chung quanh, và chuyện “mỹ nhân kế” không phải bây giờ mới có. Một hôm, trong lúc ngồi nghỉ trưa, cô lấy ra từ chiếc bao nhỏ, mời chúng tôi mỗi người một củ khoai lang luôc, rồi buột miệng hỏi:-Nghe nói các anh ở trong trại bị bọn công an hành hạ dữ lắm phải không?- Bọn tôi là những người thua trận, thì chuyện bị tù đày, hành hạ cũng là lẽ thường tình - Một anh bạn tù trong bọn tôi trả lời.Cô trầm ngâm giây lác rồi lên tiếng:- Theo em thì trong cuộc chiến ấy, tất cả chúng ta, miền Bắc và miền Nam, chẳng có ai chiến thắng.
Chỉ có những kẻ ngu muội, luôn cúi đầu làm tay sai ngoại bang, mà cứ tưởng là mình đại thắng, để cầm tù và hành hạ lẫn nhau thôi. Chỉ trong các nước Cộng Sản mới có chuyện lạ đời: một lũ ngu dốt lại được giao trách nhiệm “giáo dục, cải tạo” những người trí thức, mà đòi hỏi người ta phải tiến bộ tốt! Khôi hài thật!Bọn tôi chỉ im lặng. Những lần nói chuyện sau đó cô thường bảo là cô rất ghê tởm cái đảng Cộng sản, nhưng muốn chống lại hay thoát ra, phải trả bằng mạng sống, có khi làm khốn khổ cho cả gia đình. Điều làm chúng tôi vui là được lao động thoải mái, không cần phải đạt một chỉ tiêu nào, và thường được cô cho bồi dưỡng bằng khoai, có khi mì sợi. Anh em nào có áo quần dân sự hay khăn tắm mang theo, Cô nhận mang đi đổi lấy gạo, đường hay vài loại thực phẩm khác.Lâm trường mới khởi công vừa được hơn ba tuần thì trại tù có lệnh biên chế. Tôi bị chuyển sang một trại mới, tiếc nuối những ngày lao động tương đối thoải mái, hiếm hoi trong gần bảy năm tù.2-Chiều hôm sau, khi dắt con bé cháu nội ra hồ tắm trong khách sạn, tôi bất ngờ gặp Hà Giang và cô con gái Lam Khê. Hai mẹ con đang nằm trên ghế đọc sách. Thấy tôi, Hà Giang ngồi dậy, mời tôi ngồi vào ghế bên cạnh và vui vẻ bảo Lam Khê xuống hồ bơi và chơi đùa với con bé cháu nội của tôi, dặn dò trông chừng con bé, và có nhã ý muốn đến phòng trọ thăm bà xã của tôi.Chúng tôi mời cơm, nhưng bà từ chối, chỉ xin uống trà. Khi tách trà vừa cạn, bà đề nghị chúng tôi cứ gọi bà bằng cô và đột ngột hỏi tôi:- Anh còn nhớ anh Đôn không ?Thấy tôi chau mày, bà nói thêm như để xác định:- Trần Chánh Đôn!Tôi hỏi lại:- Đôn pilot, cùng toán đo đạc với tôi lúc làm việc với cô ở lâm trường?Hà Giang gật đầu, không nói. Một lúc, tôi thấy bà đưa khăn tay lau nước mắt. Và sau đó, vợ chồng tôi ngồi nghe tâm sự của bà:- Anh Đôn đã chết rồi! Tất cả là do lỗi của em. Chính em đã cung cấp cho anh Đôn thực phẩm, thuốc men, tấm bản đồ và một chiếc la bàn, em lấy của lâm trường khi ấy, và chỉ vẽ cho anh cách thức trốn khỏi lâm trường cùng với ba người bạn tù khác. Với tấm bản đồ, cái la bàn và sự hướng dẫn tường tận của em, em tin chắc là các anh ấy đã dễ dàng trốn được qua khỏi biên giới. Không ngờ sau hơn ba tuần, khi em đang khấp khởi mừng thầm thì được tin tất cả đều bị bắt tại Lào. Em như muốn quỵ xuống, mất ăn mất ngủ, nhưng cũng cố giữ bình tĩnh tìm cách hỏi một số cán bộ công an trại giam. Họ cho biết là tất cả bốn anh đều bị công an bắn chết trên đường dẫn độ từ Lào về trại, bởi các anh đã chống cự để tìm cách thoát thân. Mặc dù tin tưởng vào thái độ kiên cường và tư cách của các anh, dù có tra tấn thế nào các anh cũng sẽ không khai ra sự tiếp tay trợ giúp của em, nhưng em vẫn lo sợ bị liên lụy, nếu họ phát hiện tấm bản đồ và cái la bàn của lâm trường thì hậu quả khôn lường, nên em đã khẩn trương chạy về Bộ, năn nỉ và hối lộ tất cả số tiền dành dụm để ông Thứ Trưởng cho em được trở lại Đông Đức hai tuần, đệ trình cho trường đại học cũ một số nghiên cứu mà em vừa viết xong, sau hơn một năm tốt nghiệp và ra thực tế ngoài lâm trường.
May mắn em được ông ta gật đầu, và liên lạc can thiệp bên tòa đại sứ Đức cấp visa sớm. Chỉ hơn mười ngày là em rời khỏi nước. Tất nhiên đó chỉ là cái cớ. Sau khi sang Đức, em trốn lại ở nhà vợ chồng người bạn Đức mà em quen thân lúc còn học ở đây. Ông chồng em mà anh chị gặp tối hôm qua trong quán ăn, là anh ruột của cô bạn thân này. Anh ấy đã hết lòng lo lắng và chở che em.Rời khỏi Việt Nam, ngoài quê hương và gia đình, em còn mang theo hình ảnh của anh Đôn. Xin anh chị đừng ngạc nhiên, em yêu anh ấy! Ngoài sự hiểu biết, đẹp trai với nụ cười độ lượng, em còn nhìn thấy bên trong của anh Đôn là sự thủy chung và lòng tự trong, có cả một chút nghệ sĩ lãng mạn nữa.Thời gian làm việc bên nhau, trong khu núi rừng Lam Khê ấy, em đã học được ở anh rất nhiều điều hay, nghe anh hát những bản tình ca, đọc những bài thơ lãng mạn, tuyệt vời. Trái tim em lần đầu tiên biết rung động. Tội nghiệp, em yêu anh Đôn trong một hoàn cảnh quá nghiệt ngã. Điều duy nhất mà em có thể làm được cho người yêu của mình là giúp anh trốn trại, vượt ra khỏi khung cảnh đày ải man rợ, để anh ấy luôn được xứng đáng với những điều anh đang có. Vì chính những điều ấy đã làm cho trái tim em rung động, để em biết thế nào là một tình yêu, mà nếu không gặp anh ấy, có lẽ suốt cả đời em không có được. Quan trọng hơn, đó lại là thứ vũ khí tốt nhất, hiệu quả nhất giúp em đủ can đảm và nghị lực để chống lại số phận, mà trước đó em nghĩ là sẽ tới một ngày em sẽ phải đầu hàng, buông xuôi, bất lực.Hà Giang ngưng lại, lau tiếp những giọt nước mắt chảy dài trên gò má. Tôi rót thêm trà mời cô.Bà xã tôi hỏi:- Cô có giữ tấm ảnh nào của anh Đôn?- Tiếc là khi ấy anh Đôn không có tấm ảnh nào hết. Anh có cho em địa chỉ của bố mẹ anh ở thành phố Nha Trang, nhưng em gởi mấy cái thư về địa chỉ ấy đều bị trả lại, với lý do: người nhận không còn ở tại địa chỉ này. Nghe nói bố mẹ anh đều là thầy giáo, không biết có bị đi vùng kinh tế mới hay không?Tôi đưa tay ngăn lời cô:- Cô còn nhớ địa chỉ ấy không? Chúng tôi cũng đều là người gốc Nha Trang. Tôi có thể hỏi thăm tin tức cho cô. Nhân tiện chúng tôi cũng muốn biếu cha mẹ anh ít tiền, vì Đôn cũng là bạn tù của tôi.Hà Giang chau mày:- Lâu quá, nên em quên, nhưng có thể em còn giữ ở nhà. Em xin địa chỉ e-mail để gởi đến anh chị, nếu em tìm lại được. Em thiết tha muốn gặp bố mẹ anh Đôn, nếu các người còn sống.
Thực ra chuyện Hà Giang yêu Đôn, cũng chẳng làm tôi ngạc nhiên nhiều lắm. Đúng như Hà Giang nói: Đôn là một phi công trẻ. Bao nhiêu năm trong cảnh khốn cùng, đã không làm mất đi nét đẹp trai, tính nghệ sĩ và tư cách của Đôn. Bạn tù ai cũng quí mến. Chuyện Đôn cùng ba người bạn tù khác trốn trại, khi tôi đã bị chuyển đi trại khác hơn tám tháng, sau này ra hải ngoại, tôi có nghe đám bạn bè kể lại, nhưng mỗi người mỗi cách.Chỉ hơn một tuần về lại nhà, sau kỳ nghỉ hè khá thú vị, nhất là bất ngờ gặp lại Hà Giang, hồi tưởng lại một thời tù đày, tôi nhận được e-mail của Hà Giang gởi thăm, có ghi địa chỉ của ông bà Trần Chánh Nghị, cha mẹ Đôn, ở Nha Trang.Tôi viết thư nhờ người bạn thân còn ở lại Nha Trang, tìm đến địa chỉ nhà Đôn mà Hà Giang vừa mới cho. Tôi cũng cho anh bạn biết là gia đình Đôn đã dọn đi nơi khác, nhưng từ đó hỏi thăm biết đâu có thể tìm ra manh mối.Sau gần hai tháng, tôi nhận được thư hồi âm của người bạn cũ. Một đoạn trong thư làm tôi bất ngờ, nhưng sáng lên hy vọng:“Đúng như mày viết, gia đình người này đã dọn đi khá lâu rồi. Nhưng có người láng giềng cho biết là ông bà chủ nhà đã qua đời hơn hai mươi năm nay. Ông bà chỉ có người con trai duy nhất bị tàn tật, hình như là đang đi tu ở một ngôi chùa nào đó. Tao dò tìm khắp nơi theo lời kể khá mơ hồ của những người hàng xóm, đến nay vẫn chưa gặp được...“Tôi đọc đi đọc lại dòng chữ “Ông bà chỉ có người con trai duy nhất“, rồi chạy ra ngân hàng gởi một ít tiền cho người bạn, kèm theo lời nhắn: Mày cố gắng mọi cách tìm gặp người con trai này, và hỏi có phải tên là Trần Chánh Đôn. Có gì ra bưu điện gọi điện thoại cho tao biết.Tôi nôn nao chờ đợi, bỗng một hôm, lúc nửa đêm, điện thoại reo. Bốc ống nghe lên, tôi vui mừng và hồi họp khi nghe tiếng của người bạn từ Việt Nam:“Tao đã tìm được anh ta. Đúng là Trần Chánh Đôn. Bây giờ là đại đức Thích Thiện Hòa. Anh đang tu ở một ngôi chùa nhỏ, nằm dưới triền núi, phía trên đèo Ngoạn Mục, đèo Bellevue đó, thuộc quận Đơn Dương, cách Đà Lạt gần bốn mươi cây số. Chùa do người bác ruột xây dựng và làm trụ trì. Tội nghiệp, ông Thiện Hòa bị mù một con mắt và què cả hai chân, nhưng khuôn mặt trông đẹp và phúc hậu lắm. Tao nghĩ là ông không bao giờ rời khỏi chùa, vì từ dưới chân núi đi lên, tao đếm hơn năm mươi bậc tam cấp.“Tôi viết e-mail cho Hà Giang, báo cho cô cái tin bất ngờ này. Đắn đo mãi, cuối cùng mới quyết định nói thật mọi điều. Nhớ lại nhiều lần cô lau nước mắt khi kể về Đôn với vợ chồng tôi ở Mallorca, tôi nghĩ là cô sẽ đau lòng lắm khi nhận được tin này.Sáng hôm sau tôi nhận e-mail hồi âm của Hà Giang:
“Anh Chị ơi.Em đã khóc hết nước mắt khi nhận được tin anh Đôn. Suốt cả đêm hôm qua em không thể nào chợp mắt. Em phải xin nghỉ làm hôm nay, và bây giờ lòng dạ cứ thẫn thờ. Không thể ngờ là anh Đôn vẫn còn sống. Em vừa mừng nhưng cũng vừa đau lòng lắm, khi biết anh đã bị mù một mắt và tàn phế cả đôi chân. Suy nghĩ mãi, em mới dám nói ra điều này với anh chị, vì anh cũng là bạn của anh Đôn và với em như là một người anh, người chú.- Cháu Lâm Khê, đứa con gái mà anh chị đã gặp ở Mallorca, chính là giọt máu của anh Đôn. Trước ngày chia tay, để anh ra đi, chúng em có đôi ngày hạnh phúc ngắn ngủi trong rừng, em tự nguyện dâng hiến cho anh, thay cho lời hẹn ước, là dù góc biển chân trời nào, dù có phải trải qua bao nhiêu giông bão, chúng em cũng sẽ tìm gặp để đoàn viên. Nhưng rồi ông trời đã hại em, vì em cứ đinh ninh là anh ấy đã chết. Để tang cho anh đến sáu năm, em mới lấy ông chồng này, đền đáp lòng yêu thương và cưu mang đùm bọc của ông khi em thân cô trôi dạt xứ người. Bây giờ biết được anh Đôn còn sống, nhưng đã trở thành một vị đại đức, em vừa hối hận vừa băn khoăn, không biết phải làm sao. Em tha thiết xin anh chị cho em một lời khuyên, để em biết mình sẽ phải làm gì. Bây giờ chắc anh ấy chẳng cần một sự giúp đỡ vật chất nào, nhưng còn Lam Khê, dù sao nó cũng l giọt máu của anh. Làm thế nào để cha con nhận ra nhau? Lam Khê cũng nghĩ là ba nó đã chết. Thỉnh thoảng cháu hỏi em về ba nó. Cháu thương và hãnh diện về ba cháu lắm.“3-Cuối cùng, vợ chồng tôi bàn tính mãi nhưng cũng không tìm ra một lời khuyên nào để giúp Hà Giang, ngoài việc hỏi cô nếu muốn gặp Đôn, vợ tôi có thể giúp cô, cùng về Việt Nam, vì vợ tôi sống ở Nha Trang khá lâu, lại có thằng bạn thân ở đó, biết rõ đường đi đến vùng núi Đơn Dương, Đà Lạt, nơi có ngôi chùa.
Không ngờ Hà Giang mừng rỡ đón nhận đề nghị này, và xin vợ tôi về Việt Nam ngay trong tuần để đón giùm mẹ con cô tại phi trường Tân Sơn Nhất. Đây là lần đầu tiên cô bước chân đến miền Nam Việt Nam. Số chuyến bay và giờ đến phi trường, cô sẽ cho biết sớm.Và dưới đây là lời kể của vợ tôi, về cuộc trùng phùng:...Họ gặp nhau và nhận ra nhau. Mới đầu, Hà Giang ôm chầm lấy Đôn mà khóc nức nở. Cô quên mất anh đang là một vị thầy tu. Xúc động nhất là khi Hà Giang cho anh biết Lam Khê chính là con của anh. Hai cha con họ ôm lấy nhau thật lâu và cả hai đầm đìa nước mắt. Thầy đem cả triết lý đời và đạo để an ủi, khuyến khích và hướng dẫn Lam Khê bước đi trong cuộc sống có quá nhiều muộn phiền và bất trắc. Thầy nói thật hay và cảm động.Thầy kể lại chuyện trốn tù, lý do vì sao bị bắt, chuyện thầy bị đánh vỡ một con mắt và bị bắn nát hai bàn chân chỉ vì thầy nhất định không khai người nào đã giúp thầy cùng ba người bạn tù trốn trại một cách tài tình mà chúng nghi ngờ, mặc dù thầy đã kịp giấu tấm bản đồ và cái la bàn dưới một tảng đá trước khi bị bắt. Họ không đưa về trại cũ mà giao cho một trại tù khác. Bị biệt giam ở đây đến mấy năm mà thầy chẳng biết vì sao không chết. Hà Giang ngồi khóc nức nở.Sau khi mọi người tìm lại được sự bình tĩnh, Hà Giang xin cúng dường cho chùa một số hiện kim, nhưng thầy Thiện Hòa từ chối, bảo là nhà chùa không cần một số tiền lớn như vậy. Hà Giang tha thiết xin được đưa thầy đi sang Đức làm đôi chân giả và thay con mắt mù lòa, thầy cũng chối từ, bảo thầy đã quen rồi với những mất mát ấy, hơn nữa bây giờ thầy đã tu hành, năm tháng chỉ quanh quẩn trong chùa, không cần thiết phải đi đó đi đây.
Thầy có mở một lớp học dạy các em học sinh nghèo hiếu học trong vùng, nhưng phòng học là gian nhà trống vách ngay phía sau chùa.Đêm cuối cùng ở Nha Trang, Hà Giang quyết định đổi vé máy bay, ở lại một thời gian nữa. Cô cho biết là mẹ con cô sẽ cố gắng thuyết phục Đôn, để mua cho anh cái xe lăn, xin được xây lại ngôi chùa mới, thay những bậc tam cấp bằng con đường lát đá, đặc biệt phía sau chùa, từ gian phòng Thầy dạy học nhìn ra, đã có sẵn khu rừng với ít hoa dã quỳ, cô sẽ cho sửa sang lại thành một khu vườn đẹp đẽ, trồng thêm hoa, làm suối nước, và xin đặt tên là Lam Khê Viên, vì chữ Lam nghe cũng hợp với khung cảnh chùa chiền...Khi ngồi viết những dòng này, tôi không biết là những điều mong ước của Hà Giang có được thầy Thích Thiện Hòa chấp nhận hay không, và cuộc tình đẹp và bi tráng này có còn sống mãi trong lòng mỗi người cho đến thiên thu./-
Phạm Tín An Ninh
ĐÀN CÁ TRA
TRONG AO BẮC CỤ... Cáo HỒ
Đàn Cá trong Ao Bac Hồ và Những Con Chó của Pavlov
Lê Diễn Đức
Kể về bản thân là chuyện nên kỵ. Nói về cái dở thì không sao, nhưng nói cái hay, dễ bị coi là khoe mẽ. Vì thế, tôi thỉnh cầu trước một sự châm chước.
Tôi có ý định lấy chính mình làm điểm xuất phát để bàn về một chuyện khác. Về những cay đắng của một con người. Như một ví dụ. Chẳng phải để dạy dỗ ai (làm gì dám cho mình ghê thế!). Cũng chẳng khoác cái áo “dân chủ, nhân quyền” gì ráo trọi. Càng không nhân danh trí thức. Đơn giản chỉ là những nghĩ suy. Một kinh nghiệm.
Khi mới ở tuổi lên mười, tôi đã đạt danh hiệu “Cháu ngoan Bác Hồ”. Năm 1967 tôi được Hồ Chí Minh trao phần thưởng cho kết quả học tập xuất sắc với tất cả 14 môn học đạt điểm cao nhất. Đó là một cuốn sổ tay kích thước khoảng 20 x 15cm, giấy trắng tinh, bìa cứng láng bóng, màu xanh dương, có in hình Hồ Chí Minh chụp thẳng và dòng chữ phía dưới “Giải thưởng của Hồ Chủ Tịch”. Với tôi, gia đình, trường học và chính quyền địa phương, giải thưởng này là một vinh dự, vì không phải tỉnh, thành phố nào cũng có thưởng, và nếu có thì chỉ có một hoặc hai người. Buổi trao giải thưởng được tổ chức hào hứng trên sân kho của hợp tác xã, dưới ánh trăng (vì lúc bấy giờ máy bay Mỹ đánh phá miền Bắc dữ dội, học sinh đi sơ tán ở thôn quê, ban đêm không dám nổi lửa, thắp đèn). Bà con làng xóm tụ hội rất đông. Ba tôi cảm động đến phát khóc. Tôi nâng niu cuốn sổ tay đến mức không dám xài, lâu lâu lấy ra ngắm nghía ! Tuy nhiên cũng chưa tức cười thảm hại bằng thằng bạn. Năm 1968, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn thăm trường, tặng cho mỗi đứa được cử đi gặp một cục kẹo Hải Châu (thứ cao cấp, hiếm hoi, xa xỉ với lũ học sinh nghèo trong những ngày chiến tranh). Thằng bạn thèm rỏ dãi nhưng trân trọng quá, không dám ăn, để dành làm kỷ niệm. Trời nóng, chỉ vài hôm, cục kẹo chảy nhão nhoẹt dính bê bết với giấy bọc, phải vứt đi. Hắn đi Đông Đức, về nước giảng dạy ở Bách khoa Hà Nội, cho đến giờ. Tôi tin chắc hắn không quên chuyện này!
Tôi sang Ba Lan năm 1969. Cả đoàn du học sinh chúng tôi phải vào nằm viện để bác sĩ khám, tẩy giun sán trước khi được sống chung với người ta tại Trung tâm học tiếng Ba Lan dành cho người nước ngoài. Trong bệnh viện, được báo tin Hồ Chí Minh từ trần, chúng tôi khóc thảm thiết ! Mấy cô y tá Ba Lan ngơ ngác, lúng túng chẳng biết chuyện gì xảy ra !
Chúng tôi đã yêu Đảng, yêu Bác Hồ đến thế ! Đã một thời ngây thơ, ngây ngô như thế !
Đến năm 1994, Kim Nhật Thành chết, xem TV thấy dân Bắc Triều Tiên đứng đông nghẹt hai bên đường ôm nhau gào khóc. Lúc này thì tôi đã bật cười ! Cười cả chính mình ! Tôi cũng đã y chang vậy ngày nào, bị ngu hoá, bị lừa gạt mà không biết.
Phải thừa nhận các chế độ cộng sản đạt mức siêu đẳng về chuyện nuôi trồng con người theo ý đồ của mình.
Thế hệ tôi và cả xã hội miền Bắc, mỗi một con người được nhào nặn, rèn luyện, nhồi nhét tư tưởng vào trí não, để không còn là mình nữa, chỉ biết suy nghĩ và hành động theo những lời dạy dỗ của Đảng và Bác, đi theo con đường mà Bác và Đảng vạch ra, như con rối, như cái máy. Cái bóng Đảng, Bác...bao trùm lên đời sống.
Phản ứng của chúng tôi chẳng khác gì những con cá trong ao của ông Hồ ở Phủ Chủ Tịch. Không hơn, không kém.
Vào năm 1958, theo yêu cầu của ông Hồ, kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh đã thiết kế cho ông ngôi nhà sàn theo kiểu của người miền núi, cùng với vườn cây, ao cá.
Ngôi nhà sàn có hai tầng, tầng trên ông Hồ dùng làm phòng ngủ và phòng làm việc trong mùa đông, tầng dưới là nơi ông làm việc vào mùa hè, họp Bộ Chính trị. Ngôi nhà sàn xây dựng xong vào ngày 1/5/1958, bằng gỗ loại bình thường, chiếu theo căn dặn của ông – báo chí viết như thế.
Tuy nhiên, trong thực tế, mãi sau này tôi mới biết, gỗ được sử dụng để làm ngôi nhà sàn “giản dị” thuộc loại tốt. Ngoài ra, sự giản dị này cũng đáng bàn... Bởi vì, ngôi nhà tọa lạc giữa phong cảnh hữu tình, đầy cây cỏ, hoa lá xanh tươi, chim bay, cá lượn bốn mùa. Bác ngồi thư giãn, hút thuốc lá 555 hay xì-gà của Fidel Castro gửi tặng thì còn gì bằng ! Đấy là chưa nói đến chuyện có các nàng tới hầu hạ (như cô Nông Thị Xuân chẳng hạn)! Ngay giữa thủ đô chật hẹp, ồn ào, bụi bặm mà hưởng thụ một dinh cơ tao nhã, thanh bạch như vầy, thì khác gì cuộc sống của Tiên ông dưới trần, quả là chưa có tiền lệ.
Vào thời buổi kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, lắm đại gia tư bản đỏ "chơi độc" theo gương ông Hồ, cũng xây những dinh thự to rầm theo kiểu nhà sàn bằng toàn gỗ quý, vườn tược được trồng nhiều loại cây kiểng mà một chậu trị giá hàng chục ngàn đôla. Cũng ngay trong lòng Hà Nội.
Hồi nhỏ tôi được nghe nhiều huyền thoại về ông Hồ. Với chúng tôi, tên Hồ Chí Minh đồng nghĩa với đấng siêu nhân, thánh thiện và lòng tôn kính. Ở Nghệ An, có bài đồng giao xem ông Hồ, Tướng Giáp sinh ra như là tất yếu của Trời Đất: “Đụn Sơn phân dái / Hòn Đái thất thanh / Nam Đàn sinh Thánh / Đông Thành sinh Tướng"
Mỗi lần nghe ai kể về đời sống của Bác, nói đến đàn cá trong ao của Bác, lũ trẻ chúng tôi xuýt xoa, phục lăn. Số là đàn cá đông đúc được ông Hồ luyện công phu. Sau một thời gian nhử mồi cám dỗ, ông đã thành công. Khi cho cá ăn, ông chỉ cầm cái que gõ gõ vào cái hộp đựng mồi hay thành bờ ao gì đó.. là cả đàn lúc nhúc bơi lại.
Khi lên cấp 2, bắt đầu học vật lý, tôi không còn phục cao kiến luyện cá của ông Hồ nữa, mà chỉ phục ông ở tính kiên nhẫn. Tôi cúc cục mãi mới tập gọi được đàn gà. Còn dạy cá đâu phải giỡn ! Té ra ông Hồ chỉ thực hành lý thuyết từ xửa xưa của nhà khoa học người Nga Ivan Pavlov, Giải thưởng Nobel Y học năm 1904.
Ivan Pavlov nổi danh từ việc thí nghiệm phản ứng tiêu hoá trên cơ thể chó. Qua nghiên cứu sinh lý học của nước bọt, ông khẳng định rằng, nước bọt không chỉ tiết ra lúc ăn, mà cả trong phản ứng trước bữa ăn. Thức ăn gây chảy nước bọt được gọi là “kích thích ban đầu”, còn tiếng chuông gõ hoặc ánh sáng của cái đèn xuất hiện trước bữa ăn, gọi là loại “thức ăn phụ trợ”. Kích thích chó liên tục một thời gian dài bằng “thức ăn phụ trợ”, cùng lúc với “kích thích ban đầu” để tạo thói quen, ông đã làm chó tiết nước bọt chỉ còn qua sự kích thích thứ cấp. Hiện tượng này được gọi là phản xạ có điều kiện của Pavlov, trái ngược với sự chảy nước bọt bẩm sinh, là phản xạ vô điều kiện.
Thì ra, những con cá của ông Hồ chỉ là một phiên bản nhỏ từ con chó của Pavlov.
Phiên bản lớn mới thật hãi hùng.
Người ta nói Việt Nam là một nhà tù lớn, hay cả quốc gia đang bị nhốt trong cái cũi.
Trong cái cũi này, giống như đàn cá trong ao, ông Hồ và Đảng Cộng sản Việt Nam đã áp dụng muôn vàn “thức ăn phụ trợ” để “trồng người” vì “hạnh phúc trăm năm” của… Đảng.
Bằng quản lý trong tay sổ hộ khẩu, sổ gạo, sổ dầu, phiếu thực phẩm, phiếu vải, học đại học; nay thêm sổ đỏ, chứng minh nhân dân, hộ chiếu, giấy chủ quyền xe, v.v… – ông Hồ và Đảng từ lúc cầm quyền đến nay đã biến đất nước thành một phòng thực nghiệm vĩ đại của “phản xạ có điều kiện”, biến dân tộc thành một bầy đàn ngoan ngoãn. Hàng chục triệu người Việt đã, đang và tiếp tục trở thành những con cá trong ao hay là những con chó của Pavlov.
Ngoài ra, còn một “thức ăn phụ trợ” khác công hiệu. Đó là bộ máy tuyên truyền khổng lồ, chằng chịt từ trung ương xuống thôn xã, bản làng, liên tục đập vào não trạng con người ngay từ thưở thiếu thời. Bất kỳ nguồn thông tin nào bất lợi cho sự độc quyền cai trị của Đảng đều bị ngăn chặn. Những mầm mống phản kháng ngay lập tức bị đè bẹp, đời sống của gia đình, người thân bị phong toả đến bần cùng…
Cho nên, lúc còn là học sinh, tay còn vương mực tím, khi ông Hồ chết, tôi và các bạn tôi cùng thời đã chảy dài nước mắt, cũng không có gì là lạ. Đúng ra, chúng tôi nên được chia sẻ, được thương hại, tội nghiệp.
Nhưng nhờ Trời, ngay trong năm thứ nhất học đại học, tôi đã nhanh chóng nhận ra lẽ thường phải có ở đời, sự bất công và bất nhân của chế độ cộng sản. Nó tước đi của con người đời sống riêng tư, cá tính và những quyền tự do tối thiểu nhất. Chúng tôi bị Toà đại sứ Việt Nam tại Ba Lan cấm không được yêu đương, không được mặc quần jeans ra ngoài đường, không được khiêu vũ, không được đến thăm nhà người bản xứ, không được đi lao động kiếm thêm tiền trong dịp nghỉ Hè, v.v… Một ngàn lẻ một thứ cấm ! Hàng tuần họp chi đoàn, viết bản tự kiểm. Lơ mơ là bị trục xuất về nước !
Và tôi lơ mơ, xé rào nên bị trục xuất thật. Vừa đặt chân tới ga xe lửa Hàng Cỏ, Hà Nội, chưa kịp xuống tàu, hai công an đã xông lên chỗ ngồi và áp tải tôi vào trại giam, sau đó lãnh án tù hai năm về tội yêu và trốn ở lại nước ngoài. Ra tù, lận đận mãi tôi mới xoay được việc làm và quay lại Ba Lan năm 1989, đúng lúc chế độ cộng sản Ba Lan sụp đổ. Làm nhân chứng của 20 năm xây dựng thể chế dân chủ ở Ba Lan với muôn vàn khó khăn nhưng thành quả phát triển giành được thấy rõ qua từng năm tháng, nhãn quan chính trị của tôi thay đổi hoàn toàn. Tôi được tỉnh ngộ qua liệu pháp điện áp của thực tế một xã hội từ chế độ cộng sản chuyển sang dân chủ tự do, cho mình cơ hội nhìn nhận, phân biệt Ác và Thiện. Quy trình tiến hoá bình thường của tôi được tái hiện, từ “con cá của Bác Hồ”, “con chó của Pavlov” lên làm người. Tôi lột xác cùng với những thăng trầm của tiến trình dân chủ hoá ở Ba Lan và Đông Âu.
Ba Lan tự do đã đưa sự thật lịch sử ra ánh sáng và công lý. Quá khứ đã chứng minh không thể chối cãi rằng, chế độ cộng sản tồn tại thực chất nhờ dối trá và bạo lực. Những người cộng sản không thèm nghe ai khi thấy phương hại đến độc quyền lãnh đạo của họ, cho dù những lời khuyên đó có mang lại lợi ích cho đất nước đến đâu. Chỉ khi bị áp lực tranh đấu mạnh mẽ của quần chúng, bị thất bại, bị dồn vào thế cùng, họ mới làm ra vẻ hướng thiện hoặc nhượng bộ. Nhưng khi có sức mạnh và nhất là lúc thành công, họ tự mãn, cao ngạo, và độc ác gấp bội. Bản chất lưu manh, cướp giật của họ, theo thời gian càng ngày càng lộ liễu. Họ biến thù thành bạn, biến bạn thành thù tuỳ theo tình huống có lợi cho sự bảo đảm quyền lực. Họ là bậc thầy của sự tráo trở, lật lọng và bội bạc. Quan điểm phải hợp tác với cộng sản để cải tạo cộng sản, có cách nói cho cộng sản nghe, đã chứng tỏ tính chất xuẩn ngốc của nó qua hậu quả việc làm của rất nhiều người từ hàng chục năm nay. Chưa có vị “quân sư” nào làm cộng sản thay đổi được bản chất, ngược lại, họ thường bị phản phé, ngược đãi và chịu chung một bi kịch giống nhau. Rốt cuộc họ chỉ là những kẻ bị phấn khích hoặc có tâm thức bất bình thường, thích đi theo vết xe đổ.
Thiếu tự do và thông tin với bên ngoài, con người không thể nào có đủ kiến thức để nhìn nhận, so sánh các mô hình sinh hoạt xã hội khác, cho nên đại bộ phận người Việt trong chế độ cộng sản, nhất là nông dân, cứ tưởng rằng, cái ao, cái cũi mà trong đó mình đang được Đảng ban phát là “đỉnh cao chói lọi” rồi.
Mẹ kiếp! Nhốt người ta lại, bưng tai, bịt mắt, chỉ mở cho nhìn, cho nghe những gì mình muốn áp đặt, cùng với sự đe doạ mạng sống thường trực – rồi bảo “dân trí thấp”, “dân tộc chưa trưởng thành”. Nói thế có khác gì trói chân, buộc tay thằng bé, cho ăn uống nhỏ giọt, cách ly với sông nước, rồi phán nó chậm lớn, không có khả năng biết bơi. Đểu giả, mất dạy cỡ này là cùng!
Vậy mà, lạ lùng thay, có những người không sinh ra trong chế độ ấy, đầu đã hai thứ tóc, mà giờ đây bắt đầu muốn yêu Bác Hồ như thế hệ chúng tôi mấy chục năm trước đây !
Lạ lùng nữa, vì những người ấy đã tháo thân chạy khỏi chế độ cộng sản và được lớn lên, ăn học, trở thành kỹ sư, giáo sư, tiến sĩ ở các quốc gia dân chủ, tự do.
Lạ lùng hơn, vì những người ấy, được gọi là trí thức, không thể không biết đến tội ác mà chủ nghĩa cộng sản toàn trị đã gây ra cho nhân loại nói chung và đối với dân tộc Việt Nam nói riêng trong suốt gần một thế kỷ.
Lạ lùng đến kinh ngạc, vì những bi kịch Cải cách Ruộng đất, Nhân Văn Giai Phẩm, vụ Xét lại Chống Đảng, Thảm sát Tết Mậu Thân Huế 1968, Cải tạo Tư bản, Tư thương miền Nam sau 1975, Chiến dịch bán bãi thu vàng, các vụ án Minh Phụng-Epco, Năm Cam, PMU 18, PCI, vân vân và vân vân… – chẳng mang đến cho họ một chút ý thức gì về dã tâm khủng khiếp và ghê tởm của lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam.
Không biết bị ám bởi phản xạ có điều kiện nào qua “thức ăn phụ trợ” của thời “đổi mới”, “tăng trưởng”, “phát triển”, “vươn ra biển lớn”, mà giữa lòng Hà Nội xuất hiện một sự đảo ngược tiến trình tiến hoá của loài người. Cả ngàn con người đang no cơm ấm cật, xiêm áo chỉnh tề, bỗng dưng biến thành đàn cá Bác Hồ, bầy chó của Pavlov, “hân hoan”, “hồn nhiên” hát bài “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”. Và rồi sau khi kết thúc thắng lợi ra về, cùng nhau đồng ca điệp khúc: "dân trí Việt Nam còn thấp”, “dân tộc ta chưa trưởng thành” nên chưa thể vươn tới tiến trình dân chủ hoá.
Bệnh này coi bộ hết phương cứu chữa !
Warsaw, Ba Lan 20/12/2009
http://ledienduc. wordpress. com
Friday, January 28, 2011
NGUYỄN QUANG DUY CÀNG NGÀY CÀNG LỘ DIỆN NHỮNG LUẬN ĐIỆU ỠM Ờ CỦA VIỆT CỘNG.
***Mt68:
Chuyện "Hòa giải" là luận điệu cũ rích của Việt Cộng, không ai còn mắc mưu như Nguyễn Quang Duy nữa cả ! Thật ra đồng bào Việt Nam với nhau dù thời nào cũng không có gì cần phải hòa giải với nhau cả.
Nếu chế độ độc tài, độc đảng của VIỆT CÔNG CHẤM DỨT thì tự nhiên dân tộc VN không có gì mà phải xung khắc hay cần hòa giải gì với nhau cả.
NHƯNG ĐỐI VỚI VIỆT CÔNG thì nhứt định vì thù hận ĂN CƯỚP của chúng mà chúng tôi tin rằng không ai có thể tha thứ cho chúng.
Cho nên tóm lại:
1- Với đồng bào ngoài đảng Việt Cộng ăn cướp ác ôn ra thì "KHÔNG CẦN HÒA GIẢI" , vì đồng bào không có thù hận gì với nhau.
2- Còn đối với Việt Cộng thì thù oán đã ngút ngàn cho nên "KHÔNG THỂ NÀO HÒA GIẢI" với chúng.
Ông Nguyễn Quang Duy ơi !
Ông viết nhiều bài có khuynh hướng Vịt Tiềm sẽ càng tạo họa cho ông nhiều hơn ! Như bài mới đây với cái tựa " (VC) ... nhứt quyết đổi mới gì đó ?" - Ông Duy ở Melbourne mà làm sao ông dám QUẢ QUYẾT là "VIỆT CỘNG NHỨT ĐỊNH ĐỔI MỚI" chứ ??? - Ông Duy hơi quá khờ chăng ??? Nếu chúng " nhứt định đổi mới" thì mục đích vẫn là "đổi mới để VC tồn tại" , CHỨ KHÔNG PHẢI ĐỔI MỚI để cho dân được hưởng bình an, tự do dân chủ đâu ông Duy !!!
Ông Duy hồ ... khởi cái kiểu đó sao mà càng ngày càng giống cò mồi quá vậy Ông Duy ....??? Có ăn Vịt tiềm ngon quá ... thì cũng cần chùi mồm sạch sẽ một chút để ra đường ... thiên hạ khỏi phát ói; khi nhận thấy miếng mỡ vịt tiềm còn nguyên ở chỗ ... mồm thì dù cho ăn nói với tư cách khạc sĩ đi nữa cũng là gợi buồn nôn thôi ông à !!!.../- mt68
Xuân Hòa Giải Dân Tộc.
Nguyễn Quang Duy
Mọi tập thể, mọi xã hội, mọi dân tộc đều tồn tại những bất đồng, những tranh chấp cần được hòa giải. Mỗi tập thể, mỗi xã hội, mỗi dân tộc có phương cách gỉai quyết bất đồng và tranh chấp khác nhau. Người Việt từ ngàn xưa đã xây dựng một quan niệm sống bao dung, hoà đồng dân tộc. Quan niệm này dựa trên tình cảm, tránh bất đồng, tránh tranh chấp. Theo truyền thống cha ông để lại người quốc gia luôn chủ trương “lấy tình thương xóa bỏ hận thù” và “đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo”. Chủ trương này đã gặt hái nhiều kết quả hết sức tốt đẹp. Như chỉ trong vòng mười năm Chính sách Chiêu Hồi của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã đón nhận trên 200 ngàn cán binh cộng sản buông súng tìm về tổ ấm quốc gia. Thật khó mà tính hết những tang thương cho dân tộc nếu các cán binh này vẫn tiếp tục cầm súng chống lại quân đội quốc gia và tàn sát dân lành vô tội. Tại các quốc gia dân chủ, người lãnh đạo quốc gia không phải chỉ đại diện cho đa số mà là đại diện cho tòan dân. Vì vậy những người lãnh đạo quốc gia được đa số bầu lên luôn cố gắng hòa giải dân tộc. Nhất là hòa giải các khác biệt từ quá khứ. Cũng tại các quốc gia dân chủ, luật pháp công bằng là phương tiện hòa giải mọi tranh chấp cá nhân hay tập thể. Các tổ chức quốc tế cũng nhận lãnh vai trò hòa giải giữa các dân tộc và quốc gia trên thế giới. Hòa giải dân tộc có thể xem là một quá trình chấp nhận sự thật để giảm thiểu phân hóa xã hội và cùng hướng về tương lai. Tiến trình hòa giải dân tộc thường được liên tục thực hiện qua nhiều giai đọan. Tại Úc việc hòa giải giữa người gốc Anh và thổ dân được khởi đầu từ thập niên 1960. Năm 1967, qua một cuộc trưng cầu dân ý người Úc đã đồng ý tu chính Hiến Pháp công nhận quyền công dân của người thổ dân. Đến năm 2008, cựu thủ tướng Kevin Rudd đã chính thức xin lỗi việc làm sai lầm các chính phủ trước đây. Vừa rồi Thủ tướng Julia Gillard tuyên bố sẽ có trưng cầu dân ý vào năm tới 2011 để tu chính Hiến Pháp công nhận người thổ dân là cư dân đầu tiên trên lục địa Úc. Các chính phủ Úc luôn luôn tìm mọi cách hòan chỉnh các chính sách nhằm nâng đỡ người thổ dân, giữ gìn văn hóa, phong tục và lãnh thổ ông cha người thổ dân để lại. Bài viết xin chứng minh đảng Cộng sản không chủ trương hòa giải dân tộc, quá trình hòa giải dân tộc đang được thực hiện bởi các thành viên trong cộng đồng dân tộc và đảng Cộng sản lo sợ việc hòa giải dân tộc sẽ dẫn đến sự sụp đổ của chế độ cộng sản tại Việt Nam . Phân hóa dân tộc từ chủ trương cướp và cầm quyền bằng bạo lực cách mạng Từ những năm 1930, đảng Cộng sản thay vì đấu tranh giành độc lập cho đất nước, tự do cho dân tộc, lại tin theo chủ nghĩa Mác Lê, lấy đấu tranh giai cấp làm chính cương, lấy khẩu hiệu "trí, phú, địa, hào đào tận gốc trốc tận rễ" lấy bạo lực cách mạng làm phương tiện tiêu diệt mọi thành phần quốc gia, cướp và nắm giữ quyền lực quốc gia. Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chánh Pháp và trao quyền cho Hòang Đế Bảo Đại. Chính phủ Trần trọng Kim được thành lập, vừa lo nạn đói, lo cải cách xã hội và giáo dục, lo soạn thảo hiến pháp, lo xây dựng một chính quyền dân chủ. Việt Minh ngược lại xây dựng bạo lực để nổi dậy cướp chính quyền. Trong tình hòa giải hòa hợp dân tộc, ít nhất năm lần chính phủ Trần Trọng Kim đã tiếp xúc với đại diện Việt Minh mời hợp tác nhưng không thành. Sau đó đến lượt người Nhật đầu hàng Đồng Minh. Ngày 19/8/1945, Việt Minh cướp được chính quyền, Hòang Đế Bảo Đại phải thóai vị. Bước đầu đảng Cộng sản còn liên hiệp với các tổ chức quốc gia, nhưng khi đã củng cố được quyền hành đảng Cộng sản quay súng tiêu diệt mọi tổ chức hay cá nhân không theo cộng sản. Từ đó đảng Cộng sản từng bước cướp đi mọi quyền làm người của người Việt Nam . Những quyền mà ông cha ta đã phải đổ bao xương máu giành lại từ Tàu Tây Nhật. Phân hóa dân tộc từ chiến tranh do cộng sản gây ra Người Pháp quay lại Việt Nam, họ cương quyết không trao quyền cho Hồ chí Minh vì biết rõ ông là một cán bộ Quốc Tế Cộng sản và Việt Minh chỉ là một tổ chức ngọai vi của đảng Cộng sản Quốc Tế. Người Pháp chính thức trao trả độc lập cho Cựu hoàng Bảo Đại để đứng ra thành lập chính quyền Quốc Gia. Vì muốn đảng Cộng sản nắm được độc quyền chính trị Hồ Chí Minh đã quyết định tiếp tục chiến tranh tiêu diệt chính quyền, quân đội, mọi cá nhân, mọi tổ chức Quốc gia. Năm 1979, khi khai chiến với Trung cộng, đảng Cộng sản Việt Nam công khai phổ biến tài liệu tố cáo tất cả các chiến tranh Đông Dương đều nằm trong một chiến lược toàn cầu do Mao Trạch Đông đề xướng. Theo tài liệu, Mao đã không hề che giấu ý đồ dùng Đông Dương làm bàn đạp và đảng Cộng sản Việt Nam làm tay sai để bành trướng phong trào cộng sản xuống các nước Đông Nam Á. Chính vì vậy chiến tranh đã lan rộng khắp Đông Dương và càng ngày càng trở nên khốc liệt hơn. Cuối cùng đảng Cộng sản Trung Hoa đã chỉ thị cho đảng Cộng sản Việt Nam ký hiệp định Genève với Pháp chia đôi đất nước.
Tại miền Bắc, đảng Cộng sản cho thi hành đấu tranh giai cấp, cải cách ruộng đất, nhân văn giai phẩm, cải tạo công thương nghiệp, xét lại chống đảng, … gây bao tang thương đổ vỡ cho dân tộc. Khi đã kiểm sóat được miền Bắc, đảng Cộng sản đã xé bỏ các hiệp định quốc tế Genève và Paris để xua quân cưỡng chiếm miền Nam , đưa cả nước vào nhà tù cộng sản. Sau khi chiếm được miền Nam, đảng Cộng sản lại đưa đất nước vào chiến tranh biên giới Tây Nam để xâm lấn và thống trị Cam Bốt (1975-1989) và chiến tranh biên giới phía Bắc với “bá quyền” Trung cộng (1979-1989). Cả hai cuộc chiến đều từ những mâu thuẫn nội bộ ba đảng Cộng sản Trung Hoa, Việt Nam và Cam Bốt. Các cuộc chiến đã làm cho hàng triệu binh lính và thường dân vô tội Việt Nam bị chết hoặc bị thương. Chiến tranh còn làm phân hóa dân tộc chỉ mang lợi cho đảng Cộng sản đựơc tiếp tục cầm quyền và Trung cộng từng bước thực hiện chiến lược toàn cầu. Nói tóm lại, đảng Cộng sản đã và đang gắn liền với tội ác, nguyên nhân chính phát xuất từ việc đảng Cộng sản đã từ bỏ căn nguyên dân tộc để chạy theo ý thức hệ Mác – Lê, lấy đấu tranh giai cấp và bạo lực cách mạng làm phương tiện cướp và nắm giữ quyền lực. Phân hóa dân tộc thiểu số theo Tàu bán nước Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, ải Nam Quan, thác Bản Giốc , vịnh Bắc Bộ và nhiều phần đất do ông cha ta để lại đã bị đảng Cộng sản dâng hiến cho Tàu. Đảng Cộng sản Việt Nam còn cấu kết với Trung cộng tận dụng mọi tài nguyên đất nước. Ngay trong lãnh hải Việt Nam ngư dân Việt Nam mất quyền đánh bắt hải sản. Độc lập dân tộc không còn giữ được, càng ngày đảng Cộng sản càng lộ nguyên hình tay sai cho ngoại bang Trung cộng. Ngày 19/1 là ngày mà giặc Tầu đã cướp Hòang Sa của Việt Nam . Với người dân đây là một ngày để chúng ta nhắc nhở nhau một phần lãnh thổ ông cha đang còn trong tay giặc. Ngày 19/1 năm nay lại là ngày mà đảng Cộng sản tấn phong một ông vua mới, Nguyễn Phú Trọng để tiếp tục chiến lược tòan cầu mà Mao Trạch Đông đã vạch cho nhân dân Trung Quốc. Vừa mới lên ngôi ông vua cuối của triều đại cộng sản đã vội vã sửa sọan triều cống Bắc Kinh. Đúng là một triều đại đày ô nhục. Sáu mươi lăm năm cầm quyền Sau sáu mươi lăm năm cầm quyền, Việt Nam nay đứng đầu thế giới về tham nhũng, đang lâm vào khủng hỏang tòan diện và càng ngày khủng hỏang càng trở nên trầm trọng hơn. Mọi tiếng nói kêu đòi công bằng, tự do, dân chủ và bảo vệ tổ quốc, đều bị đảng Cộng sản bắt bớ, khủng bố, sách nhiễu... Đảng Cộng sản đang tiếp tục cuộc chiến thứ năm để chống lại đa số quần chúng không chấp nhận độc quyền cộng sản. Số người công khai đấu tranh giành lại tự do và dân chủ càng ngày càng đông hơn, bao gồm nhiều đảng viên cộng sản hay con em của họ. Những người này nay đã chấp nhận một sự thực là để tồn tại và phát triển Việt Nam cần đa nguyên đa đảng. Trên thực tế, dưới chế độ độc tài đảng trị hiện nay, mọi quyền lực và quyết định đều nằm trong tay một thiểu số cầm quyền. Đảng đây là nói về tầng lớp cầm quyền này. Còn đại đa số đảng viên gia nhập đảng Cộng sản chỉ vì cuộc sống. Và cũng vì cuộc sống chính họ sẽ đứng lên giải thể guồng máy vừa đầy tội ác vừa thối nát cần được thay thế. Việc này đã xảy ra tại các quốc gia Đông Âu và Liên Sô . Chủ trương đảng Cộng sản không phải là hòa giải dân tộc Đưa Tổ Quốc đưa Dân Tộc đến đường cùng, thế mà đảng Cộng sản chưa bao giờ có thiện chí hòa giải với dân tộc. Đảng Cộng sản đã trải qua mười một lần Đại Hội. Mười một Đại Hội với mười một Báo Cáo Chính Trị duyệt xét và đề ra hướng đi cho tương lai nhưng chưa một Báo Cáo nào nhắc đến hai chữ “hòa giải” dân tộc. Sau 30/4/1975, đảng Cộng sản sử dụng sách lược phân hóa “ta” (cộng sản) “ngụy” (quốc gia) để cai trị miền Nam . Hàng triệu “ngụy quân” và “ngụy dân” đã phải vào tù, phải đi kinh tế mới, phải tìm mọi cách để tránh xa cộng sản. Những người may mắn tìm được tự do đã thành lập Cộng Đồng Người Việt Tự Do. Ngày nay khi các lãnh đạo đảng Cộng sản xuất hiện tại hải ngọai đều phải đối đầu với các đòan biểu tình do người Việt tự do tổ chức. Thế mà, cái “Nghị Quyết 36” mặc nhiên xem họ nằm trong tầm kiểm sóat của đảng Cộng sản, chẳng đá động gì đến 2 chữ “hòa giải”. Nếu chúng ta xem hòa giải như là một quá trình chấp nhận sự thật để giảm bớt phân hóa và hòa hợp dân tộc, thì đảng Cộng sản lại xem chấp nhận hòa giải là tự sát. Chả thế mà Chủ tịch nhà nước cộng sản Nguyễn Minh Triết từng tuyên bố: “… khẳng định trước sau như một là chúng ta tiến lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải xây dựng Đảng của chúng ta. Dù ai nói ngả nói nghiêng, dù ai có muốn bỏ Điều 4 hiến pháp gì đó thì không có chuyện đó. Bỏ cái đó đồng nghĩa với chúng ta tuyên bố chúng ta tự sát, cho nên phải củng cố công tác chính trị tư tưởng, củng cố vai trò của Đảng…” Nói rõ hơn với chủ trương thống trị dân tộc đảng Cộng sản tiếp tục bằng mọi gía và làm mọi việc từ tiêu diệt đối lập, đàn áp quần chúng nhân dân, đến tay sai bán nước cho ngọai bang Trung cộng. Trong góp ý Đại Hội Đảng lần trứơc, cố Thủ tướng cộng sản Võ văn Kiệt đã viết "... Trong nhiều giai đoạn lịch sử của cách mạng Việt Nam, phương pháp tư duy “tả khuynh”, chủ quan, duy ý chí đã từng giữ vai trò chủ đạo. Chỉ khi nào phương pháp tư duy đó vấp phải những khó khăn, thất bại thì nó mới tạm thời rút lui, để luồng tư duy khách quan, giàu trí tuệ đóng vai trò chỉ đạo, sửa chữa sai lầm và khắc phục hậu quả… Những vấp váp, trì trệ và sự chững lại trong tiến trình Đổi Mới, nguyên nhân của nguyên nhân có phải chính là xu hướng giáo điều “tả khuynh” vẫn còn tồn tại, muốn co kéo, kiềm chế những tiềm lực phát triển, nhưng lại mang danh nghĩa bảo vệ Đảng, bảo vệ Chủ nghĩa xã hội, chống chệnh hướng." Nói như ông Kiệt thì chỉ khi gặp khó khăn đảng Cộng sản mới chịu lùi bước còn bản chất luôn là giáo điều, cực đoan, bảo thủ, lừa bịp … để thực hiện chủ trương thống trị dân tộc. Ngày 7-10-2010 vừa qua hơn 20 trí thức cộng sản đã gặp nhau trong một cuộc hội thảo khoa học tại Hà Nội để góp ý Dự Thảo Báo Cáo Đại Hội Đảng Cộng Sản lần thứ XI. Tất cả tham dự viên đều rất bi quan về tương lai của đảng Cộng sản Việt Nam vì “Dân không còn tin vào Đảng”. Giáo sư Trần Phương, nguyên Ủy viên trung ương đảng, chủ tọa Hội thảo dùng lời của Tổng Thống Hoa Kỳ Abraham Lincoln để diễn tả việc này “Người ta chỉ có thể lừa bịp được vài người trong mọi lúc, lừa được mọi người trong vài lúc; nhưng không thể lừa được mọi người trong mọi lúc!” Thật ra trong guồng máy độc tài chuyên chính, chính những người cộng sản cũng chẳng tin nhau, họ hành xử với nhau bằng lừa dối chỉ vì quyền lực và quyền lợi. Bà Dương Thu Hương, nguyên phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, dứt khóat tuyên bố “Đảng vẫn đặt Dân tộc sau giai cấp, Cương lĩnh như thế không tập hợp được lực lượng.” Những tham dự viên đều là những trí thức trong đảng Cộng sản. Họ góp ý cho và vì sự sống còn của đảng Cộng sản. Những góp ý thẳng thắn này cho thấy đảng Cộng sản đang trong trạng thái cực kỳ khủng hỏang niềm tin và tư tưởng. Những năm gần đây tầng lớp trí thức cộng sản tìm mọi cách thóat ly với “Đảng” để quay về hòa giải với các giai tầng xã hội khác. Họ công khai lên tiếng phản đối những sai lầm nghiêm trọng của đảng Cộng sản như nhựơng đất, nhượng biển, bán tài nguyên, bán rừng cho Trung cộng. Nhiều người như nhà báo Thiện Ý Tống Văn Công công khai tuyên bố đảng Cộng sản phải quay về với dân tộc, phải tách ra làm đôi, làm ba hay thành nhiều đảng nhỏ … Mặc cho mọi tiếng nói đối lập, đảng Cộng sản vẫn chưa chịu nhìn nhận sự thật để quay về hòa giải với dân tộc. Họ vẫn tìm mọi cách tuyên truyền dối trá, che dấu lịch sử, lừa bịp dân tộc. Họ khép cho những nỗ lực tiến hành tự do dân chủ và hòa giải dân tộc là hành động “tự diễn biến, tự chuyển biến” và nằm trong chiến lược “diễn biến hòa bình” do các thế lực phản động phát động. Tất cả những phát biểu trái với lập luận của thiểu số cầm quyền đều bị đe dọa hay bị đảng Cộng sản xuống tay đàn áp. Nhưng cũng chính sự độc đóan đàn áp mọi quan điểm khác biệt, người Việt trong và ngòai đảng Cộng sản mới tự nỗ lực tìm hiểu lẫn nhau, tìm ra sự thật để từng bước tự hòa giải dân tộc. Thật ra diễn biến hòa bình chỉ là quá trình tìm hiểu và chấp nhận sự thật để tiến đến hòa giải dân tộc. Đảng Cộng sản lại xem quá trình thay đổi suy tư chính trị một cách ôn hòa bất bạo động này trực tiếp thách thức độc quyền cai trị của họ. Xem ra đảng Cộng sản thực sự rất sợ những đòi hỏi hòa giải dân tộc. Việc đảng Cộng sản gia tăng bắt bớ còn cho thấy họ công khai ngăn chận mọi nỗ lực giải quyết cuộc khủng hỏang tòan diện bằng phương pháp công khai, ôn hòa và bất bạo động. Đấu tranh cho dân chủ để hòa giải dân tộc Ngày 6-4-2006, khởi đầu bằng lời "Kêu Gọi Cho Quyền Thành lập và Hoạt động Đảng Phái Tại Việt Nam" của 116 nhà đấu tranh dân chủ quốc nội lên tiếng đòi đảng Cộng sản phải huỷ bỏ hiến pháp giả tạo, thay thế bằng một hiến pháp văn minh dân chủ, phi chính trị hóa hệ thống quản lý quốc gia, kêu gọi các đảng dân chủ công khai hoạt động, các đảng viên công sản phản tỉnh rời bỏ đảng Cộng sản quay về với dân tộc, quân đội, công an và cảnh sát đứng về phía nhân dân và kêu gọi toàn dân đứng lên tự giải thoát khỏi những trói buột cuả đảng Cộng sản. Các vị cũng kêu gọi thế giới hổ trợ nhân dân Việt Nam đứng lên giành lại quyền làm chủ đất nước. Ngày 8-4-2006, Khối 8406 đã bắt đầu công khai họat động với hàng ngàn người tham gia. Kế tiếp là các đảng Dân chủ Việt Nam, đảng Thăng Tiến, đảng Vì Dân, đảng Dân chủ Nhân Dân, Công Đòan Tự Do, đảng Việt Tân đã từng bước công khai họat động. Các tổ chức chính trị cũng liên kết trong các công tác như rải truyền đơn kêu gọi tòan dân vùng lên giải thể chế độ cộng sản. Nhiều cá nhân không thuộc các đòan thể chính trị lên tiếng đòi đảng Cộng sản phải chấp nhận đa nguyên đa đảng và chấp nhận phải hòa giải với dân tộc. Lẽ đương nhiên cao trào dân chủ đã trực tiếp đe dọa đến độc quyền cai trị. Vì thế đảng Cộng sản đã ra tay đàn áp. Linh mục Nguyễn văn Lý, luật sư Lê thị Công Nhân, luật sư Nguyễn văn Đài, luật sư Lê công Định, Trần Hùynh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung và hàng trăm nhà dân chủ khác đã bị độc tài cộng sản khép tội bỏ tù. Điểm đặc biệt là đa số những nhà dân chủ bị cộng sản khép án lại là những người trẻ được giáo dục và trưởng thành dứơi chế độ cộng sản. Nhiều người thuộc thế hệ hậu duệ của những người cộng sản nhận ra sự thực lịch sử và thực trạng đất nứơc nên cất tiếng đòi đảng Cộng sản phải trả lại quyền tự quyết cho dân tộc. Lấy trường hợp anh Nguyễn Tiến Trung gia nhập quân đội nhưng nhất quyết không thề “trung với đảng”. Anh Trung tin rằng quân đội phải trung thành với tổ quốc, với đất nước, với dân tộc thay vì với đảng cầm quyền. Anh Trung còn hãnh diện là đảng viên Đảng Dân chủ Việt Nam và từng tuyên bố thi hành nghĩa vụ để quân đội trở nên đa đảng. Giới lãnh đạo quân đội đã bó tay chấp nhận cho đến ngày anh rời khỏi quân đội, bị bắt và bị khép án tù. Một trường hợp khác là Tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ. Ông Vũ là con nhà thơ Huy Cận và là con nuôi nhà thơ Xuân Diệu . Ông lấy tiến sỹ luật tại Pháp và mở văn phòng luật tại Hà Nội . Rõ ràng ông Vũ xuất thân từ tầng lớp quý tộc cộng sản và được đào tạo đã gia nhập tầng lớp thống trị cộng sản. Nhưng ông đã nhận ra sự thật từ chối lợi quyền để đứng về phía dân tộc. Ông Vũ công khai kêu gọi đảng Cộng sản hãy chấp nhận sự thật hòa giải với dân tộc. Ngày 5/11/2010, công an cộng sản đã dàn dựng một vở tuồng “xét phòng” để bắt giam và khép tội cho ông. Không khiếp sợ bạo quyền, từ trong tù ngày 18/1/2011 ông Vũ đã khẳng định 3 quan điểm mà ông sẽ tiếp tục đeo đuổi trước phiên tòa. Thứ nhất, mọi người Việt Nam chỉ có một Tổ Quốc là Việt Nam , việc đảng Cộng sản tuyên truyền “ Tổ Quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa" chỉ là xuyên tạc sự thật. Thứ hai, đa đảng là con đường duy nhất để thực hiện một nước Việt Nam thực sự dân chủ, toàn vẹn lãnh thổ, giàu mạnh, công bằng và văn minh. Và thứ ba việc liên minh quân sự với Hoa Kỳ là cấp thiết và quyết định trong việc giữ vững chủ quyền, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, thu hồi lãnh thổ bị Trung cộng xâm chiếm, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Quan điểm của ông Vũ cũng là quan điểm được đại đa số dân tộc đồng thuận nhưng lại hòan tòan trái ngược với quan điểm của thiểu số cầm quyền những người đang quyết tâm xây dựng một “xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc” (xin xem bài “Đại Hội Đảng Quyết Tâm Đổi Mới Kinh Tế Để Theo Kịp Trung Quốc”) Đàn áp tôn giáo Trong báo cáo thường niên 2010 về tự do tôn giáo, Ủy hội Hoa Kỳ về tự do tôn giáo đã đề nghị Bộ ngoại giao Hoa Kỳ đưa Việt Nam vào danh sách các quốc gia cần theo dõi. Báo cáo nêu rõ một loạt những hành động đàn áp tôn giáo bằng bạo lực và pháp luật độc đoán của nhà cầm quyền Việt Nam . Ngày 17/12/2010, Hạ viện Hoa Kỳ , đã thông qua nghị quyết H.Res.20 đưa Việt Nam vào danh sách các quốc gia “cần quan tâm đặc biệt” (CPC), vì đảng cầm quyền Cộng sản đã vi phạm nghiêm trọng quyền tự do tôn giáo. Phát biểu sau cuộc bỏ phiếu, tác giả của nghị quyết Dân biểu đảng Cộng hòa Ed Royce , đã tuyên bố như sau: “… nếu muốn có quan hệ chặt chẽ với Hoa Kỳ , thì Việt Nam phải tôn trọng các quyền tự do cơ bản của công dân nước mình, kể cả tự do tín ngưỡng.” Xem thường phản ứng của Hoa Kỳ, Giáng sinh 2010 vừa qua, nhiều tín hữu Tin Lành tại Hà Nội, Sài Gòn, Thanh Hóa, Bình Dương … đã bị công an cộng sản đàn áp đánh đập. Đảng Cộng sản xuống tay đàn áp tôn giáo vì họ không thể kiểm sóat đựơc các tổ chức tôn giáo và các vị lãnh đạo tôn giáo là những người có uy tín và khả năng huy động quần chúng vùng dậy giải thể chế độ cộng sản. Một thí dụ điển hình là gần nửa triệu giáo dân miền Bắc đã tập hợp cầu nguyện cho giáo xứ Tam Tài. Trước Đại Hội đảng Cộng sản, linh mục Nguyễn văn Lý cho phổ biến một lá thơ kêu gọi dân chúng hãy đồng lòng vùng lên giải thể chế độ cộng sản để thiết lập chế độ dân chủ đa nguyên đa đảng. Phản ứng lại Thủ tướng cộng sản Nguyễn Tấn Dũng vội vã ra Công điện hỏa tốc số 2402/CĐ-TTg ra lệnh cho công an sẵn sàng đàn áp để bảo vệ an ninh Đại Hội. Hai nạn nhân đầu tiên của Nguyễn Tấn Dũng lại chính là Tùy viên chính trị của Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ông Christian Marchant và Dân biểu Liên Bang Úc ông Luke Simpkins . Sự thật về ổn định chính trị của đảng Cộng sản đã được phơi bày. Dấu hiệu sụp đổ từ bên trong chế độ Đại Hội Đảng lần này có một điều khá đặc biệt là các lãnh đạo “Đảng” công khai đấm đá lẫn nhau. Dư luận tin rằng Nguyễn phú Trọng dùng Quốc Hội, Trương Tấn Sang sử dụng báo chí đánh Nguyễn Tấn Dũng. Nguyễn Phú Trong lấy Quốc Hội để đánh Nguyễn Tấn Dũng. Diễn đàn mạng của “Chính phủ Việt Nam” công khai đăng loạt ba bài phê phán một số đại biểu quốc hội có dấu hiệu lạm quyền và gây hoang mang dư luận. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử các phe phái trong “Đảng” công khai sử dụng phương tiện truyền thông của “Đảng” để công khai tranh giành quyền lực cá nhân. Dư luận tin rằng đằng sau Trọng, Sang và Dũng là những Tập Đòan Tư Bản Đỏ đang công khai tranh giành quyền lợi. Những công khai tranh chấp nội bộ được báo chí triệt để khai thác. Nhờ thế người dân đã nhận ra khả năng điều hành kinh tế của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam . Vụ Vinasin chưa giải quyết xong, khủng hoảng tài chính xuất hiện, giá vàng, đô la tăng vụt, kéo theo lạm phát phi mã ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống hằng ngày của mọi tầng lớp dân chúng. Xã hội thì phân cách giàu nghèo mỗi ngày một gia tăng. Việc người dân đụng độ với chính quyền địa phương vì nhiều lý do khác nhau càng ngày càng xẩy ra thường xuyên hơn và gay gắt hơn. Trong Hồ chí Minh Toàn tập, tập 7, trang 358, Hồ Chí Minh đã diễn tả phản ứng của “giai cấp địa chủ” trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất: "như con giun không biết nhảy, khi ta giẫm lên nó, nó cũng giãy trước khi chết”. Sau sáu mươi lăm năm thống trị, ngày nay tầng lớp lãnh đạo của đảng Cộng sản đã trở thành một tầng lớp thống trị. Việc đảng Cộng sản điên cuồng đàn áp bắt bớt và công khai tranh giành quyền lực đã phản ảnh lời tiên đóan của Hồ chí Minh tầng lớp thống trị cộng sản “cũng giãy trước khi chết”. Về mặt quân sự, Hoa Kỳ đã thay đổi chiến lựơc Biển Đông và đảng Cộng sản đang phải chọn một trong hai: “theo Tàu mất nước, theo Mỹ thì mất đảng”. Đảng Cộng sản cũng lộ rõ lo sợ Quân đội Nhân Dân Việt Nam sẽ đứng về phía người dân để giải thể chế độ như đã từng xảy ra bên Đông Âu và Nga. Ngay cả nếu đảng Cộng sản tiếp tục theo Tàu thì chính ngay Thủ tướng Trung cộng Ôn Gia Bảo cũng đã công khai cảnh cáo nguy cơ của đảng Cộng sản Trung Quốc nếu không “cải cách để dân chủ hóa xã hội” thì chế độ cũng chỉ tính theo ngày. Trung cộng mà sụp đổ thì lấy ai để bảo vệ Bộ Chính Trị và Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam ? Trong thời gian gần đây một số cán bộ đảng viên cộng sản cũng kêu gọi hòa hợp hòa giải dân tộc. Người quốc gia cũng cần hết sức cảnh giác trong quá khứ mọi hình thức hòa hợp, liên hiệp hay liên kết với đảng Cộng sản chỉ sau một thời gian ngắn đều bị đảng Cộng sản tiêu diệt. Vì vậy khi đảng Cộng sản vẫn chủ trương không chấp nhận sự thật họ đã gây cho đất nước cho dân tộc, vẫn tiếp tục đàn áp, khủng bố dân lành, vẫn áp dụng sách lược chia để trị thì hòa hợp trên bất cứ phương diện nào với đảng Cộng sản cũng chỉ là đầu hàng, cứu nguy và tiếp tay với tội ác. Nhắc đến điều trên để thấy công cuộc đấu tranh cho tự do và dân chủ đang đi đúng hướng là dứt khoát, triệt để, thay đổi tận gốc tận rễ để các thành phần cuồng tín cực đoan tay sai cho ngọai bang Trung cộng trong đảng Cộng sản không còn cơ hội thao túng. Mặc dù theo quan niệm sống bao dung, sống hoà đồng, dân tộc Việt không bao giờ chấp nhận những kẻ cầm quyền bán nước. Việt Nam phải trở thành một quốc gia không cộng sản. Trong khi đảng Cộng sản đang lâm vào tình trạng bế tắc thì những người trẻ đấu tranh cho hòa giải dân tộc, cho dân chủ cho tự do như Luật sư Lê thị Công Nhân, Luật sư Nguyễn văn Đài, Luật sư Lê công Định, Luật sư Cù Huy Hà Vũ, Trần Hùynh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung, Phạm Hồng Sơn, Đỗ Nam Hải ... và nhiều người trẻ khác có cơ hội thử thách để sẵn sàng nhận lãnh trách nhiệm lãnh đạo một Việt Nam Tự Do Dân Chủ. Những điều kiện Quốc Tế và tình hình trong ngòai đảng Cộng sản cho thấy một vận hội mới cho dân tộc đang diễn ra. Những điều kiện đang chín mùi để những người đấu tranh chủ động hướng dẫn tòan dân vùng lên giải thể chế độ cộng sản. Ngày chế độ cộng sản sụp đổ sẽ là ngày vui cho tòan dân tộc. Trong chủ trương hòa giải dân tộc sẽ là ngày đại ân xá cho các lầm lỗi mà các cán bộ đảng viên cộng sản đã mắc phải vì nằm trong guồng máy “Đảng”. Lẽ đương nhiên phải lọai trừ thiểu số đang tiếp tục gây tội ác và sẽ có những trường hợp cá nhân cần được xét xử trong vòng thượng tôn luật pháp. Những người lãnh đạo Việt Nam tương lai sẽ nhận lãnh trách nhiệm hòa giải để mọi người trong cộng đồng dân tộc vui mừng chia sẻ một mùa xuân cho tòan dân tộc Xuân Hòa Giải Dân Tộc. Chúc Mừng Năm Mới Nguyễn Quang Duy Melbourne, Úc Đại Lợi 26/1/2011
Bấm chữ "Older Posts" trên đây để xem tiếp .... Dưới Là Bài Cũ Theo Từng Tháng.
-
►
2006
(249)
- Jun 2006 (13)
- Jul 2006 (51)
- Aug 2006 (36)
- Sep 2006 (32)
- Oct 2006 (33)
- Nov 2006 (37)
- Dec 2006 (47)
-
►
2007
(2315)
- Jan 2007 (66)
- Feb 2007 (62)
- Mar 2007 (54)
- Apr 2007 (95)
- May 2007 (123)
- Jun 2007 (192)
- Jul 2007 (249)
- Aug 2007 (204)
- Sep 2007 (255)
- Oct 2007 (329)
- Nov 2007 (361)
- Dec 2007 (325)
-
►
2008
(3206)
- Jan 2008 (228)
- Feb 2008 (204)
- Mar 2008 (273)
- Apr 2008 (328)
- May 2008 (304)
- Jun 2008 (312)
- Jul 2008 (258)
- Aug 2008 (310)
- Sep 2008 (290)
- Oct 2008 (256)
- Nov 2008 (218)
- Dec 2008 (225)
-
►
2009
(1551)
- Jan 2009 (152)
- Feb 2009 (126)
- Mar 2009 (139)
- Apr 2009 (148)
- May 2009 (183)
- Jun 2009 (164)
- Jul 2009 (145)
- Aug 2009 (100)
- Sep 2009 (102)
- Oct 2009 (117)
- Nov 2009 (94)
- Dec 2009 (81)
-
►
2010
(1605)
- Jan 2010 (111)
- Feb 2010 (115)
- Mar 2010 (122)
- Apr 2010 (132)
- May 2010 (146)
- Jun 2010 (129)
- Jul 2010 (191)
- Aug 2010 (147)
- Sep 2010 (125)
- Oct 2010 (133)
- Nov 2010 (131)
- Dec 2010 (123)



