*** VIỆT CỘNG ĐANG ĐẨY MẠNH KẾ HOẠCH THÀNH LẬP HỆ THỐNG "CÁC HỘI DOANH GIA VIỆT KIỀU" ĐỂ BIẾN THÀNH CÁC TỔ KINH TÀI VÀ TÌNH BÁO Ở HẢI NGOẠI. ***VIỆT CỘNG HÃY TỰ TRẢ LỜI:"AI-VĂN KIỆN NÀO ĐÃ GIAO CHO ĐẢNG CỘNG ĐỘC QUYỀN CAI TRỊ ĐẤT NƯỚC MUÔN NĂM ???" *** Rồi đây, Cờ máu Việt Cộng cũng sẽ biến mất như Cờ búa liềm Liên Sô. Đó là sự thực sau nầy ! *** HỒ CHÍ MINH là một tên LƯU MANH NHỨT THẾ GIỚI - Vì dám lấy TÊN GIẢ để làm QUỐC TRƯỞNG VIỆT CỘNG từ 1945 - Thế Giới chưa ai DÁM GẠT cả một dân tộc như vậy !!! ***Quảng Ba đã công khai gia nhập Phật Giáo Quốc Doanh Việt Cộng Hải Ngoại cùng với Như Huệ, Tâm Phương ... Quảng Ba tự xưng khơi khơi chức vụ Hoằng Pháp Úc-Tân Tây Lan không kèn không trống ... *** VỢ CHỒNG HENRY DANG (Đặng Văn Hiền, Gốc QGHC và đương kiêm Chủ Tịch Hội Đồng Hương An Giang) đã xác nhận CÙNG về Hà Nội dự VESAK là chuyện có thật 100% - Từ nay CẶP VỢ CHỒNG nầy sẽ không thể nào TRÀ TRỘN vào các sinh hoạt Cộng Đồng Tự Do như trước ... *** Linh Mục Bùi Đức Tiến, Bs. Trần Thanh Nhơn, Bs. Nguyễn Ngọc Hương mong Việt Cộng sống lâu để họ được trở thành THÁNH TỬ vì mượn từ thiện để đánh bóng tên tuổi cá nhân ...

Saturday, April 30, 2011

Quảng Trị - Khe Sanh & Những người Chiến Sĩ Vô Danh

Lê Lô


Tháng 4, tôi đến cổ thành Quảng TrịTừ hướng nam, tôi đi trên con đường tráng nhựa mà hơn ba mươi ba năm trước, các nhà báo gọi nó là Đại lộ Kinh Hoàng. Nơi đây cách thị xã Quảng Trị 10 cây số. Bên trái con đường là bãi cát trắng lẫn với màu đất đen. Những cụm nhà mái tôn rải rác bên đường dưới ánh nắng gần trưa. Không một bóng người. Bên phải con đường là bãi cát vàng khô khốc, thỉnh thoảng gió thổi thốc từng cơn, những cụm cát tung lên xòa ra trong nắng. Một căn nhà xập xệ chắp lại bằng những miếng tôn cũ trên đó có dòng chữ bằng sơn trắng “Sửa xe – Vá ép”, nơi cửa, một ông già ở trần ngồi trên bậc thềm, tay cầm quạt lá, tay kia chống cằm nhìn bâng quơ ra con đường nhựa vắng người.


Hàng vạn đồng bào từ Quảng Trị tản cư vào Huế
ngày 01/05/1972 Ngày 1 tháng 5 năm 1972, hàng vạn đồng bào từ Quảng Trị tản cư vào Huế. Cuộc tản cư và rút lui hỗn loạn đã biến đoạn Quốc lộ I ở quận Hải Lăng thành con đường xương máu khi quân Bắc Việt phục kích và nã pháo vào đoàn người di tản.Bao nhiêu xác người đã nằm xuống và con đường hôm nay đìu hiu thưa thớt. Ai đã khiêng cất xác họ, ai đã rửa chùi những đống máu, lau đi những óc não tung tóe, ai sắp lại những gan ruột phơi ra trầy trụa, ai đã đạp trên xác họ trên đường chạy lọan rồi gục xuống ở bước chân kế tiếp, chồng lên người đã chết, người chết sau ngã trên người chết trước. Nhất tướng công thành. Những thường dân vô tội. Những chiến sĩ vô danh. Tôi chưa đến tuổi lính vào những ngày máu lửa đó, vào những ngày máu xương đến phải gọi nó là Đại lộ Kinh Hoàng. Bây giờ, Đại lộ Kinh Hoàng mang tên Lê Duẩn. Tôi đang đi trên nó một buổi sáng vắng lặng yên bình, nhưng chợt ớn lạnh từng cơn như vô hạn oan hồn chồm lên quấn lấy hỏi han. Cơn gió đồng lướt thướt thổi qua.Tôi trèo lên xe, nói chạy nhanh đi vào thị xã. Tới một ngã ba, người tài xế rẽ phải vào đường Trần Hưng Đạo. Đó là một con đường nhỏ hơn, có một chứng tích duy nhất còn sót lại của thị xã Quảng Trị trong mùa hè đỏ lửa, trường Bồ Đề. Người ta nói số bom đạn đổ xuống thị xã trong 81 ngày đêm, kể từ ngày 30 tháng Ba năm 1972, có sức công phá mạnh gấp bảy lần trái bom nguyên tử thả xuống Nhật trong thế chiến hai. “Một viên gạch cũng bể làm tư”, người Quảng Trị nói rứa, chỉ riêng ngôi trường Bồ Đề còn đứng vững với bốn bức tường lỗ chỗ vết đạn bom. Đến một ngã tư, lại rẽ phải. Cổ thành Quảng Trị nằm phía tay trái, cách quốc lộ chừng hai cây số. Ở góc tường đầu tiên, rêu và cây dại mọc dày nhưng các vết đạn xoáy sâu vào lớp gạch tường đo đỏ vẫn còn hằn dấu rõ.

Quân đội VNCH tái chiếmQuảng Trị 1972Tôi nhớ như in bức ảnh chụp mấy người lính cắm cờ vàng ba sọc đỏ trên cổ thành đổ nát năm nào. Bây giờ người ta cho xây lại phần trên cổng thành, màu xám xi măng còn rất mới, có vẻ lạc lõng và chênh vênh trên dãy tường thành cũ kỹ. Bên trong thành, một con đường bê tông chạy thẳng từ cổng đến một cái đài cao xây theo hình một nấm mộ lớn, có bốn lối đi dẫn lên đài. Giữa trung tâm đài có một lư hương lớn, và một cái cột cao vút lên dựng bên cạnh một mái nhà mô phỏng một cổng tam quan.Tôi đứng trên đài cao nhìn xung quanh. Trừ các con đường nội bộ trong thành, còn lại là bãi cỏ xanh, các ghế đá công viên, ở một khoảng sân người ta trưng bày một hỏa tiễn chống máy bay.Tôi đứng lại một mình. Những tường thành như có một luồng khí lạnh tuôn ra làm sởn da. Có tài liệu nói rằng trong trận ác chiến dành lại cổ thành, quân đội Việt Nam Cộng Hoà chết gần mười ngàn người, bộ đội cộng sản cũng chết khoảng con số đó.Trong cổ thành này, xác người có thể sắp bên nhau dày đặc mặt đất trong thành. “Một viên gạch cũng bể làm tư”. Đó là một nhận xét có vẻ đơn giản nhưng thật kinh hoàng. Nhưng giờ đây người ta không coi đó là một trận địa đau khổ và mất mát, những người ở đây coi đó là một chiến thắng. Nếu có mất mát thì đó là cuộc hy sinh của riêng những người thắng trận sau cùng. Mấy năm trước tôi có coi một đoạn phim tài liệu 45 phút do Sở Văn hóa Thông tin Quảng Trị thực hiện với lời bình của Võ Nguyên Thủy, con của đại tướng Võ Nguyên Giáp. Họ chiếu các mũi tiến công của bộ đội cộng sản vào cổ thành khởi từ ngày cuối của tháng Ba năm 1972, những trận giao tranh ác liệt, các cảnh máy bay B52 rải bom. Khi bộ đội phải bỏ chạy qua bờ bắc của sông Thạch Hãn, họ bình luận “quân ta tổn thất khá nặng nề”. Mười ngàn người chết nhưng chỉ “khá nặng nề”, và cơ bản thì trận chiến mùa hè 1972 vẫn là “một thắng lợi lớn góp phần vào công cuộc giải phóng miền Nam”. Các nhà quân sự cộng sản chỉ cần gây tiếng vang, họ khát danh vọng bất kể mười ngàn lính nằm xuống để đổi lấy 81 ngày đêm giành dựt từng tấc đất một cách tuyệt vọng, bất kể hàng vạn dân thường gục xuống do những màn pháo kích bừa bãi từ trong núi nã xuống Đại lộ Kinh Hoàng. Những điều đó không được nhắc đến trong cả cuốn phim tài liệu…


Chỉ thấy chiến thắng, chiến thắng và chiến thắng!Một người bạn chụp hình chuyên nghiệp kể rằng vào đây mà không khấn vái thì khi rửa phim chỉ thấy một màu trắng xóa. Tôi tin điều đó. Trên đài tưởng niệm có một lư hương rất lớn, nhưng lư hương đó chỉ dành cho những người thắng trận cuối. Không có một lư hương chung cho tất cả những linh hồn vô danh lẩn khuất nơi đây, để những người sống có thể thắp hương cầu nguyện cho tất cả, không một ai.Tôi không thể đốt hương để cắm vào cái lư hương riêng biệt này. Vì thế tôi chọn cắm một nén hương vào hư không.
Đài Tưởng Niệmở Thành Cổ Quảng TrịNhà bảo tàng có hai tầng. Từ ngoài cửa chính đi vào có một sảnh chính bề ngang độ sáu, bảy thước, dài chừng mười mấy thước. Cách bức tường cuối sảnh độ một thước người ta dựng một tấm kiếng trong suốt hình vuông. Đằng sau tấm kiếng, sát tường là một ngọn đèn điện được gói bên ngoài một lớp giấy nửa xanh nửa vàng, dưới ngọn đèn chắc có dấu một cái quạt nhỏ thổi ngược lên để lớp giấy màu vàng luôn bay phần phật như ngọn lửa. Đó là ngọn lửa giả tượng trưng ngọn lửa thiêng. Trên tấm kiếng trong suốt có viết tên các đơn vị bộ đội đã tham gia chiến dịch “giải phóng thành cổ” năm 1972. Tôi đi lên tầng trên. Tầng này trưng bày các hiện vật và hình ảnh các bộ đội đang đánh nhau, sơ đồ cổ thành, mô hình trận đánh. Trong ngổn ngang chiến tích, đạn, bom, và súng cối đã rỉ sét có một cái bàn vuông nhỏ bên trên lộng kính, phía trong mặt kiếng có hai lá cờ vàng ba sọc đỏ xếp ngay ngắn, một vài món quân trang quân dụng và năm tấm hình căn cước của năm người lính Việt Nam Cộng Hòa. Có một mẫu giấy ghi chú đây là chiến lợi phẩm mà bộ đội tịch thu được trong cổ thành hồi 1972. Các hiện vật ở tầng này sơ sài, cách trưng bày lộn xộn và thiếu chuyên môn. Không gian trưng bày một trận chiến ác liệt với bao mất mát bị lấn lướt bởi chủ đề chủ đạo “chiến thắng”, biểu tượng qua tấm hình một anh bộ đội ngồi ôm súng cười rất tươi giữa cảnh hoang tàn đổ nát của cổ thành.Rời cổ thành chúng tôi băng qua sông Thạch Hãn, đến ngã ba rẽ vào đường số 9. Đường 9 Nam Lào. Mùa xuân năm 1971 Việt Nam Cộng Hòa mở cuộc hành quân Lam Sơn 719 tấn công qua biên giới Lào để phá hủy các căn cứ của Bắc Việt. Trục lộ hành quân chính là đường số 9 bắt đầu từ hướng cực đông là thị trấn Đông Hà.Tôi đã đọc nhiều tài liệu về con đường này, và giờ đây tôi đang đi trên đường 9, bắt đầu từ thị trấn Đông Hà. Mới hơn 10 giờ sáng nhưng cả thị trấn vắng vẻ như không có nhiều người. Đường 9 Nam Lào bây giờ đã tráng nhựa và khá rộng để hai chiếc xe tải tránh nhau dễ dàng. Con đường này sẽ qua Cam Lộ, Cà Lu, Khe Sanh, Làng Vei, Lao Bảo cho đến biên giới Lào. Đường 9 Nam Lào chỉ có trong mường tượng từ ký ức qua các tài liệu thời chiến, hình dung các cuộc chuyển quân, những người lính gian khó, các trận đánh dữ dội, những con gió lào oi bức, có những khúc đường hẹp phải dùng xe ủi đất mở đường, cây cối hai bên um tùm. Bây giờ đây trước mắt là một con đuờng buồn, một thị trấn lặng lẽ, những căn nhà hai bên đường không đóng cửa, nhìn suốt vào trong cũng không thấy người. Lời của một bài hát vào năm 1972 vang lên “… anh đã về Gio Linh, Cam Lộ, Đông Hà…”.


Dưới ánh nắng trải đều dù không thấy dấu vết sót lại của những ngày chiến tranh khốc liệt, ít nhất cũng như vậy trong con mắt dân sự, nhưng từng vùng đất đi qua đều gợi lên ký ức chiến tranh vì nó nổi danh vì chiến tranh, những cái tên ngọt ngào nhưng đau khổ như Cam Lộ, như Khe Sanh. Bây giờ bên phải là núi, bên trái là dòng sông Đakrông lấp lánh nắng mai ở cây số 46 của đường 9 (tính từ đoạn bắt đầu ở thị trấn Đông Hà). Có một cái cầu treo bắt ngang sông giữa hai đầu núi, cầu Đakrông, đoạn đầu của Đông Trường Sơn. Bên kia cầu là đường 14A đưa vào A Lưới và A Shầu (người Mỹ đọc là A Shau), đèo Mạ Ơi, những quả đồi đầy tan tác thời chiến như Hamburger, Bastone.Năm 1969 quân đội Hoa Kỳ quyết định mở chiến dịch giải tỏa Thung Lũng A Shầu với sự tham dự của nhiều đơn vị Thủy Quân Lục Chiến,Thiết Giáp, Không Quân và Bộ Binh… Tờ mờ sáng ngày 10 tháng 05/1969, chiến dịch Apache Snow bắt đầu. Giờ H là 7 giờ 30.Đã gần giữa trưa, hai bên cầu trẻ con người thiểu số tan học tung tăng đi về hướng A Shầu. Tất cả bọn chúng mặc áo quần màu đen, chân đất, nước da đen xoắn khoẻ mạnh nhưng khuôn mặt hốc hác, trông chúng thật ngô nghê và lạc lõng trên con đường tráng nhựa và cây cầu treo đẹp đẽ mới khánh thành. Dưới kia là sông chảy, bên này là núi, bên kia là những ngọn đồi xanh nối nhau dưới bầu trời xanh trong, một con đường láng nhựa, một cột mốc đánh dấu đường Trường Sơn.Ngày 9 tháng 2 năm 1968, một tiểu đoàn quân Bắc Việt tấn công Đồi 64 do Thủy Quân Lục Chiến Mỹ trấn giữ, tràn ngập nhiều vị trí phòng thủ.Ngang Khe Sanh, chúng tôi băng ngang ngã ba dẫn vào căn cứ (quân sự) Khe Sanh để đi thẳng lên Lao Bảo. Khúc đường này đang xây dựng lở dở, bụi đỏ mờ mịt, nhà cửa hai bên đường tràn ngập bụi đỏ. Nắng khô khốc tưởng chừng cả vùng này rất khó tìm ra một giọt nước. Thỉnh thoảng các xe đò mang bảng số Lào chạy ngược chiều chở các đoàn khách du lịch hướng về Quảng Trị. Đến trung tâm chợ biên giới Lao Bảo thì trời đã đứng bóng. Đây là một chợ biên giới gồm một khách sạn khá lớn xây sát sườn chợ gồm hai khu nhà tròn và một khu ăn uống bình dân. Một đứa bé chạy ra mời ăn cơm: “Mi có chi ăn?”. Thằng bé nhanh nhẩu: “Chi cũng có đủ”. Khu ăn uống bình dân chỉ có hai quán bán cơm và toàn thức ăn khô, “có đủ” ba món là cá nục kho, cá ngừ kho và cà pháo dầm nước mắm.


Như vậy cũng đủ ăn một buổi trưa biên giới, mua sắm một ít hàng lậu tuôn từ Lào qua. Mấy tháng trước, tôi mướn một chiếc xuồng ba lá trốn công an biên phòng để vượt biên từ Châu Đốc qua chợ Gò nằm bên kia đất Cam Bốt. Chợ Gò nhộn nhịp, người bán xởi lởi tỏ rõ phong độ ngang tàng của sông nước miền Nam. Ở Lao Bảo, người bán khô khan ít nói như cái nóng của miền Trung. Cả khu chợ hàng hóa nhiều và trật tự hơn chợ Gò nhưng có cái không khí trầm trầm lặng lẽ. Chúng tôi lên xe chạy ngược về con đường bụi đỏ. Bên trái, những quả đồi nằm chịu trận dưới mặt trời bốc lửa. Đến Làng Vei, nằm nửa đường từ đoạn Lao Bảo – Khe Sanh, chúng tôi ngừng xe để ngắm dòng sông chảy dịu dàng bên dưới.Rạng sáng ngày 7 tháng 2 năm 1968, bộ đội Bắc Việt có chiến xa yểm trợ tấn công và tràn ngập trại Lực Lượng Đặc Biệt ở Làng Vei. Đoạn từ Làng Vei về lại Khe Sanh bằng phẳng, bên trái có vài nương rẫy của đồng bào thiểu số. Chúng tôi băng qua trung tâm Khe Sanh đã qua trưa, ngôi chợ lồng vắng vẻ như cả thị trấn đều ngưng hoạt động, đến ngã ba thì rẽ trái vào căn cứ (quân sự) Khe Sanh.Ngày 23 tháng 2 năm 1968, quân Bắc Việt pháo 1.300 quả đại bác vào Khe Sanh trong 8 tiếng đồng hồ. Mười lính Mỹ chết.Đường đi phi trường Tà Cơn, một phi trường quân sự của Mỹ thời chiến, hẹp hơn đường 9 nhưng cũng đã tráng nhựa bằng phẳng. Phi trường nằm cách đường cái chừng cây số, có cổng rào và trạm gác thu phí tham quan. Trên bãi sân ngổn ngang cỏ mọc người ta trưng bày một trực thăng UH và hai trực thăng chuồn chuồn.Ngày 11 tháng 2 năm 1968, hai vận tải cơ C-130 đáp xuống Khe Sanh. Một chiếc nổ tung vì trúng đạn pháo kích.Gần đây, Bộ Quốc Phòng Mỹ nói họ đã xác định được danh tánh bốn quân nhân Mỹ chết trên đồi 665 vào đầu tháng 5/1967, và hài cốt của bốn người lính này đã được đưa về Mỹ.


Sau 37 năm nằm yên trong vùng đất Khe Sanh, bốn quân nhân chết trong độ tuổi 20 đã trở về quê hương, được vinh danh ở Nghĩa trang Quốc gia Arlington. Còn những ngọn đồi 471, 552, 665, 689… thì vẫn xanh cỏ mọc. Còn bao nhiêu xương cốt của Mỹ, của Nam Việt Nam, của Bắc Việt Nam vùi sâu nơi ấy.Con đường rời Khe Sanh từ hướng Tây, băng qua đèo Ai Lao để về lại Cam Lộ trông hùng vĩ hơn. Nhiều đoạn đèo đang được thi công nâng cấp, đất cát lổn chổn trộn với bụi đỏ bay mịt trời. Mấy cái cần cẩu đang nâng lên hạ xuống ở một cây cầu đang xây mới cạnh chiếc cầu cũ bắc ngang một vực sâu ngay một khúc quành gắt như cùi chỏ. Đoạn đường này hẹp, nếu có một chiếc xe đi ngược chiều thì không biết tài xế sẽ xoay xở ra sao. Lấp lánh dưới sâu là dòng nước đã gần cạn trong mùa khô. Trời trong và xanh. Ngang một đoạn đèo gặp một đoàn người đang im lặng đi giữa đường, dẫn đầu là một người đàn ông mặc áo dài màu xanh đậm. Ông này xách một cái phèng la cũ, vừa đi chậm rãi vừa thỉnh thoảng gõ một tiếng “pheeng…”. Kế đến là bốn người đàn ông gánh một cái quan tài. Một đám tang giữa trưa. Trên quan tài người ta dựng bốn cái cây đứng để chống một tấm nhựa che nắng cho tấm hình của người chết, ảnh một cô gái trẻ để trước quan tài.


Những người đưa đám đều để đầu trần, có người đi chân trần trên mặt đường nóng chảy nhựa. Đám tang lặng lẽ nhưng tươm tất dưới mặt trời gay gắt, bóng chiếc quan tài in xuống nền đường che nắng được một vài người đi khép nép ven hông quan tài. Đoàn người đi chầm chậm trên đèo Khe Sanh – Cam Lộ, tiếng phèng la điểm nhịp vang lên rồi tan dần vào vách núi. Một người trẻ hôm nay sắp được chôn. Trong một vùng đất còn nhiều người mất xác.
Lê LôNguồn: Diễn Đàn Thế Kỷ


















BIỂU TÌNH HÀNG NĂM


TRƯỚC HANG PẮC BÓ Ở CANBERRA

SỐ 6 ĐƯỜNG TIMBARRA CR.

O'MALLEY; ACT 2606





Lá Cờ Vàng
Canberra Tháng Tư Đen
30 tháng Tư năm 2011Vào một ngày đẹp trời, nắng ấm thật hiếm có của những ngày cuối thu, hàng ngàn đồng hương từ các tiểu bang xa đã đỗ về Canberra - Thủ Đô của Úc Đại Lợi. Một rừng Cờ Vàng tung bay trên con đường trước toà Đại Sứ VC. Năm nay có sự hiện diện của bà Đặng Mỹ Dung (tác giả cuốn Ngàn Giọt Lệ Rơi) và nhà văn Huy Phương đến từ phương trời Cờ Hoa xa xôi vạn dặm cùng với đồng hương Úc Châu để tưởng niệm ngày Quốc Hận 30 Tháng Tư đồng thời cũng là để thổi lên ngọn lữa căm hận đối với cái chế độ hèn mạt, phi nhân, buôn dân bán nước của CSVN.


Tuy cuộc biểu tình hàng năm vào dịp 30 Tháng Tư được Cộng Đồng NSW và các tiểu bang chính thức tổ chức, nhưng sự háo hức phát xuất từ tấm lòng nôn nóng, sôi sục của hàng ngàn đồng hương. Do đó không cần phải có việc tổ chức chính thức, hàng năm vào ngày này hàng ngàn đồng hương vẫn tự động đốc thúc, réo gọi, rủ nhau, kéo về đây để nói lên sự quyết tâm không đội trời chung với CSVN và để bày tỏ tấm lòng sắt son của Người Việt Hải Ngoại với sự mong mỏi cho một nước Việt Nam Tự Do, Dân Chủ và vẹn toàn.Mở đầu cuộc biểu tình ông Nguyễn Thế Phong đã tố cáo chế độ CSVN:"... Áp bức, tàn ác và bất công là hai thực tại tiêu biểu của chế độ CSVN. Chúng cực kỳ ác với dân và hèn với giặc. Thượng thì chúng đội giặc Tàu hạ thì chúng đạp người dân vô tội. Xã hội do chúng kiểm soát và lập ra thì đầy dẫy những bất công “vô tiền khoáng hậu”, tệ bạc nhất từ cổ chí kim của dân tộc và lịch sử Việt Nam.


Hơn 2/3 dân số sống ngang ngữa với hay dưới mức nghèo đói, bệnh tật, đói khổ triền miên, trong khi đảng viên CS và thành phần lãnh đạo trung ương Đảng thì sống trong nhung lụa, tiền rừng bạc biển, tiêu xài phung phí, xa hoa như những những ông hoàng bà chuá, bỏ mặc dân chúng cho các cơ quan từ thiện quốc tế và “khúc ruột ngàn dặm” của những “Việt kiều yêu nước”".Và ông đã kết thúc bài diễn văn bằng những lời nhắn gởi đến các đảng viên CS như sau:"Và hỡi những đảng viên hay tay sai CS ngoan cố không đọc được ý dân và ý trời hãy lắng nghe bài vè và lời cảnh báo sau đây của toàn dân VN để mà quay đầu trở về với đồng bào và chánh nghĩa trước khi quá muộn. Bài vè dân gian này nói về cái tượng Lê-nin mà CSVN cho dựng đối diện với Cột Cờ tại Hà-Nội. Bài vè ấy như sau:


Lê-nin quê ở nước NgaCớ sao lại đứng vườn hoa nước này?Ông vênh mặt, ông chỉ tay:“Tự -Do, Hạnh Phúc? Lũ mày còn xa.Kìa xem gương của nước NgaBảy mươi năm lẻ có ra đếch gì?”Đảng mình cái đảng vứt điChúng ta theo Đảng còn gì là thân?"
(xin xem đính kèm toàn bài diễn văn của ông Nguyễn Thế Phong)Cùng với hàng trăm tấm biểu ngữ "Tổ Tiên ta dựng nước, CSVN bán nước", "No more dictatorship in Vietnam", "Vietnam evil regime must go now", "Vietnam communist government must step down now", ... là tiếng hô to đá đảo VC, đòi giãi thể chế độ CS tại Việt Nam của hàng ngàn đồng hương. Và cứ tưởng mai đây tinh thần đấu tranh sẽ không còn mạnh mẽ đối với các thế hệ con em (tại hải ngoại), nhưng không, sự có mặt của các em sinh viên học sinh, các cháu Duy Cường, Khánh Vân và Bảo Quốc cùng với những lời phát biểu và tiếng hát đầy hùng khí đã nói lên sự hiểu biết, trưởng thành và tinh thần đấu tranh của các thế hệ tiếp nối. Điều này đã làm ấm lòng các thế hệ cha anh, là một niềm hảnh diện cho Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại, là tương lai của một nước Việt Nam tươi sáng.(xin xem đính kèm toàn bài diễn văn của cháu Khánh Vân) Dưới cao trào của Cách Mạng Hoa Lài, Cộng Đồng Người Việt Tự Do Úc Châu đòi CSVN phải ra đi ngay lập tức và vô điều kiện.


Cuộc Biểu tình kết thúc khoảng 2 giờ và kế đến đồng hương đến Đài Tưởng Niệm Chiến Sĩ Việt Nam trên đường ANZAC Parade trước War Memorial.

Tranh đấu Dân chủ và vai trò Người Việt Hải ngoại
Nguyễn Văn Trần

Hiện tượng Cộng sản nắm quyền cai trị ở Việt Nam, trên phân nửa nước rồi trên cả nước là một tai nạn lịch sử làm tắt nghẽn sự tiến hóa xã hội. Người Việt trong và ngoài nước tranh đấu chấm dứt sự cai trị của Cộng sản là để khai thông những tắt nghẽn nhằm làm cho xã hội nảy nở và vươn lên với thời đại. Công cuộc tranh đấu ngày càng vững vàng, trong ngoài không nhứt thiết phải giống nhau nhưng đều nhằm cho một mục tiêu là Việt Nam phải có một chế độ dân chủ tự do thật sự.
Mọi người đều thấy chế độ Cộng sản độc tài tồn tại đến ngày nay là đã quá đủ rồi!
1/ Người Việt Hải ngoại và Việt kiều:
Ngày nay, Người Việt Hải ngoại gồm vào khoảng 3 triệu người sanh sống trên 90 quốc gia tập trung đông đảo ở Bắc Mỹ, Âu châu và Úc Châu. Họ đến phần lớn từ sau biến cố 30/4/75. Khi chúng ta tính người Việt hải ngoại có 3 triệu người thì phải nhớ đã có hàng triệu người cũng ra đi cùng thời điểm ấy nhưng bất hạnh không đến được bờ tự do!
Trong số 3 triệu Người Việt Hải ngoại có một thiểu số đang sanh sống ở hải ngoại nhưng không thể gọi chung họ là Người Việt Hải ngoại được, bởi vì sự có mặt của họ ở đây không cùng một lý do và một hoàn cảnh lịch sử giống như phần lớn những người kia. Rõ nhứt về lý lịch, họ là công dân của nhà cầm quyền Hà nội, hoặc chính họ tự xác nhận quan hệ của họ với Hà nội trên cùng quan điểm chánh trị xã hội chủ nghĩa nên thành phần nầy được nhận diện là Việt kiều.
Sự phân biệt tách bạch giữa Người Việt Hải ngoại và Việt kiều chỉ cần căn cứ trên một điểm duy nhứt, đó là Người Việt Hải ngoại không chấp nhận chế độ cộng sản độc tài ở Việt Nam ngày nay!
Về nguồn gốc, Người Việt Hải ngoại không cùng nguồn gốc với cộng sản Hà nội và Việt kiều, bởi khi cộng sản tới chúng ta liều thân bỏ nước ra đi. Từ giữa thế kỷ qua, chúng ta đã một lần bỏ nhà cửa, ruộng vườn, tài sản, để thoát khỏi vùng bị cộng sản tạm chiếm. Năm 1954, chúng ta đã rời bỏ miền Bắc chạy vào Nam. Năm 1975, chúng ta bỏ cả đất nước để bảo vệ cái không chung nguồn gốc với người cộng sản một lần nữa. Đó là cái còn của chúng ta và hôm nay giữ được là nhờ sanh sống ở hải ngoại. Cái còn ấy là văn hóa chánh trị dân chủ tự do. Cái mầm văn hóa này được cấy lại trên mảnh đất tự do nay nó nảy nở giúp cho 3 triệu Người Việt Hải ngoại phát triển với những thành tựu vẻ vang về nhiều mặt. Hằng năm, Người Việt Hải ngoại gởi về Việt Nam giúp thân nhơn, đi về du lịch.. một số tiền lên đến hơn 4 tỉ mỹ kim/năm.
Với một dân số 3 triệu người, với sự giàu có, sự hiểu biết, với nền văn hóa Việt Nam không mang chất xã hội chủ nghĩa, với thực tế sanh sống trên nhiều vùng đất, với cờ vàng làm biểu tượng của sắc tộc Việt Nam, chúng ta có thể tự xác định chúng ta là một Việt Nam Hải ngoại. Khi xác định như vậy, chúng ta đã long trọng tuyên bố một nước Việt Nam Hải ngoại của chúng ta. Như Đài loan đối với Trung cộng về mặt kinh tế, văn hóa, xã hội. Hơn nữa, về mặt pháp lý quốc tế, chúng ta còn có quyền dân tộc tự quyết, được ghi rõ trong hai Hiệp định quốc tế về chấm dứt chiến tranh và tái lập hoà bình cho Việt Nam, năm 1954 và năm 1973. Sự xác định nầy sẽ cho chúng ta, trong sự quan hệ với nhà cầm quyền ở Việt Nam ngày nay, một cách ứng xử tự chủ và tự trọng...
Sanh sống ở hải ngoại nhưng chúng ta vẫn đặc biệt thường xuyên quan tâm đến đời sống của bà con, bạn bè tại Việt Nam đang sống dưới chế độ độc tài toàn trị, nên chúng ta từ ba mươi năm nay, không ngừng nỗ lực tranh đấu để Việt Nam có được một chế độ dân chủ tự do. Thành tựu hùng hồn nhứt, và gần đây hơn hết, là ở trên 90 thành phố và tiểu bang của Huê kỳ, cờ vàng của người Việt hải ngoại được chánh thức thừa nhận. Nhiều chánh quyền địa phương ở Úc và Canada cũng nhìn nhận cờ vàng của cộng đồng trong các dịp lễ lộc. Nhờ sự vận động của người Việt hải ngoại ở Huê kỳ, Quốc hội Huê kỳ thông qua nhiều dự luật về nhơn quyến để áp dụng đối với Việt Nam. Huê kỳ đã nhiều lần ghi Việt Nam vào danh sách “các quốc gia cần theo dõi”. Người Việt Hải ngoại luôn luôn theo đuổi những hoạt động tranh đấu về nhơn quyền để được sự yểm trợ của mọi người, để làm áp lực lên nhà cầm quyền Hà nội phải thay đổi chế độ.
Bởi ở Việt Nam ngày nay, nhà cầm quyền cộng sản có nới lỏng trên một vài lãnh vực là nhờ sự tranh đấu của người Việt hải ngoại. Nếu không có áp lực của khối Người Việt Hải ngoại thì chắc chắn việt cộng đã không có những chánh sách Việt kiều hoa mỹ như “khúc ruột ngàn dặm” hay “Xóa bỏ hận thù, quên đi quá khứ” đối với chúng ta. Tức ý muốn nói “đã không giết được thì tha làm phước”.
2/ Nhìn chung về tình hình chống đối ở Việt Nam:
Sau chiến tranh lạnh chấm dứt, Việt Nam bị ảnh hưởng sức ép của Huê kỳ và Âu châu về Nhơn quyền. Nhờ gia nhập Hiệp hội các nước Đông Nam Á (Asean) và nhứt là mối quan hệ với Tàu, Việt Nam cực lực chống đỡ để duy trì chế độ độc tài, nên chỉ cải tổ kinh tế vừa đủ để làm diụ những căng thẳng xã hội.
Tình trạng xã hội căng thẳng không phải ở ngày nay, mà ngay từ sau khi Việt Nam thống nhứt. Trong hàng ngũ đảng viên đã xuất hiện những bất mãn chống đối chánh sách của đảng cộng sản. Sự chống đối ngày càng lan rộng hơn và rõ nét hơn như ngày nay chúng ta đã nhận thấy. Những hiện tượng chống đối ở Việt Nam xuất phát ở một số cá nhơn bất mãn thừơng bị nhà cầm quyền dập tắt. Sự chống đối ôn hòa hay bày tỏ chánh kiến về đường lối cai trị của Chánh quyền vẫn không được luật pháp nhìn nhận. Nên chưa có thể cho rằng ở Việt Nam, ngày nay có đối lập.
2.1/ Đặc tính chung của chống đối phản kháng ở Việt Nam:
Nhìn chung những người chống đối ở Việt Nam cho tới nay chưa đông đảo nên chưa đủ để trở thành một lực lượng. Họ còn rời rạc. Về những yêu sách đưa ra, những phê phán chánh sách của Đảng cũng không thống nhứt. Có những người chống đối chế độ nhưng vẫn phải ca ngợi công lao của Đảng, nhứt là công lao của Đảng đã lãnh đạo thành công trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ vừa qua. Phải chăng họ phải ca ngợi công lao của đảng để đồng thời nhắc lại công lao của chính họ nữa? Không khác gì hơn, một cách khéo léo, họ giữ chỗ đứng của họ trong sự tồn tại của đảng cộng sản. Tên tuổi của họ được gắn liền với lịch sử đảng cộng sản.
Ngay như Hà Sĩ Phu, không phải đảng viên, có nhiều ý kiến phê phán Đảng và nhà nước rất gay gắt nhưng vẫn cho “Đảng là con thuyền chở dân tộc đến bờ”. Một số người chống đối bày tỏ mục đích là muốn làm cho Việt Nam phú cường và mang sức sống mới lại cho Đảng Cộng sản. Bao giờ người trí thức Việt Nam phần lớn cũng đều dính liền với chánh quyền. Muốn vươn lên họ phải giữ sự trung thành với chế độ. Họ không dám mạnh dạng cất lên tiếng nói rõ ràng những điều họ muốn như thay đổi chế độ độc tài hiện tại để trở thành một chế độ dân chủ tự do thật sự, nên họ đã không tạo được sức mạnh xã hội để thúc đẩy một tiến trình dân chủ hóa Việt Nam nhanh chóng. Một số khác có xu hướng chờ đợi sự phát triển kinh tế đến một lúc nào đó sẽ dẫn đến sự thay đổi về chánh trị bởi sự phát triển kinh tế sẽ tạo nên một từng lớp trung lưu, với những quan tâm, những khát vọng, khác với nhà cầm quyền nên sẽ gây một sức ép lên chánh trị. Nhưng nếu nhìn lại, chúng ta sẽ thấy giới trung lưu ở Việt Nam ngày nay, thành hình không phải bên ngoài Đảng cộng sản, mà bên trong Đảng cộng sản, nên họ phải bảo vệ Đảng.
Chế độ dân chủ thường chủ trương những cuộc cải cách về điền địa để giảm bớt khoảng cách giữa địa chủ và nông dân không có đất cày nên địa chủ có xu hướng làm cản trở tiến trình dân chủ. Ở Việt Nam ngày nay, địa chủ lại là đảng viên, cán bộ. Họ đứng về phía chế độ để bảo vệ quyền lợi của họ, nay đã gắn liền với chế độ.
Đâu đó nông dân nỗi dậy nhưng vẫn chưa đủ tạo thành lực lượng tranh đấu cho dân chủ vì thiếu tổ chức.
Trong giới thợ thuyền ở các thành phố lớn có nghiệp đoàn công nhơn nhưng do Đảng tổ chức và lãnh đạo nên họ không có thực quyền tranh đấu cho chính quyền lợi công nhơn.
Còn tư sản chỉ mới xuất hiện và lại phụ thuộc Nhà nước để có điều kiện và tư thế kinh doanh. Hiện tại ở Việt Nam không có tư sản độc lập và mạnh.
Các thành phần xã hội khác như công nhơn, viên chức, làm việc ở các xí nghiệp, ngoại quốc. Lẽ ra họ phải được độc lập nhưng họ lại cũng phụ thuộc vào nhà cầm quyền để có việc làm và giữ việc làm giống như giới tư sản.
Còn những người được dịp đi ra nước ngoài chỉ thấy sự khác biệt về giá cả hàng hóa nên cũng không đem về những thông tin có giá trị về các mặt của đời sống ở nước dân chủ. Trong lúc đó, nhà nước cộng sản không thật sự mạnh vì không được toàn dân ủng hộ, nhưng vẫn tồn tại nhờ ở công an và quân đội sẳn sàng bảo vệ bằng bạo lực (được gọi là cách mạng)
Tuy nhiên, ngày nay, ở Việt Nam mới xuất hiện một ít trí thức dũng cảm như Ls Nguyễn văn Đài, Ls Lê thị Công Nhân, Ls Lê Công Định, Chủ xí nghiệpTrần Huỳnh duy Thức, Nguyễn Tiến Trung,…dấn thân tranh đấu cho công bằng xã hội. Họ hoàn toàn không lệ thuộc những điều kiện để bị trói buộc như những thành phần kia. Để dập tắt trước khi những thành phần ưu tú này có thể tác động xã hội thành phong trào lớn mạnh, nhà cầm quyền Hà Nội đã vội bắt bỏ tù những mầm non dân chủ này.
2.2/ Chống đối từ phía những người cộng sản
Những chống đối, phản kháng ở Việtnam xuất hiện không phải từ việc khẳng định các quyền lợi độc lập của các thành phần xã hội, mà từ xung đột bên trong bộ máy lãnh đạo và cầm quyền. Có thực hiện cải tổ chánh trị cũng chỉ liên quan đến việc đối phó với những xung đột bên trong nhà nước và đảng cộng sản, chớ không phải nhằm giải quyết sự xung đột giữa nhà nước và xã hội. Như một vài người chống đối đòi hỏi Quốc hội phải có nhiều quyền hơn, gồm nhiều chuyên viên hơn để đưa ra nhiều đề nghị cho đảng chọn lựa. Họ chưa đòi hỏi cơ bản như các cơ cấu chánh quyền phải độc lập với nhau và độc lập với đảng cộng sản.

Tuy nhiên, có vài người đã đưa ra những phê phán và những đòi hỏi rõ ràng, quyết liệt. Cụ Hoàng Minh Chính dứt khoát: “Cái gốc của bất hạnh Quốc gia là điều 4 Hiến pháp. Nó cho phép đảng cộng sản độc tôn lãnh đạo. Như thế, đảng ở trên Quốc gia, trên dân tộc, trên hết”.
Hay Phan Đình Diệu nhận xét: “Chúng ta phải nhìn nhận rằng lý thuyết cộng sản và chủ nghĩa xã hội dựa vào giai cấp đấu tranh, kinh tế chỉ huy và độc quyền lãnh đạo của đảng đã mang lại quá nhiều tai ương cho đất nước”.

Ở trong miền Nam, tư tưởng chống đối, đòi thay đổi dứt khoát về dân chủ. Bác sĩ Nguyễn Đan Quế là một trường hợp điển hình.

Ở Việt Nam thiếu sự có mặt của thanh niên sinh viên, chỉ mới xuất hiện lẻ tẻ, trong hàng ngũ chống đối như ở Nam Hàn hay Nam Dương, bởi sinh viên ở các thành phố chỉ mới chiếm 2% dân số. Ngoài ra, họ phần lớn còn là con em của chế độ, hoặc ít ra, thuộc thành phần được ưu đãi nên họ không dám dấn thân, sợ mất cơ hội tốt cho tương lai.
3.- Người Việt hải ngoại có thể đóng góp
Những phê phán, chống đối chế độ ở Việt Nam chưa được đông đảo dân chúng hưởng ứng, bởi những điều này vẫn chưa có giá trị đại biểu cho quyền lợi thiết thực của họ, nên những người chống đối, phản kháng còn bị cô lập ngay tại chỗ. Những lập luận của những người chống đối hay bất đồng chánh kiến công kích chế độ, phê phán chủ nghĩa Măc-lê, tư tưởng Hồ chí Minh, đối với dân chúng, không có gì khác hơn tiếng nói của Cơ quan Thông tin Văn hóa ra rả tuyên truyền về chế độ mà họ từ lâu đã thờ ơ. Về phía những người chống đối vẫn thiếu sáng kiến vận động xã hội mà lại còn thiếu sự liên lạc, sự phối họp giữa họ với nhau nữa.

Họ phải được giúp tạo môi trường thảo luận ở trong nước và với ngoài nước, và những cuộc gặp gỡ nhau. Hai ông Trần Khuê và Phạm Quế Dương lập “Hội nhơn dân ủng hộ đảng và nhà nước chống tham nhũng” là việc làm rất hay, nhưng đảng cộng sản thấy ngay hiểm họa ở đó nên đã dẹp bỏ và còn bắt người đề xuất. Thật ra, tổ chức này chỉ mới kết nạp những người gốc trong đảng, chớ chưa được bên ngoài xã hội tham gia.

Hải ngoại cần phải chuyển tải về trong nước các lý thuyết chuyển đổi theo dân chủ, những kinh nghiệm thay đổi ở Đông Âu năm 89-90, ở các nước độc tài Á-rặp hồi đầu năm nay, ôn hòa, không bạo động mà thành công. Tìm cách giúp những người ở trong nước hiểu biết về xã hội dân sự, quyền lực của những người không có quyền lực, những bài học về những phong trào tranh đấu dân chủ trên thế giới, những khuôn mặt lãnh đạo gương mẫu để kích thích và động viên tinh thần những người ở Việt Nam.
Vì thiếu thông tin, những người thức tỉnh cũng không dám quan hệ với những người công khai tranh đấu. Người Việt hải ngoại nên chuyển tải về nước thật nhiều thông tin về công cuộc tranh đấu dân chủ, uy thế mạnh của dân chủ bảo vệ những quyền bất khả xâm phạm của người dân, về xã hội công bình, khả năng yểm trợ và binh vực dân chủ của cả thế giới ngày nay.

Những việc làm cụ thể và nhỏ nhưng tác động rất lớn đối với xã hội như trước đây có lần Nguyễn Khắc Toàn làm đơn giúp nạn nhơn của chế độ đi khiếu kiện, Phương Nam đứng chụp hình chung với dân chúng Quận Bình Thạnh đi ra Hà nội kiện thưa chánh phủ trung ương.

Trong việc đấu tranh cho dân chủ ở Việtnam vần còn thiếu lý thuyết về dân chủ để thay thế thứ dân chủ xã hội chủ nghĩa, nên Phạm Vũ Bình dịch “Dân chủ là gì ?” của Huê kỳ làm Hànội sợ hãi, nên bị ở tù dài hạn hơn nhiều người khác..

Trong những thông tin ấy đừng để thiếu báo động với đồng bào trong nước rằng Việtnam đang đứng trước hiểm họa mất nước. Đây là một thực tế. Mất nước lần này không có nghĩa là mất chánh quyền, mà là mất hết tất cả: đất đai, sông núi và dân tộc. Việtnam sẽ trở thành một tỉnh lẻ của Tàu. Trước 30/4/75, chúng ta thấy mất nước vì đồng minh “tháo chạy”, Việt cộng tràn ngập từ cao nguyên xuống đồng bằng. Ngày nay, mất nước vì chế độ độc tài toàn trị Hànội đã thoả hiệp với kẻ cướp nước trong tinh thần “phe xã hội chủ nghĩa anh em” (lãnh đạo ở Hànội từng tuyên bố về Hoàng Sa và Trường Sa: “thà giao cho Trung quốc anh em còn hơn để cho bọn ngụy Saigon chiếm giữ”), và, quan trọng vô cùng, toàn xã hội mất sức đề kháng vì bị hệ thống xã hội chủ nghĩa phá hoại từ 2/9/45.

Chúng ta hãy nhìn lại tiền lệ: Mông Cổ, Tây Tạng và Đài Loan, và cũng đừng quên một trường hợp minh thị chủ quyền mới của Bắc triều trên lãnh thổ Việtnam khi Giang Trạch Dân qua Việt Nam tắm biển Hội An không cần thông báo Hànội, không cần hộ vệ an ninh.

Dân chủ hoá chế độ là để thực hiện đoàn kết toàn dân, động viên sức đề kháng dân tộc trên toàn diện.

Trong việc chuyển tãi thông tin về Việtnam, chúng ta đừng quên vai trò của người Việt Đông Âu bởi mối liên lạc của họ với Việtnam rất bén nhạy.

Còn một việc làm cụ thể nữa để thâu phục nhơn tâm và giới hạn ảnh hưởng của Hànội. Ở một số quốc gia thuộc Đông Âu cũ, ngày nay là thành viên của Liên Hiệp Âu Châu, có đông đảo người Việt sanh sống. Họ đến từ miền Bắc và đại bộ phận trong tình trạng không hợp lệ. Hoặc họ đến theo đoàn du lịch và ở lại luôn hoặc họ mua giấy tờ ở công an Hànội, tới Mạc-tư-khoa, rồi bằng đường bộ, lẻn tới các nưóc Đông Âu cũ như Balan, Tiệpkhăc,… Các quốc gia này chưa có qui chế ngoại kiều cho những người Việt Nam đang sanh sống tại đây. Họ cứ sống như vậy và làm ăn vô cùng vất vả, nhưng lại được tự do, tuy tự do tạm. Họ không phải lo sợ chánh quyền sở tại mà lại lo sợ toà Đại sứ Hànội. Một thứ lo sợ kinh niên bám theo họ từ Việt Nam. Giải quyết nỗi lo sợ này, họ phải tỏ ra “biết điều”, tức nộp tiền hối lộ định kỳ cho nhơn viên toà Đại sứ. Nếu vận động các dân biểu, chánh giới ở đó ban hành được một qui chế tạm thời nhìn nhận sự có mặt của những người Việt này để họ yên tâm làm ăn, sanh sống thì phía tranh đấu dân chủ Việtnam sẽ có thêm một lực lượng quan trọng.
Nếu đề nghị này chưa thực hiện được thì ít ra một vấn đề cũng đuợc nhìn thấy hoặc được nhắc lại!

Tạm kết
Tranh đấu dân chủ hoá Việtnam ngày nay không còn là những vận động chánh trị, được hiểu theo nghĩa giành chánh quyền hay thay đổi chánh phủ mà chánh là để “cứu quốc tồn chủng”.

Có dân chủ tự do, Việtnam mới giải quyết được thực tế thảm hại: xã hội bị phân hoá thành những mảnh vụn xung đột lẫn nhau (trong đảng, ngoài đảng - địa phương, giàu nghèo – cai trị/bị trị, …) làm cho nhơn tâm ly tán, đạo lý suy đồi, văn hoá tụt hậu chưa từng thấy (giáo dục, y tế,…)

Chúng ta phải hiểu và làm cho nhơn dân trong nước hiểu rõ rằng chủ thuyết cộng sản và tư tưởng Hồ chí Minh hoàn toàn không có khả năng mở ra tương lai. Ở Âu châu và Liên xô cũ, cộng sản đã sụp đổ như thật sự nó chưa bao giờ xuất hiện.
Ở Việtnam, nếu Hànội tiếp tục bám theo chủ nghĩa cộng sản và tư tưởng Hồ chí Minh, tức tư tưởng Staline và Mao trạch Đông, thì không gì khác hơn đưa Việtnam tiến lên “ngàn năm nô lệ Bắc triều”!.

Nguyễn văn Trần

NẾU ĐÚNG TRẦN BÌNH NAM NẦY LÀ VC NẰM VÙNG Ở SYDNEY ?

THÌ CHÍNH NÓ LÀ ĐỨA "LÃNH BẰNG KHEN CỦA VC" - BÂY GIỜ LẠI VIẾT BÀI GIẢ VỜ CHỐNG CỘNG . CẨN THẬN và SÁNG SUỐT BÀ CON TỴ NẠN ƠI !!!








Hủy bỏ điều 4 Hiến Pháp


Một chủ điểm đấu tranh để "dân chủ hóa" Việt Nam: Hủy bỏ điều 4 Hiến pháp.
Ðại hội 9 của đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) tháng 4/2001 vừa qua cho thấy một điều. Ðảng CSVN đã hết khả năng lãnh đạo. Họ tranh giành, chửi bới, thậm chí có thể chém giết nhau để giành giật chức Tổng bí thư đảng. Cuối cùng chức vụ Tổng bí thư được trao cho Nông Ðức Mạnh, một khuôn mặt vô thưởng vô phạt để những đảng viên có thế lực trong đảng có thì giờ đánh nhau giành quyền lực sau hậu trường. Không có một dấu hiệu gì Nông Ðức Mạnh có thể làm gì khác hơn Nguyễn Văn Linh, Ðỗ Mười hay Lê Khả Phiêu. Ðại Hội vừa xong, lệnh từ Bộ Chính trị tăng cường các biện pháp đàn áp các nhân vật tranh đấu cho tự do tín ngưỡng, nhân quyền và tự do dân chủ như HòaThượng Thích Quảng Ðộ, Linh Mục Nguyễn Văn Lý... Tình hình đất nước đi vào bế tắc không lối thoát.


Từ lâu một số người trong và ngoài nước tranh đấu ôn hòa cho tự do dân chủ và nhân quyền bằng phương pháp bất bạo động hy vọng rằng đến một lúc nào đó trước áp lực quốc tế và quần chúng quốc nội những người cộng sản ý thức được trách nhiệm của mình sẽ thực hiện những thay đổi cần thiết để đưa đất nước ra khỏi bế tắc. Sự hy vọng này cạn dần qua năm tháng trước sự ù lỳ của những người lãnh đạo và hoàn toàn tiêu tan sau Ðại hội 9 của đảng CSVN. Ðảng cộng sản - bộ máy cầm quyền - đang lún dần vào một tình trạng thối nát "thượng bất chính, hạ tất loạn" không còn ai bảo được ai. Nguyên nhân sinh ra tình trạng thối nát hiện nay là chính sách độc quyền độc đảng, độc tôn của đảng CSVN, và điều đáng sợ là họ vẫn cho đó là một cơ chế chính trị "dân chủ gấp trăm ngàn lần nền dân chủ tư sản."
Nhưng không phải chỉ người cộng sản Việt Nam kẹt, phía cộng đồng người Việt hải ngoại cũng kẹt. Sau 26 năm 2 triệu người Việt sống ở hải ngoại với phương tiện và nhân lực dồi dào kiên trì đấu tranh mong tái lập chế độ dân chủ tại Việt Nam vẫn chưa mang lại một kết quả nào khích lệ. Chúng ta không tạo nổi một áp lực chính trị gì đáng kể lên đảng CSVN buộc họ phải xét lại đường lối chính trị. Lý do vì chúng ta thiếu tổ chức, thiếu đường lối, tranh đấu bằng tình cảm hơn là bằng lý trí.
Lúc này không phải là lúc truy nguyên sâu xa cái gì đưa đất nước đến chỗ bế tắc hiện nay. Có thể lý do nằm trong huyết quản của mỗi người Việt Nam chúng ta. Dân tộc Việt Nam là một dân tộc kiên cường, nếu không làm sao chúng ta có thể thắng quân Nguyên, làm sao thắng Pháp giành độc lập. Nhưng chúng ta thiếu chiều sâu. Chúng ta dễ dàng nghe theo những chủ thuyết viễn vông thẳng tay chém giết nhau. Chúng ta thắng nhiều trận giặc nhưng thường thất bại trong xây dựng. Ai cũng nói yêu đất Mẹ nhưng đất Mẹ thường bị hắt hủi, bị lợi dụng hơn là được trìu mến. Ðất nước Việt Nam càng ngày càng xuống giá và bị khinh bỉ trước cộng đồng thế giới. Ai có thể kính trọng một nước nằm trong danh sách những nước nghèo nhất trên thế giới? Cộng đồng hải ngoại thì gần ba thập niên vẫn chưa xây dựng nổi một tập thể có tiếng nói đáng kể vì quá nhiều tổ chức đoàn thể, quá nhiều đường lối và quá nhiều tiếng nói.
Ðã đến lúc người cầm quyền và thành phần trí thức trong nước và người Việt hải ngoại nhìn lại thực trạng đất nước để tìm ra một đường lối khai phá bế tắc hiện nay.
Trong những năm gần đây hầu hết các nhà đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền và tự do tín ngưỡng như Hòa thượng Thích Huyền Quang, Linh Mục Nguyễn Văn Lý, cụ Lê Quang Liêm, đa số các tổ chức chính trị, các nhà bình luận bên phía quốc gia đều đi đến một nhận định chung là bế tắc đất nước phát sinh từ cơ chế chính trị của nhà cầm quyền cộng sản nên đã đồng thanh lên tiếng đòi hỏi thay đổi cơ chế này để khai thông bế tắc. Trên hết và trước hết là Ðiều 4 của bản Hiến Pháp năm 1980 giao trọn quyền lãnh đạo quốc gia cho đảng Cộng Sản Việt Nam. Ðiều khoản này rập khuôn Ðiều 6 của bản Hiến Pháp Liên bang Xô viết. Khi tu chính Hiến Pháp vào năm 1992 sau khi khối Liên xô sụp đổ Ðiều 4 vẫn được sao chép lại với một chút thay đổi cho hợp thời trang.
Trong khi đó, một số đảng viên cộng sản thức thời và một số trí thức trong nước cũng đồng thanh lên tiếng yêu cầu đảng CSVN nên hủy bỏ Ðiều 4 để tạo một căn bản cho mọi người dân có cơ hội đóng góp vào sinh hoạt chính trị quốc gia. Tiếng nói quả quyết nhất là của tướng Trần Ðộ, một đảng viên kỳ cựu nhiều uy tín, và mới đây của hai nhà trí thức Mác-Xít, ông Trần Khuê và bà Nguyễn Thị Thanh Xuân.
Ðiều 6 Hiến Pháp Liên bang Xô viết ghi: "Ðảng Cộng Sản Liên Sô, lực lượng tiên phong và là trọng tâm của các cơ chế chính trị, bao gồm tất cả các hệ thống nhà nước và cơ quan công cộng. Ðảng Cộng Sản Liên Sô hiện hữu vì nhân dân và phục vụ cho nhân dân. Ðảng Cộng Sản Liên Sô vũ trang với chủ nghĩa Mac-Lenin, quyết định mọi đường lối liên quan đến việc phát triển xã hội và các chính sách đối nội lẫn đối ngoại, xây dựng những kiến trúc vĩ đại vì nhân dân Sô Viết, hoạch định mọi kế hoạch, hệ thống hoá và lý luận hoá cho cuộc đấu tranh vì thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản. Tất cả những tổ chức của Ðảng hoạt động trong khuôn khổ qui định Hiến Pháp của nước Cộng Hoà Liên Bang Sô Viết.
Ðiều 4 của bản Hiến Pháp Việt Nam hiện nay (1992) viết: "Ðảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội ..."
Sau khi cướp được chính quyền bằng vũ lực thay vì tổ chức bầu cử tự do để cho dân quyết định ai xứng đáng lãnh đạo quốc gia, đảng CSVN viết Hiến Pháp (1980, 1992) giao trọn quyền lãnh đạo cho mình. Khẩu hiệu dân làm chủ chỉ là một khẩu hiểu giả trá. Ðảng nắm quốc hội, quân đội, công an, tòa án, mọi hoạt động kinh tế, xã hội và có quyền nhúng tay vào nội bộ các tôn giáo. Mọi phản kháng có tổ chức đều bị đàn áp bằng vũ lực, cá nhân chống đối đều bị kết án phản động và bỏ tù. Và từ đó như một cái xe không có thắng đảng cộng sản Việt Nam đi từ sự lạm quyền này đến sự lạm quyền khác, đảng viên thủ đắc vào trong tay gần hết tài nguyên quốc gia và làm cho khả năng vươn lên của đất nước bị thui chột. Ðất nước càng ngày càng tụt dần trên thang giá trị quốc tế.
Gần đây hơn để chuẩn bị cho Ðại Hội 9, đảng cộng sản Việt Nam đã cho thành lập những buổi tọa đàm tại Hà Nội nói là để "Chỉnh đốn để tồn tại và phát triển" có sự tham gia của Ban Tư tưởng ? Văn hóa Trung ương (BTTVHTU) và Hội đồng Lý luận Trung ương (HÐLLTU) và một số nhà lý luận cũng thuộc nội bộ đảng từ miền Nam ra như ông Trần Khuê và bà Nguyễn Thị Thanh Xuân. Các cuộc tọa đàm có thể chỉ là một thứ hội đồng chuột, nhưng qua các tài liệu được phổ biến (Ðối Thoại 2001 Tập 1,2,3,4 và 5 của Trần Khuê và Nguyễn Thị Thanh Xuân) người ta thấy ít nhất đảng CSVN cũng thấy được rằng muốn giải quyết bế tắc của đất nước không có một con đường nào khác hơn là cất bỏ Ðiều 4 Hiến Pháp. Trong một thư gởi tân tổng bí thư Nông Ðức Mạnh ông Trần Khuê và bà Nguyễn Thị Thanh Xuân mạnh dạn đề nghị xóa bỏ Ðiều 4 Hiến Pháp. Ông Khuê và bà Thanh Xuân viết:
"Ðây không phải là điều mới lạ, sáng tạo gì của Ðảng ta. Chẳng qua là sao chép từ Ðiều 6 của Hiến pháp Liên Xô từ năm 1980, nghĩa là 11 năm sau khi Bác Hồ qua đời. Ðiều 4 đã đặt đảng CSVN vào vị thế siêu quyền lực, siêu pháp luật, không chịu bất cứ sự giám sát nào kể cả cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước là Quốc hội. Nói khác đi, Ðảng không chịu sự kiểm soát của Nhân Dân mà đang ngồi trên đầu trên cổ Nhân Dân (các viện sĩ Liên bang Nga nói Ðảng Cộng sản Liên Xô sụp đổ vì đã xa rời nhân dân là không đúng, nó đổ vì đã dính quá chặt vào đầu vào cổ Nhân Dân nên khi Nhân Dân không chịu nổi nữa thì hất nó ra khỏi đầu khỏi cổ mình, thế thôi). Chính Ðiều 6 ở Hiến pháp Liên Xô và Ðiều 4 ở Hiến pháp Việt Nam đã tạo điều kiện pháp lý cho những đảng viên tồi tệ có thể lộng hành, lộng quyền một cách không giới hạn. Không thể chống được bọn cửa quyền, tham nhũng cũng chính là do Ðiều 4 này.
"Nhiều đảng viên (trong đó có cả những đảng viên chân chính và thông minh) cứ lo bỏ Ðiều 4 sẽ mất vai trò lãnh đạo của Ðảng. Họ nhầm. Họ quên rằng hồi 45-46 dù không có Ðiều 4 mấy chục triệu nhân dân vẫn đi theo sự lãnh đạo của Cụ Hồ và 5,000 đảng viên. Họ cũng quên lời Cụ Hồ khi thấy có những đảng viên muốn làm "quan cách mạng", lên mặt lãnh đạo, đã nhắc nhỡ: đảng cộng sản không thể tự vỗ ngực tự xưng mình là người lãnh đạo và bắt nhân dân thừa nhận sự lãnh đạo của mình. Bỏ điều 4 thì mất bọn cửa quyền tham nhũng chứ không thể mất Ðảng. Tóm lại: bỏ thì còn, để thì mất. Liên Xô và Ðông Âu đã là cái gương tày liếp, tùy Ðảng và Nhân Dân lựa chọn."
Bỏ ra ngoài quan điểm tôn vinh Hồ Chí Minh của ông Khuê và bà Thanh Xuân (hoặc đó là quan điểm thành thật của hai tác giả, hoặc là một lá bùa hộ mệnh trong quan hệ tế nhị nội bộ của đảng cộng sản mà sự tranh luận chính trịó thể đưa đến sự thanh toán lẫn nhau) chúng ta phải công nhận lập luận của ông Khuê và bà Thanh xuân hết sức vững chắc.
Trong bối cảnh hiện nay ít nhất người Việt ở hai bên chiến tuyến đều có một đồng thuận là "hủy bỏ điều 4 Hiến Pháp". Ðó là con đường duy nhất còn lại. Và quả bóng đang ở trên sân người cộng sản, họ nắm quốc hội và qua quốc hội họ có thể hủy bỏ Ðiều 4.
Về phần người Việt hải ngoại cần biến công tác này thành một chủ điểm, một chương trình đấu tranh trường kỳ, một điểm xoáy, kết hợp lại ý chí của toàn dân dùng sức mạnh của lý luận buộc đảng CSVN phải hủy bỏ Ðiều 4. Công cuộc vận động này sẽ không bị thời gian làm lỗi thời, có tính hợp lý để chinh phục sự ủng hộ của các lực lượng dân chủ trên thế giới, và có tính thuyết phục thành phần đảng viên cộng sản.
Theo dõi quá trình dân chủ hóa của khối Liên xô trong thời gian từ 1988 cho đến năm 1992 chúng ta thấy tại quốc gia nào cũng có một phiên họp quốc hội hủy bỏ điều khoản cho phép đảng cộng sản nắm toàn quyền (như điều 4 của bản Hiến Pháp Việt Nam) trước khi bước qua ngưỡng cửa dân chủ. Kinh nghiệm của các quốc gia Ðông Âu và Liên xô cho thấy sau khi tu chính các đảng cộng sản liên hệ vẫn còn cầm quyền (như một nhu cầu liên tục hành chánh và ổn định) như đảng đa số nhưng các đảng phái chính trị khác có căn bản luật pháp tham gia sinh hoạt chính trị quốc gia, và sau cùng dân chủ đã đến một cách hòa bình. Tiến trình dân chủ hóa nhanh hay chậm, êm thắm hay hỗn loạn tùy thuộc vào các yếu tố khác như dân trí, khả năng của người lãnh đạo, ảnh hưởng của các khối tôn giáo và dân tộc tính của từng quốc gia. Nhanh như Ba Lan, Tiệp Khắc, vừa phải như Hung Gia Lợi và chậm như Bảo Gia Lợi, Liên bang Nga, nhưng cuối cùng dân chủ đã đến.
Và đó là tiến trình chính trị tất yếu của Việt Nam trước khi Việt Nam trở thành một quốc gia dân chủ có khả năng huy động mọi tài nguyên nhân vật lực và trí tuệ của toàn dân để trở thành một quốc gia có tầm vóc xứng đáng với vị trí địa dư và khả năng tiềm tàng của dân tộc.

Trần Bình Nam

Friday, April 29, 2011

RẤT DỄ HIỂU:

NGUYỄN THƯỢNG LÔNG MUỐN VIỆT CỘNG TIẾP TỤC "ĂN CƯỚP" MUÔN NĂM !!!



Nhà Báo kiêm Nhà Hoạt Động Chính Trị Cộng Sản Nguyễn Thượng Long muốn gì ?
Lê Duy San

Trong bài “ Tìm Mãi Yêu Thương”, sau một vài câu mào đầu, nhà báo kiêm nhà hoạt động chính trị Cộng Sản Nguyễn Thượng Long viết: “Tôi nghĩ rằng đã là người Việt Nam, dù là người chiến thắng hay là kẻ chiến bại, dù ở đâu trên mặt đất này thì ai ai vào ngày tháng đó cũng thở phào và không ít thì nhiều đều có chung cảm hứng yêu thương nhau như vậy”.
Ý nghĩ này chỉ đúng với đồng bào miền Bắc vì họ không còn lo con cái của họ phải “Sinh Bắc Tử Nam” nữa, không còn phải thắt lưng buộc bụng để nuôi quân. Còn đối với đồng bào miền Nam, nhất là những người đang sinh sống tại thành thị thì họ không thể nào có được cảm hứng như vậy, trừ những thành phần thân Cộng hay Việt Cộng nằm vùng, vì cả một tương lai đen tối đang chụp lên đầu họ ngay sau khi cánh cổng sắt của dinh Dộc Lập bị xe tăng của Việt Cộng dưới lốt quân đội Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam húc sập.
Tôi cũng không đồng ý với ông khi ông nêu lên một loạt những câu hỏi tại sao như:
- Tại sao lại phải “Đào tận gốc, trốc tận rễ” đám Trí – Phú – Địa – Hào… rồi bây giờ lại gọi đó mới chính là nguyên khí của đất nước !
- Tại sao sau CCRĐ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phải thay mặt Đảng thanh minh trước quốc dân đồng bào rằng : Một Đảng biết nhận ra khuyết điểm của mình, Đảng đó còn có thể tiến bộ, rồi ông lặng lẽ rút khăn tay lau nước mắt. ( !?).
- Tại sao lại phải cải tạo thực ra là đánh sập công thương nghiệp tư bản tư doanh tới 2 lần (Miền Bắc sau năm 1954 – Miền Nam sau 30/4/1975). Sau 1986 đến nay lại phải làm lại gần như từ đầu.
- Tại sao lại phải mở ra các “Pháp trường trắng” trong vụ đàn áp nhân văn giai phẩm và xét lại chống Đảng. Pháp trường trắng là : “Nơi không có đầu rơi, không có máu chảy, nhưng có người chết” – (Nguyễn Tuân). Thời gian và năm tháng đã trôi qua đã đủ để minh oan cho những con người tài hoa, dũng cảm và trung thực đó. Đến nay trên thực tế không ít người trong họ đã được vinh danh trở lại thì hỡi ôi người còn, người mất, người đang sống nhưng phải sống đời sống thực vật, cỏ cây, người tha hương biệt xứ mãi mãi ôm theo những kí ức đầy ám ảnh nặng nề, tại sao lại phải làm như thế ?
-Tại sao sau ngày 30/4/1975 ngày con Lạc ở miền Bắc chiến thắng cháu Hồng ở miền Nam, người chiến thắng không thực lòng hoà hợp, hoà giải mà lại tạo ra những thương tổn không đáng có trong lòng những kẻ bại trận. Những ngày tháng tù đầy, cải tạo và phân biệt đối xử với quân nhân, viên chức chính quyền cũ và vợ con gia đình họ đến nay vẫn là những kí ức đầy hãi hùng. Vì những hãi hùng này mà ngày đó hàng triệu người con đất Việt phải liều thân bỏ xứ ra đi, mong kiếm tìm một vận hội mới. Người chiến thắng không chỉ làm ngơ mà còn không hiếm những kẻ trục lợi dựa trên cuộc tháo chạy kinh hoàng diễn ra trong nhiều năm đã làm biết bao gia đình tan nát, bao nhiêu người phải chết trong tuyệt vọng, phải khuynh gia bại sản, phải nhơ nhuốc vì hải tặc, phải hoài thân trong bụng cá, phải bỏ xác trên đảo hoang. Người sống sót không mấy ai tránh khỏi những sang chấn tinh thần không dễ bình phục.
Là một nhà báo Cộng Sản và cũng là một nhà hoạt động chính trị, như chính ông đã tự nhận, dưới chế độ Cộng Sản, ông thừa hiểu thế nào là “Đấu Tranh Giai Cấp”, thế nào là “Chuyên Chính Vô Sản”, thế nào là “Bạo Lực Cách Mạng” vậy mà ông cũng không biết TẠI SAO thì kể cũng lạ !
Ông viết rằng: “Chưa người Việt Nam nào đã quên Tuyên Bố Thượng Hải ngày 28 /2 /1972. Đó là cuộc mặc cả trên lưng người Việt Nam ở cả 2 miền của Hoa Thịnh Đốn và Trung Nam Hải, là cú “Đi Đêm” đầy tai tiếng giữa Nixon và Mao”. Và ông viết tiếp: “Đặc biệt là sau khi Hội Nghị Ba Lê được các bên ký kết, Mỹ chính thức bước ra khỏi cuộc chiến, bỏ rơi Việt Nam Cộng Hoà, Mỹ không chỉ có lỗi với đồng minh chiến lược của mình, Mỹ có lỗi với cả dân tộc Việt Nam khi dửng dưng, ngoảnh mặt đi để Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa phần lãnh thổ thiêng liêng của Việt Nam (1974) và từ đó cho tới ngày 30 / 4 / 1975 trong tiếng gầm thét của cỗ máy chiến tranh trong tay người Việt Nam, chỉ có người Việt Nam chúng tôi ở 2 bên là ngã xuống trong cuộc lao vào nhau, chém giết nhau, thanh toán nhau chí mạng chứ đâu có người Mỹ”.
Sao ông chạy tội cho bọn đầu sỏ Cộng Sản Hà Nội khéo thế? Mỹ nó không giúp VNCH được nữa thì chúng bỏ. Chính bọn lãnh đạo Cộng Sản Hà Nội của ông ta còn dửng dưng ngoảnh mặt đi coi như không thấy, không biết thì tại sao ông lại đi trách bọn Mỹ ? Việt Nam mất cả chục ngàn cây số vuông biên giới cũng như cả trăm ngàn cây số vuông lãnh hải, Việt Nam mất Hoàng Sa, Trường Sa là do Phạm Văn Đồng đã ký vào ngày 14/9/1958 và Hiệp Định Phân Định Vịnh Bắc Bộ mà bọn lãnh đạo Hà Nội của ông đã ký vào năm 2000 để nhượng thêm Biển Đông cho Trung Cộng sao ông không tránh móc chúng mà lại đi trách móc bọn Mỹ là người dưng nước lã?
Ông viết: “ (Nếu) Sau hiệp nghị Giơnevơ 1954, phía Bắc vĩ tuyến 17 sẽ là những người dân miền Nam họ sẽ sống với Đảng cộng sản. Đảng sẽ dúi vào tay họ khẩu AK47 được sản xuất từ Liên Xô. Nam vĩ tuyến 17 sẽ là những người dân của miền Bắc. Họ sẽ sống với những người quốc gia. Trong tay họ là những khẩu AR15 được sản xuất ở Hoa Kỳ hay ở Tenavip. Điều gì sẽ xảy ra đây? Lịch sử sẽ phải viết khác đi chăng ? Tôi nghĩ rằng không thể. Người miền Nam mà sống ở miền Bắc cũng sẽ biết thế nào là đấu tố trong cải cách ruộng đất, thế nào là :
“Mang bục công an đặt giữa trái tim người,Bắt tình cảm ngược xuôi theo luật đi đường nhà nước”
(Lê Đạt)
sẽ phải thắt lưng buộc bụng, phải làm viêc bằng 2 để xây dựng chủ nghĩa xã hội, vẫn phải dốc sức để “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào” như lời kêu gọi của ông Hồ Chí Minh. Người miền Bắc sống ở miền Nam cũng làm sao mà tránh khỏi những ngày quân trường Thủ Đức, có học hành chút ít như trang lứa chúng tôi tránh sao khỏi những ngày võ bị Đà Lạt !
Đúng, nhưng nói rằng: “Rồi tất cả cũng phải dốc sức để “Bắc Tiến”, để “Lấp sông Bến Hải !”, dốc sức để “Kéo dài biên giới Hoa Kỳ đến vĩ tuyến 17” như lời kêu gọi của ông Ngô Đình Diệm…” thì qủa là qúa cường điệu và lộng ngôn. Ông căn cứ vào đâu mà bảo rằng ông Ngô Đình Diệm nói như vậy hay sẽ nói như vậy ? Chính vì ông Ngô Đình Diệm không muốn cho người Mỹ đem quân vào VN để diệt bọn Việt Cộng gian ác của các ông nên đã bị người Mỹ dùng tiền mua chuộc một số tướng lãnh VNCH bất hảo giết.
Rồi ông kết luận: “ Và nếu như lịch sử lại có một kết cục ngược lại, ngày 30 /4 / 1975 lại kết thúc chiến tranh ở Hà Nội ! thì liệu người dân Miền Bắc có thoát được những cuộc tập trung cải tạo để tẩy não như ngày nào ông Diệm “Tố Cộng”, lê máy chém đi lấy đầu cộng sản theo Luật 10/ 59 ! Vậy là bi kịch vẫn đến với dân tộc chúng ta như một thứ tiền định “.
Trời! Sao ông lại có thể “ suy bụng ta ra bụng người” mà kết luận như vậy? Sao ông không chịu “động não” một chút ?
1/ Người Quốc Gia là người Quốc Gia. Người Cộng Sản là người Cộng Sản. Chế độ miền Nam tuy không được hoàn toàn tự do dân chủ như các chế độ dân chủ tiền tiến Tây Phương nhưng cũng không độc tài, dã man và khát máu như chế độ Cộng Sản miền Bắc của ông. Ông không thể dùng cái đầu óc Cộng Sản của các ông mà suy diễn ra cái đầu óc của người Quốc Gia cũng như vậy.
2/ Đảng Cần Lao Nhân Vị của Ngô Đình Diện hay Đảng Dân Chủ của Nguyễn Văn Thiệu dù có độc ác hay tàn bạo tới đâu cũng không thể nào bằng đảng Cộng Sản của các ông.Ông thừa hiểu rằng người Cộng Sản các ông chủ trương Tam Vô: vô gia đình, vô tổ quốc, vô tôn giáo. Còn người quốc gia chúng tôi chủ trương ngược lại: có gia đình, có tổ quốc, có tôn giáo. Người Cộng Sản các ông chủ trương “thà giết lầm hơn tha lầm” Còn người Quốc Gia chúng tôi chủ trương ngược lại: “thà tha lầm hơn giết lầm”.
3/ Về giáo dục, người Cộng Sản các ông chủ trương lấy học thuyết Mác Lê làm làm căn bản và áp đặt chủ nghĩa Duy Vật, một chủ nghĩa vô luân, vô đạo đức để đào tạo con người. Còn chính sách giáo dục của người Quốc gia chúng tôi chủ trương nhân bản và khai phóng, đặt trên căn bản Nhân Trị Chủ Nghĩa, lấy Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí và Tín làm đầu nhằm phát triển toàn diện con người trong chiều hướng tốt. Người dân miền Nam không có được chính quyền miền Nam nhồi sọ thù hận nhân dân miền Bắc như nhân dân miền Bắc đã được bọn Việt Cộng Hà Nội nhồi sọ sự thù hận nhân dân miền Nam.
Bởi vậy có thể nói rằng kết luận của ông hoàn toàn sai. Và nếu ngày 30/4/75, kết thúc chiến tranh ở Hà Nội nghĩa là người miền Nam (người Quốc Gia) thắng trận, chắc chắn không hề có chuyện tập trung cải tạo để tẩy não như ngày nào ông Diệm “Tố Cộng”, lê máy chém đi lấy đầu cộng sản theo Luật 10/ 59 như ông Nguyễn Thượng Long viết. Phải nói là ông đã tưởng tượng mới đúng vì thử hỏi máy chém dưới thời ông Diệm đã chém được bao nhiêu cái đầu Việt Cộng, nhưng nội cái vụ Cải Cách Ruộng Đất ở miền Bắc thì sách sử đã ghi rỏ trên một trăm ngàn người dân vô tội miền Bắc đã bị giết chết một cách dã man và tàn bạo.
Ông viết tiếp: “Tại sao sau ngày 30/4/1975 ngày con Lạc ở miền Bắc chiến thắng cháu Hồng ở miền Nam, người chiến thắng không thực lòng hoà hợp, hoà giải mà lại tạo ra những thương tổn không đáng có trong lòng những kẻ bại trận. Những ngày tháng tù đầy, cải tạo và phân biệt đối xử với quân nhân, viên chức chính quyền cũ và vợ con gia đình họ đến nay vẫn là những kí ức đầy hãi hùng. Vì những hãi hùng này mà ngày đó hàng triệu người con đất Việt phải liều thân bỏ xứ ra đi, mong kiếm tìm một vận hội mới. Người chiến thắng không chỉ làm ngơ mà còn không hiếm những kẻ trục lợi dựa trên cuộc tháo chạy kinh hoàng diễn ra trong nhiều năm đã làm biết bao gia đình tan nát, bao nhiêu người phải chết trong tuyệt vọng, phải khuynh gia bại sản, phải nhơ nhuốc vì hải tặc, phải hoài thân trong bụng cá, phải bỏ xác trên đảo hoang. Người sống sót không mấy ai tránh khỏi những sang chấn tinh thần không dễ bình phục”.
Đến đây thì ta đã hiểu mục đích của Nhà Báo Nguyễn Thượng Long kiêm Nhà Hoạt Động Chính Trị của Cộng Sản Hà Nội muốn gì. Ông muốn chúng ta quên quá khứ, quên hận thù để Hoà Hợp Hoà Giải với bọn Cộng Sản Hà Nội. Nhưng chúng ta làm sao có thể Hoà Hợp Hoà Giải khi mà bọn lãnh đạo Hà Nội vẫn bấu víu vào Chủ Nghĩa Mác Lê? Làm sao chúng ta có thể Hoà Hợp Hòa Giải khi mà bọn lãnh Đạo Hà Nội vẫn chưa từ bỏ độc quyền cai trị? Làm sao chúng ta có thể Hoà Hợp Hoà giải được khi mà bọn lãnh đạo Hà Nội vẫn chưa chịu chấp nhận đa nguyên, đa đảng?
Làm sao chúng ta có thể Hoà Hợp, Hoà Giải với bọn bán nước?
Xin đừng mơ tưởng.
30/4/2011

TRƯƠNG PHÚ THỨ LÀ AI ?

-Mt68 TẠM THỜI TRẢ LỜI:


TÊN THẬT LÀ TRƯƠNG VĨNH QUANG -ĐỐC SỰ QGHC KHÓA 15 - KHÔNG LÀ LUẬT SƯ GÌ CẢ- CHỈ CÓ BẰNG CỬ NHÂN THƯƠNG MẠI - KHÔNG BÀ CON HỌ HÀNG GÌ VỚI BÀ NHU CẢ- COI CHỪNG BỊ BỊP ???

'Bà Nhu như tôi từng biết' (phần 1)

Người được coi là như là cựu 'Đệ nhất Phu nhân' của nền Đệ nhất Cộng hòa ở miền Việt Nam, bà Trần Lệ Xuân, vừa qua đời ở tuổi 87.

Bà là vợ của ông Ngô Đình Nhu, em trai Tổng thống Ngô Đình Diệm.
Tin bà Trần Lệ Xuân qua đời được loan báo tới các phương tiện thông tin đại chúng từ luật sư Trương Phú Thứ, một trong số ít người có tiếp xúc, trò chuyện với bà trong những năm gần đây.

Từ Seattle, Hoa Kỳ, ông Trương Phú Thứ cho BBC biết:

LS Trương Phú Thứ: Tôi được biết bà Nhu nằm viện đâu chừng ba tuần lễ trước khi qua đời. Khi bà thấy mệt quá thì bác sỹ họ đưa vào trong nhà thương nằm trong tình trạng rất yếu, gần như không nói được nữa.
Tới Chủ nhật vừa rồi thì tôi nhận được điện thoại của gia đình bà từ bên Rome, nói bà đã qua đời vào lúc 2 giờ sáng giờ địa phương. Tất cả ba con của bà đều có mặt lúc ấy.
Trước khi mất khoảng ba năm, bà Nhu ở nhà với con trai cả là Ngô Đình Trác, tại Rome (Ý). Cô con gái út là Ngô Đình Lệ Quyên cũng ở nhà đó, trong tầng hầm. Cả gia đình ở với nhau rất vui vẻ hòa thuận. Vậy cho nên bà qua đời là cả gia đình có mặt.
Con trai thứ của bà Nhu là Ngô Đình Quỳnh thì sống và làm việc bên Bỉ.

BBC: Vậy thông tin nói bà Trần Lệ Xuân sống một mình trong biệt thự xa hoa lộng lẫy mà bạn của bà tặng thì là tin thất thiệt?

LS Trương Phú Thứ: Tin đó cũng như tin mà một vị tự xưng là sử gia tung ra, rằng bà Nhu có tới 17 tỷ Mỹ kim từ những năm 1960-1961. Tôi chỉ hỏi liệu hồi đó mang cả Sài Gòn ra bán có thu được 17 tỷ Mỹ kim hay không!
Thứ hai nữa, sau vụ đảo chánh 1963 bà Nhu phải ở trong một căn phòng studio chật chội, không có phòng ngủ, với bốn đứa con, chứ làm gì có lâu đài xa hoa như họ nói.
Cũng như là thông tin bà bị mất trộm một số tiền lớn ở Rome, hay năm 1963 bà đi mua đồ trang sức trị giá 30.000 đôla ở New York mà quịt không trả... Toàn chuyện họ bày đặt ra, đâu có được.

BBC: Thưa, lần cuối cùng ông có tiếp xúc với bà Trần Lệ Xuân là khi nào?
Bà cố vấn Ngô Đình Nhu
Sinh năm 1924 tại Hà Nội
Tốt nghiệp tú tài trường Albert Sarraut
Kết hôn với ông Ngô Đình Nhu năm 1943
Sống lưu vong từ năm 1963 sau khi có đảo chính ở miền Nam Việt Nam

LS Trương Phú Thứ: Lần cuối tôi nói chuyện với bà là chừng cách đây hơn hai tháng. Lần ấy bà còn khỏe lắm, tiếng nói khỏe và rất to, trong cuộc nói chuyện bà còn cười rất vui vẻ. Vậy mà tôi cũng không ngờ bà suy sụp mau lẹ như vậy.

BBC: Và các cuộc nói chuyện của ông với bà Trần Lệ Xuân là để bàn thảo về cuốn sách của bà ấy phải không ạ?

LS Trương Phú Thứ: Vâng, đúng là như vậy. Bà Nhu viết bằng tiếng Pháp vì tiếng Việt bà viết không được giỏi nhưng tiếng Pháp của bà thì anh bạn tôi là Nguyễn Kim Quý, tiến sỹ văn chương Pháp, phải công nhận là lối hành văn của người rất giỏi Pháp văn.
Bà học trường Tây, có tú tài phần hai và cũng sống ở Pháp nhiều năm. Hồi tôi đi thăm bà lần đầu bên Paris năm 2002, bà sống một mình trong một căn hộ bên đó.
Lại nói về điều kiện sinh sống thì căn hộ đó của bà trông cũng rất bình thường, không thể so được với nhiều căn hộ bên Mỹ, mà lại tận trên tầng lầu thứ 11. Người già mà có tiền ai người ta chịu sống như vậy chứ?
Cuốn sách của bà Nhu thoạt ra dự tính sẽ phát hành vào tháng 9 năm nay, thế nhưng với cái chết đột ngột của bà thì chúng tôi phải tạm hoãn phát hành để truy cứu cho thật cẩn thận, không thể vội vàng được.
Vậy cho nên cuốn sách chắc sẽ ra trễ hơn độ dăm ba tháng.

BBC: Lần đầu tiên ông yết kiến bà Trần Lệ Xuân thì ấn tượng của ông như thế nào ạ. Ông có ngỡ ngàng vì người thực khác xa với tưởng tượng không?

LS Trương Phú Thứ: Cái hình ảnh mà hồi xưa chúng ta hay xem trên báo chí là hình ảnh một phụ nữ 28-29 tuổi, trẻ và đẹp. Nhưng hình ảnh của bà Nhu khi tôi gặp bà lần đầu là hình ảnh một bà cụ, tất nhiên là có khác nhau.
Tôi thì không ngỡ ngàng, vì biết ai cũng phải như thế, con người ta ai mà chẳng phải già đi. Tất nhiên vẻ đẹp bên ngoài thì không thể giống như hồi xưa.
Bàn tay người Mỹ

Bà Trần Lệ Xuân khi còn ở Sài Gòn

BBC: Thế nhưng còn sự quyền uy của người phụ nữ từng được cho là một thời khuynh đảo chính trường, ông có cảm thấy điều này không ạ?

LS Trương Phú Thứ: Thực ra, bà Ngô Đình Nhu có quyền lực gì? Giống như một cô ca sỹ, hát một bài có người khen kẻ chê, thì bà Nhu cũng vậy.
Bà là vợ của một ông cố vấn, thậm chí còn không có sự bổ nhiệm chính thức của chính phủ. Vì ông cố vấn là em của ông tổng thống nên ông giúp ông tổng thống mà thôi chứ đâu có giấy tờ gì.
Nói vì bà Nhu khuynh đảo mà chế độ sụp đổ là điều sai lầm.
Quyết định lật đổ chính quyền Đệ nhất Cộng hòa và thủ tiêu anh em ông Tổng thống Ngô Đình Diệm - Ngô Đình Nhu, không phải là quyết định của người Việt Nam, mà là của người Hoa Kỳ. Đó là quyết định của một nhóm siêu quyền lực đứng sau tòa Bạch ốc của Hoa Kỳ, vì lợi ích của nước Mỹ mà họ làm vậy.
Ông Ngô Đình Diệm hay ai khác lúc đó làm tổng thống thì chắc đều chung số phận ấy cả.
Mà chúng ta thấy, ông Tổng thống J.F. Kennedy, chỉ có trì hoãn hoặc từ chối thi hành đòi hỏi của nhóm quyền lực đó mà cũng bị ám sát chết dưới con mắt chứng kiến của hàng nghìn người. Tổng thống Mỹ còn như vậy, huống hồ là tổng thống của nước Việt Nam?

BBC: Vâng nhưng thưa ông, chúng ta cũng không thể quên rằng bà Nhu được coi như Đệ nhất Phu nhân một thời vì ông Ngô Đình Diệm không lập gia đình, bà còn là dân biểu, Chủ tịch Hội phụ nữ. Và nhiều người cũng chưa quên những câu phát ngôn gây tranh cãi của bà, như trong chiến dịch đối với Phật giáo, vụ Hòa thượng Thích Quảng Đức...

LS Trương Phú Thứ: Tôi thì thấy rằng đa số vụ, người ta muốn nhắm vào ông tổng thống, nhưng không biết làm cách nào. Ông Tổng thống Ngô Đình Diệm không phải thánh nhân, tất nhiên ông cũng có sai lầm.
Nhưng họ không bới móc tấn công được gì ông ấy, nên họ quay ra tấn công bà Ngô Đình Nhu.
Tuy nhiên, trong các cuộc nói chuyện của tôi với bà Nhu, chúng tôi không bao giờ nói chuyện chính trị cả, ngay cả những chuyện xảy ra với bản thân bà lúc đó.
Chúng tôi nói những chuyện khác, những điều rồi sẽ nằm trong cuốn sách sẽ phát hành trong tương lai.

(Còn tiếp)


Dòng họ Ngô Đình: (hình năm 1963, từ trái sang) Cố vấn Ngô Đình Nhu, Tổng thống Ngô Đình Diệm, Tổng Giám mục Ngô Đình Thục, em gái tổng thống Diệm, bà mẹ (ngồi), bà Trần Lệ Xuân, ông Ngô Đình Cẩn. Hàng con cháu: Trác, Quỳnh, Lệ Quyên, Lệ Thủy
'Bà Nhu như tôi từng biết' (phần 2)
BBC tiếp tục câu chuyện với luật sư Trương Phú Thứ, một trong số ít người có tiếp xúc, trò chuyện với bà Ngô Đình Nhu trong những năm gần đây.

Bà Nhu, nhũ danh Maria Trần Lệ Xuân, vừa qua đời hôm Chủ nhật 24/04 tại Rome, Ý, ở tuổi 87.
Ông Thứ, hiện sống tại Seattle, Hoa Kỳ, nói ông đang có trong tay tập bản thảo các bài viết của bà Trần Lệ Xuân, tập trung thành một cuốn sách sẽ được xuất bản vào cuối năm nay.

BBC: Cuốn sách của bà Trần Lệ Xuân, theo như ông nói là không bàn chuyện chính trị, chắc sẽ đề cập tới các chủ đề như cuộc sống, con người, về quan hệ xã hội vv..., có phải không ạ?

LS Trương Phú Thứ: Cuốn sách của bà Nhu nói về những chuyện cao hơn, xa hơn như thế nữa. Thí dụ các vấn đề tâm linh, sự hiện diện của con người, của Thượng đế...
Bà cũng nói về một vài vấn đề mà mọi người muốn biết, như chuyện gia đình, đời tư của bà từ khi còn nhỏ đi học ở Hà Nội, hay lớn lên đi lấy chồng ra sao. Tôi chắc là độc giả thì nhiều người tò mò, muốn biết những chuyện này.
Nhưng tựu chung, cuốn sách của bà Nhu sẽ nói về những chuyện cao hơn và xa hơn; và phải đợi đến khi nào sách ra thì độc giả mới có cơ hội đọc và chiêm nghiệm.
Bà tha thứ tất cả, cả những người cầm súng bắn vào đầu chồng bà, cả những người đi bày đặt nói xấu bà trên báo chí, trong dư luận... Bà ấy từng nói là nếu có những việc như vậy, thì bà ấy tha thứ hết, không có oán hận chuyện gì.

LS Trương Phú Thứ

Nói về quá trình viết sách thì mấy năm qua, lúc hứng thú thì bà viết được nhiều, lúc không hứng thì có khi cả nửa tháng bà không viết chữ nào. Bản thảo đều chuyển cho tôi, và hiện tôi đang có trong tay đây.
Cuốn sách hiện còn trong tình trạng dở dang, chừng độ 500 trang, nhưng phần cuối thì còn chưa hoàn tất.
'Chỉ biết có mình ông Nhu'
BBC: Dĩ nhiên sẽ có nhiều người tò mò muốn biết liệu khi còn khỏe, cuộc sống riêng tư của bà Trần Lệ Xuân như thế nào.

LS Trương Phú Thứ: Khi ông cố vấn Ngô Đình Nhu bị thảm sát, thì bà mới có chưa đầy 40 tuổi, cái tuổi có thể gọi là đẹp và mặn nồng nhất của người phụ nữ. Mà bà Nhu, như chúng ta thấy, cũng có sắc đẹp, sinh động, giỏi ngoại ngữ, nói tiếng Anh tiếng Pháp lưu loát, đại để là một người phụ nữ trên mức bình thường.
Cũng có nhiều người, kể cả chính trị gia, vì lúc đó bà Nhu hoạt động chính trường nên quen biết nhiều người lắm, cũng có lòng yêu mến kính trọng bà.
Tôi được biết có một ông kỹ nghệ gia, làm quản trị cho công ty chế tạo xe hơi Rolls Royce ở London, cũng đề nghị lập gia đình với bà Nhu, nhưng bà đã khước từ.
Cả đời, bà chỉ biết có một mình ông Ngô Đình Nhu mà thôi.
Trong suốt nửa thế kỷ qua, những người muốn công kích hay phỉ báng bà đã không tìm ra được bất cứ một điều gì về vấn đề tình cảm để mang ra công kích bà.
Bà Nhu sống thầm lặng, một mình, một cách rất đạo đức, kín đáo và đơn sơ.

BBC: Nói chuyện tới giờ, thì có thể thấy luật sư rất có cảm tình với bà Trần Lệ Xuân?

LS Trương Phú Thứ: Đúng thế, tôi rất có cảm tình với bà. Nói đúng ra, tôi kính phục bà.
Bà Nhu là một phụ nữ thông minh, rất thông minh. Bà giỏi, dám nói dám làm.
Nhưng có một điều mọi người nên biết, trong những ngày tháng sau này của bà thì tôi thấy bà Nhu có một đức tính mà ít người có: đó là sự tha thứ.
Bà tha thứ tất cả, cả những người cầm súng bắn vào đầu chồng bà, cả những người đi bày đặt nói xấu bà trên báo chí, trong dư luận... Bà ấy từng nói là nếu có những việc như vậy, thì bà ấy tha thứ hết, không có oán hận chuyện gì.
Đó là sự vị tha, hiếm có trong cuộc đời con người ta, vốn có yêu có ghét, có hận thù. Dường như bà Nhu đã đi xa được hơn những tình cảm bình thường đó.

BBC: Tài giỏi vậy, nhưng bà Trần Lệ Xuân cũng là một người khá cô độc phải không ạ?

LS Trương Phú Thứ: Không phải "khá cô độc" mà là "quá cô độc" thì có. Từ khi chồng chết, phải lưu vong ở ngoại quốc thì bà ấy không còn liên lạc với ai nữa.
Bà chỉ sống ở nhà với mấy đứa con. Theo đạo nên bà đi lễ hàng ngày, nhưng cũng chỉ đến chào hỏi cha cố, rồi các tín đồ ở đó. Bạn bè không có nhiều.
Tôi nhớ bà có một vài người bạn Nhật Bản vì khi nói chuyện với tôi, bà mặc bộ đồ kimono Nhật. Bà ấy nói với tôi rằng đó là do người bạn Nhật gửi tặng, mỗi năm vài cái để bà mặc trong nhà. Thì tôi nghĩ chắc bà ấy còn liên lạc với một số ít bạn thân thiết, ngoài ra chẳng có ai đâu.
Con cái của bà thì họ lớn lên ở ngoại quốc (ông bà Ngô Đình Nhu có bốn con, hai trai là Ngô Đình Trác và Ngô Đình Quỳnh, hai gái là Ngô Đình Lệ Thủy - tử nạn giao thông năm 1968; và Ngô Đình Lệ Quyên). Họ có những suy tư và lối hấp thụ văn hóa khác, tuy họ đều yêu thương và kính trọng mẹ.
Vậy nên tôi cũng không nghĩ họ có thể chia sẻ với bà về những suy tư hay thăng trầm của cuộc đời bà. Nhất là những chuyện quá khứ, thì khi đi khỏi Việt Nam họ còn rất nhỏ nên tôi cũng không nghĩ họ biết để mà nhắc tới.

Mở bằng chương trình nghe nhìn khác

Bà Nhu cũng là người rất độc lập, ngay cả về vật chất bà không nhờ vả gì con cái.
Những năm 63-65, gia đình bà ấy khá túng thiếu, cho tới tận sau này, có một ân nhân ẩn danh cho bà một số tiền rất lớn và bà mua được hai căn apartment ở bên Paris, quận16 gần trung tâm.
Bà Nhu ở một cái, một cái cho mướn để lấy tiền sinh sống.

BBC: Cơ duyên nào mà ông lại có điều kiện tiếp xúc và cộng tác với bà Trần Lệ Xuân trong khuôn khổ cuốn sách của bà ạ?

LS Trương Phú Thứ: Gia đình tôi biết gia đình của bà Nhu từ khi tôi còn bé, ở Việt Nam. Hồi ông bà ở Dinh Độc Lập thì tôi mới mười mấy tuổi đầu, nhưng bà vẫn còn nhớ.
Tôi rời Việt Nam năm 1975. Sau này ra ngoại quốc tôi liên lạc lại, bà ấy mời tôi qua chơi. Tôi cũng may mắn được bà Nhu quý mến và cho phép dịch cuốn sách của bà.

Một cuộc phỏng vấn lảng nhách
Nguyển đạt Thịnh

Thử hình dung ngày 7 tháng Bẩy 1965, 19 tháng sau ngày người Mỹ sai tướng lãnh Việt Nam giết tổng thống Ngô Đình Diệm, một phóng viên hỏi thiếu tướng Đỗ Mậu, "Xin thiếu tướng xác nhận tổng thống Ngô Đình Diệm vừa ký sắc lệnh phong thiếu tướng lên cấp bực trung tướng." Và ông Mậu trả lời, "đúng. Ông Cụ ban ơn cho tôi nhân ngày Song Thất."
Tôi gọi cuộc phỏng vấn đó là lảng nhách, vì trước đó 19 tháng, thiếu tướng Đỗ Mậu đã ra lệnh giết tổng thống Diệm. Cả anh phóng viên lẫn ông tướng đã quá cố đều nói chuyện ảo. Tôi dùng cuộc phỏng vấn ảo này để khen cô Thanh Trúc, đài RFA, cũng rất thành công trong một cuộc phỏng vấn ảo khác: ngày 20 tháng Chín 2010, cô phỏng vấn ông Nguyễn Ngọc Quỳnh cục trưởng Cục Quản Lý Lao Động Ngoài Nước , thuộc Bộ Lao Động Thương Binh Xã Hội.

Thanh Trúc: Thưa ông, các đại biểu quốc hội nhận định là mặc dù điều 59 và 60 của Luật Lao Động, liên quan đến người đi nước ngoài làm việc theo hợp đồng, qui định hỗ trợ việc làm cũng như khuyến khích tạo việc làm cho lao động sau khi về nước, nhưng trên thực tế thì các bộ, ngành, địa phương chưa có chính sách hỗ trợ cho nhóm đối tượng này. Các đại biểu cũng nhìn nhận đưa người đi lao động ở nước ngoài là lãnh vực khó khăn, phức tạp, nhạy cảm. Thưa ông thấy cái nhìn của quốc hội có đúng hay không?
Câu hỏi được nêu lên cũng trễ tràng đúng 19 tháng, sau ngày trên 20 người thợ hàn, công nhân xuất khẩu, từ chối không về nước, và đứng dân sự nguyên cáo kiện 2 hãng thầu Việt Nam Interserco và Vinamotor, vì vi phạm khế ước ký kết với họ: theo tinh thần khế ước thì họ được làm việc tại Houston trong 30 tháng, và họ đã phải đóng tiền đầu từ 7,000 đến 15,000 mỹ kim để mua ân huệ này; nhưng mới làm việc và lãnh lương được 8 tháng thì họ nhận được chỉ thị của nhà thầu lao công bảo họ chuẩn bị hàng trang để bị đưa về nước nhường chỗ làm cho toán thợ hàn khác, vừa đóng tiền đầu.
Câu hỏi của cô Thanh Trúc đáng lẽ phải đề cập đến thái độ của chính phủ Việt Nam đối với những người thợ hàn đang không tuân lệnh trở về mà còn kiện hai hãng thầu, cả hai cùng có vốn của nhà nước XHCNghĩa.

Ông Nguyễn Ngọc Quỳnh cũng lãng nhách không thua cô Thanh Trúc, qua câu trả lời:“Việc mà bây giờ những người đi làm ở nước ngoài về nước mà vẫn có việc làm cho họ thì đúng là chưa làm được nhiều. Bộ Lao Động hiện đang xây dựng một cơ sở dữ liệu về lao động việc làm. Trong cơ sở dữ liệu đó cũng có những người lao động đi làm việc ở nước ngoài mà về nước với trình độ chuyên môn nghiệp vụ thế nào đó, để giới thiệu cho những công ty xí nghiệp ở Việt Nam. Thì cái đó cũng đã làm, nhưng mà chưa làm được nhiều.”
Thanh Trúc: Thưa ông Nguyễn Ngọc Quỳnh, vấn đề bảo hộ lao động làm việc ở nước ngoài là nhắm tới những đối tượng đã về nước rồi chứ không phải là những đối tượng đang làm việc ở bên ngoài phải không?
Ông Nguyễn Ngọc Quỳnh: “Không, tất cả chứ ạ. Quốc hội sẽ xem xét tất cả những việc liên quan đến người đi làm việc nước ngoài theo hợp đồng, kể cả vấn đề tuyển chọn đưa người ta đi, xong rồi là bảo về quyền lợi cho người ta ở nước ngoài đã tốt hay chưa, và sau khi người ta về nước thì sử dụng người ta như thế nào. Đấy là quốc hội sẽ giám sát tất cả chứ không chỉ việc người ta về nước thì bố trí việc làm thế nào.
Việt Nam có một luật gọi là luật về người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, trong đó qui định rất rõ việc bảo hộ bảo về quyền lợi của người lao động ở nước ngoài được thực hiện ra làm sao. Tất cả các thứ đó đều được qui định trong luật, được thực hiện từ ngày 1 Tháng Bảy năm 2007 đến nay.”
Công nhân trong khóa huấn luyện chờ đi XKLĐ ở cty Vinaconex. Photo courtesy of vinaconex.

Thanh Trúc: Trong tư cách cục trưởng Cục Quản Lý Lao Động Ngoài Nước thì ông thấy sự thực hiện đó đã đến nơi đến chốn chưa hay còn lỏng lẻo khiến nhiều công ty chuyên trách xuất khẩu lao động đã lợi dụng những kẻ hở đó để đưa lao động đi một cách bừa bãi, đôi khi trình độ hay kiến thức của người ta không tương xứng với công việc?
Ông Nguyễn Ngọc Quỳnh: “Nhìn chung thì các công ty được cấp giấy phép đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài thì đã thực hiện nghiêm túc các qui định của pháp luật. Tất nhiên, trong quá trình thực hiện, thì cũng có những sai sót những vi phạm. Bộ Lao Động Thương Binh Và Xã Hội thường xuyên tổ chức những đợt thanh tra và kiểm tra các công ty đó về việc thực hiện. Thực hiện sai thì bị xử lý theo qui định của pháp luật. Ngoài ra, chỗ cục chúng tôi cũng có một bộ phận chuyên tiếp nhận ý kiến của người lao động. Người lao động từ nước ngoài hay trong nước đều có thể hỏi chúng tôi và chúng tôi phải kiểm tra và xử lý, nếu người ta gặp những khó khăn thì đều phải giúp đỡ bảo hộ. Còn nếu người ta bị đối xử không đúng thì chúng tôi cũng phải xử lý và xử phạt người gây ra những việc đó.”
Thanh Trúc: Đã có những trường hợp lao động ra nước ngoài theo hợp đồng, họ chỉ được ký hợp đồng một ngày trước khi đi, họ không nắm vững được những điều trong hợp đồng. Khi qua đó chủ sử dụng lao động đã trả lương không đúng như hứa hẹn. Người ta lại không biết phải báo cáo về Bộ Lao Động hay Cục Quản Lý Lao Động Ngoài Nước mà lại báo cáo cho công ty trung gian, công ty môi giới đưa họ đi.
Ông Nguyễn Ngọc Quỳnh: “Người ta phải báo cáo cả cho công ty đó cả cho đại sứ quán Việt Nam ở nước đó và người ta có thể báo cáo cả cho Cục Quản Lý Lao Động Ngoài Nước hoặc là Bộ Lao Động Thương Binh Xã Hội. Chúng tôi đều nhận được những báo cáo đó, và trong những trường hợp làm không đúng hợp đồng trước khi đi thì chúng tôi đều yêu cầu phải thực hiện đúng hợp đồng.
Còn trong những tranh chấp mà buộc phải đưa lao động về nước thì có những chính sách hỗ trợ cho người lao động nếu không phải lỗi của người lao động.”
Thanh Trúc: Theo số liệu của bên Bộ Lao Động Thương Binh Và Xã Hội thì từ năm 2001 đến nay, bình quân mỗi năm Việt Nam đưa trên 60.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài. Thưa ông Bộ Lao Động Thương Binh Và Xã Hội có định mở rộng thị trường lao động sang Châu Âu hay Châu Mỹ không?
Ông Nguyễn Ngọc Quỳnh: “Nói chung việc người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là một trong những cái nhu cầu, chính phủ Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động đi nước ngoài nếu người ta có nguyện vọng hợp pháp. Nếu những nước nào có nhu cầu và lao động Việt Nam đáp ứng được nhu cầu đó, phù hợp với luật pháp ViệtNam và luật pháp nước nhận thì chính phủ Việt Nam đều tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người đi làm việc ở nước ngoài.”
Thanh Trúc: Thưa ông các công ty môi giới, khi tuyển mộ người lao động đi Đài Loan, Hàn Quốc, Malaysia, Nhật Bản, Ả Rập Xê Út hay Chypre chẳng hạn, thì họ buộc công nhân phải đóng một số tiền mà thường thì công nhân than là phải đóng nhiều lắm, đi thì bằng cách nào cũng phải lấy lại vốn hoặc phải trả hết nợ ở bên Việt Nam?
Ông Nguyễn Ngọc Quỳnh: “Vâng, trong luật qui định rất rõ là các công ty được phép thu của người lao động một khoản phí dịch vụ. Khoản phí dịch vụ đó được qui định rất là rõ cái mức cao là bao nhiêu. Ngoài ra người lao động cũng phải chẳng hạn như là vé máy bay thì lao động phải tự lo, có qui định cụ thể trong luật. Nếu công ty nào mà thu quá cái chỗ đó thì người lao động có thể khiếu nại.”
Thanh Trúc: Thế thì rõ ràng hay có thể nói rằng lâu nay đã có một sự khá là trống đánh xuôi kèn thổi ngược giữa các công ty môi giới đưa người đi lao động nước ngoài và những công nhân ao ước được đi nước ngoài làm việc. Rõ ràng hai bên đã có những điểm không hiểu nhau?
Ông Nguyễn Ngọc Quỳnh: Cái này thì có! Nó có những trường hợp thế này, tức là các công ty mà đưa người ta đi làm việc nước ngoài có thể là làm đúng pháp luật, nhưng mà ngoài cái số đi hợp pháp thì còn có những trường hợp các tổ chức lừa đảo, không có quyền làm việc này không được cấp giấy phép làm việc này, nhưng người ta lừa người lao động. Trong những trường hợp đó người lao động có thể phải mất nhiều tiền. Chính phủ Việt Nam, cơ quan công an và các cơ quan chức năng đã phải cố phát hiện, xử lý. Đã có rất nhiều vụ án thực sự về những việc lừa đảo này.
Thanh Trúc: Trong khoản thời gian từ 2001 đến 2004, nhiều công nhân đi làm việc bên Đài Loan, Nam Hàn, Malaysia, Nhật, đã tự phá hợp đồng tự trốn ra ngoài để kiếm việc khác. Ông nhìn vấn đề này như thế nào?
Ông Nguyễn Ngọc Quỳnh: “Cái tình trạng bỏ hợp đồng ra ngoài để làm việc không hợp pháp thì nó có, trước đây là phổ biến tương đối nhiều. Những nguyên nhân của nó, kể cả nguyên nhân ở nước nhận lao động nữa, ví dụ nước nhận lao động còn có nhiều chủ sử dụng lao động bất hợp pháp. Nếu người ta không tìm được việc thì người ta sẽ không bỏ ra ngoài.
Rồi có cả nguyên nhân của một số người lao động là cũng không tuân thủ các qui định cho nên tùy tiện bỏ hợp đồng ra ngoài. Cái đó cũng có.
Nhưng mà từ 2004 , chúng ta đã kiểm soát , đã đào tạo giáo dục cho người lao động tốt hơn, cho nên ý thức của người lao động được nâng lên. Và rồi chúng ta cũng hợp tác chặc chẽ với các nước để xứ lý những trường hợp các chủ sử dụng lao động nước đó mà nhận lao động bất hợp pháp. Tổng hợp tất cả những điều kiện như vậy thì cái tỷ lệ lao động bỏ trốn đã giảm xuống rất nhiều. Một số thị trường thì hầu như không còn lao động bỏ hợp đồng nữa.”
Thanh Trúc: Thứ trưởng Bộ Ngoại Giao Đoàn Xuân Hưng đề nghị Bộ Lao Động Thương Binh Và Xã Hội hình thành các địa chỉ, trung tâm hỗ trợ lao động nói chung và lao động nữ nói riêng tại các nước có đông lao động Việt Nam. Cái đề nghị này ông thấy có khả thi không, bao giờ có thể xây dựng được?
Ông Nguyễn Ngọc Quỳnh: “Thực ra cái này đã làm từ nhiều năm nay. Ví dụ hiện nay chúng tôi có Ban Quản Lý Lao Động tại đại sứ quán Việt Nam ở trên tám nước có đông lao động chẳng hạn như Mã Lai, Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Đông… Đó là những cơ quan bảo vệ quyền lợi cho người lao động.
Tất nhiên tới đây, nếu thị trường tiếp tục mở rộng, chúng tôi sẽ mở thêm các trung tâm các Ban Quản Lý Lao Động ở các nước khác. Việc bảo vệ quyền lợi của người lao động rất là quan trọng và sẽ tiếp tục được tăng cường.”
Thanh Trúc: Xin cảm ơn ông Nguyễn Ngọc Quỳnh, cục trưởng Cục Quản Lý Lao Động Ngoài Nước, đã trả lời những câu hỏi của chúng tôi.

Có thể cô Thanh Trúc không biết vụ kiện đã xẩy ra 19 tháng trước ngày cô phỏng vấn ông Quỳnh; nhưng còn ông Quỳnh thì sao? Là cục trưởng Cục Quản Lý Lao Động Ngoài Nước,
mà ông cũng không biết vụ kiện nóng bỏng, trong đó luật sư Anthony Buzbee khéo dùng 2 chữ 'indentured servants' để thắng 60 triệu mỹ kim cho 12 người thợ hàn Việt Nam mà ông biện hộ.
Trước một phiên tòa tại Galveston, Buzbee đặt lên câu hỏi Were they 'indentured servants'? (họ có phải là những người đi ở đợ không?), rồi ông khẳng định là "có", vì "họ cũng bị chuyên chở từ quê hương họ, cách thành phố này gần 10,000 miles, để bắt phải làm việc theo quy chế ở đợ."
Tôi khen Buzbee khéo dùng chữ, vì hai chữ indentured servants là một dấu ấn ghi lại cách thuê mướn công nhân ngoại quốc, vài thế kỷ trước, của những nông gia, những chủ đồn điền, thương gia Hoa Kỳ thiếu nhân công phải mướn công nhân ở đợ dài hạn chuyên chở từ Phi Châu và Âu Châu, vượt Đại Tây Dương, sang làm việc. Nhiều công nhân Phi Châu bị mua đứt để suốt đời ở đợ.
Cái khéo của Buzbee là ông không cần giải thích nhiều về quy chế thuê mướn làm việc của những người thợ hàn Việt Nam, mà tòa vẫn hiểu, hiểu xa hơn, sâu đậm hơn qua sự so sánh với những công nhân vài trăm năm trước được đưa sang Hoa Kỳ làm việc trong quy chế indentured servants.
Nếu ông Quỳnh không biết việc trước tòa án Hoa Kỳ, Việt Cộng bị ví như bọn buôn nô lệ, thì quốc hội cũng phải biết mới có lý. Có thể họ cho là Buzbee không nêu lên một điều gì mới, vì 10 tháng trước bộ ngoại giao Hoa Kỳ cũng đã đưa Việt Nam vào danh sách cần theo dõi bậc 2 trong phúc trình năm 2010 về tệ nạn buôn người.

Có lẽ phải chờ đến ngày 2 công ty xuất khẩu lao động Interserco và Vinamotor bị tòa tuyên án xử phạt vài trăm triệu mỹ kim, như 2 công ty Hoa Kỳ đồng lõa với họ đã bị phạt, quốc hội Việt Cộng và ông Quỳnh mới cập nhật hiểu biết của họ.

Trong lúc chờ đợi, xin RFA gỡ bài phỏng vấn ảo xuống, thôi không khoe tình trạng thiếu cập nhật tin tức của phóng viên nữa.
Nguyển đạt Thịnh

VIỆT DZŨNG
ĐÃ MẮC THÊM BỊNH "ĐUI" CHĂNG ?



TÂM TÌNH VỚI NGHỆ SĨ CHỐNG CỘNG VIỆT-DZŨNG

Việt Dzũng thân mến,

Anh là Ngô Văn Mẫu, một cựu quân nhân QL/VNCH tại Houston, là một người vô cùng ái mộ tinh thần chống cộng cao độ của Việt Dzũng, lập trường chống cộng vững chắc của em, và đặc biệt tài năng sáng tác nhạc chống công tuyệt vời của Dzũng.
Dzũng ĐÃ THỪA BIẾT: Chỗ nào có sự hiện diện của Việt Cộng nơi đó phải có VIỆT CỘNG NẰM VÙNG HOẠT ĐỘNG. Nơi nào có Việt Cộng nơi đó phải có TRANH CHẤP, RỐI LOẠN, BẤT AN. Chỗ nào có sự hiện diện của Việt Cộng nơi đó phải có GIAN DỐI, TRÁO TRỞ. Thành phố Houston của anh cũng KHÔNG NGOẠI LỆ, không vượt ra khỏi cái quy luật cộng sản này. Bởi vì, nơi nào có Việt cộng nơi đó sống YÊN ỔN, HOÀ BÌNH quả là một chuyện BẤT BÌNH THƯỜNG.

Nếu Việt Dzũng là một NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA CHÂN CHÍNH: yêu chuộng tự do, dân chủ và công bằng. Có bao giờ em CHẤP NHẬN một cuộc bầu cử GIAN TRÁ, TRẮNG TRỢN như Việt cộng. Người Việt Houston “BẦU” nhưng Các ông Việt Cộng nằm vùng “CỬ” hay không?
Em phải tìm hiểu SỰ THẬT cuộc bầu cử ở Houston trước khi đi Houston, tiếp tay trình diễn văn nghệ giúp vui “Việt Kiều” do CỘNG ĐỒNG VIỆT KIỀU trá hình tổ chức.
Việt Dzũng có CÔNG NHẬN một cuộc bầu cử gian lận như CỘNG SẢN hay không? Một cuộc bầu cử do một nhóm VIỆT CỘNG NẰM VÙNG tự nguyện thành lập ban Tổ chức Bầu Cử Cộng Đồng: LOẠI BỎ ngay Ban Giám Sát Cộng Đồng (do dân bầu hợp pháp, làm tai mắt của cử tri). BẤT CHẤP các điều khỏan hợp lệ PHẢI THEO trong BẢN NỘI QUY. ĐỘC TÀI toàn quyền nắm giữ quyền hành và áp dụng LUẬT LỆ (của họ) bầu cử riêng của họ. Lén lút bỏ thêm các phiếu bầu GIẢ. NGANG NHIÊN công bố kết quả THẮNG CỬ cao. NIÊM PHONG, GIỮ KÍN toàn bộ hồ sơ bầu cử. GIỮ CHẶT các thùng phiếu. KHÔNG CHỊU công bố cho mọi người DANH SÁCH cử tri để họ đọ với PHIẾU BẦU hợp lệ. KHÔNG CHO một ai KIỂM DUYỆT hồ sợ bầu cử, GIAN LẬN tương tự như Ở VIỆT NAM. Long trọng mời bà chánh án Hoa kỳ (ngớ ngẩn) làm lễ tấn phong GIAN” cho bà Chủ tịch đắc cử “MA”. GIỐNG NHƯ Việt cộng, cứ bừa trên dư luận (mọi chuyện sẽ phải xong, cứ đặt họ vào chuyện đã rồi). Bọn Việt cộng nằm vùng cứ ra sức nhồi sọ đồng bào Việt nam Houston. Tự động cứ lập đi lập lại danh từ ‘BÀ CHỦ TỊCH”, trả tiền cho báo chí, truyền thanh, truyền hình Việt nam, nhồi sọ đồng bào, thét rồi cũng thành thói quen gọi “bà chủ tịch”. Việt Dzũng có chấp nhận MÔT CUỘC BẦU CỬ NHƯ VẬY và công nhận một vị CHỦ TỊCH Cộng đồng theo mô thức này của Việt cộng hay không?

ĐÂY LÀ MỘT SỰ THỬ THÁCH LỚN CHO LẬP TRƯỜNG CHỐNG CỘNG, Ý CHÍ ĐẤU TRANH CỦA DZŨNG! Phải suy nghĩ kỹ, quyết định sáng suốt để khỏi MẮC BẪY VIỆT CỘNG đang TRÀN NGẬP và PHÁ HOẠI cộng đồng người Việt quốc gia của chúng ta ở hải ngoại, làm kiệt quệ hơi sức, không thể tiếp cứu quốc nội.
MỘT ĐIỀU QUAN TRỌNG anh nhắc nhở Dzũng: Tại Houston đã có một Toà lãnh sự CSVN. Dĩ nhiên họ mong muốn có một Ban đại diện cộng đồng ‘VIỆT KIỀU YÊU NƯỚC” để dễ dàng hoạt động và phát triển Nghị quyết 36 của họ. Và tổ chức những ngày ăn mừng chiến thắng ĐƯỢC TRÁ HÌNH bằng những buổi tổ chức “QUỐC HẬN” cho những Việt Kiều Yêu Nước của nhà nước CSVN. Phải thật cẩn thật kẻo THÂN BẠI DANH LIỆT Như ông Cựu PHÓ TỔNG THỐNG VNCH “mất trí”. Đau lắm em Dzũng!
XIN DZŨNG ĐỪNG LÀM CHO ĐỒNG BÀO QUỐC GIA CHỐNG CỘNG Ở HOUSTON THẤT VỌNG VÀ BUỒN LÒNG VÌ EM. ĐEM BAO NHIÊU CÔNG LAO TRANH ĐẤU CỦA CỘNG ĐỒNG ĐỔ SÔNG ĐỔ BIÊN. Rất đau lòng vì NGƯỜI VIỆT NAM QUỐC NỘI RẤT CẦN SỰ TRỢ GIÚP CỦA CHÚNG TA.

ĐÂY LÀ MỘT LỜI CẦU KHẨN, TRÊN NỖI ĐAU KHỔ CỦA NHỮNG NGƯỜI VIỆT TRONG VẤN NẠN CỘNG SẢN TẠI HOUSTON. DÂN TỘC VIỆT NAM CHÚNG TA ĐÃ PHẢI CHỊU ĐỰNG THẢM NẠN CỘNG SẢN GẦN MỘT THẾ KỶ RỒI ĐÓ EM DZŨNG À!
Anh xin thay mặt Cộng Đồng người Việt nam Quốc gia (không nằm trong tập thể Việt Kiều của Việt cộng tổ chức 30-4-2011) cám ơn em trước. VÀ CẢNH BÁO VỚI EM: họ (TLS) sẽ tổ chức Ngày Quốc Hận 30-4 “trá hình” sắp tới đây, tại Houston, tạo niềm vui cho tập thể Việt kiều của nhà nước.
Chúc em dồi dào sức khoẻ, sáng tác nhiều và hay hơn, phục vụ tốt cho cộng đồng Việt nam Tự do và phải sáng suốt nhận đinh việc làm.

Chào em
Ngô Văn Mẫu.

Thursday, April 28, 2011

TƯỞNG OBAMA QUÁ KHÔN !


NÀO NGỜ LẠI CHỨNG MINH BẰNG BẢN SAO GIẤY KHAI SINH - CÀNG LÀM CHO DƯ LUẬN HOÀI NGHI HƠN.



The un-dead Obama birth certificate story
By John Barron
Updated 22 minutes ago

Despite legal proof, some "birthers" refuse to accept Obama is American. (Reuters: Lucas Jackson)
An extraordinary thing happened in American politics this week; a sitting president was forced to prove he is an American citizen - and thus eligible to be in office.
In unscheduled remarks at the White House on Wednesday, president Obama said that in the almost two and a half years since his election he had watched "with bemusement" the way the issue "had kept on going". President Obama, looking like a slightly exasperated teacher still forcing a strained smile, said the issue was a distraction, and that "we do not have time for this kind of silliness" from "sideshows and carnival barkers".
Despite sighing he had better things to do (such as, it turned out, flying to Chicago for a taping of Oprah) he did however bow to the key demand of the "barkers" and produce a verified copy of the long-form of his birth certificate.
The original "Certificate of Live Birth" was issued at the time of Barack Hussein Obama's arrival by the State of Hawaii at the Kapiolani Hospital, Honolulu, on August 4 1961, and the short-form has been freely available to anyone who cared to see it for years. It is that version of the certificate that is legally required to get a driver's licence or a passport, or indeed, prove eligibility for elected office.


During the 2008 presidential campaign, a copy of Obama's "short birth certificate" was framed and kept in the Obama machine's Chicago headquarters - in an attempt to dispel what had already become a widespread internet-based conspiracy theory about his nationality that had spread from fringe blogs to become an issue on mainstream cable news. It was shown to reporters, and became something of a symbol for all of the dumb things that are claimed in political campaigns.
But despite that legal proof, some "birthers" refused to accept Obama was American. They tend to believe Obama was either born in his father's homeland Kenya, or his stepfather's native Indonesia, not Hawaii - thus making him constitutionally ineligible to be president of the United States.
Earlier this year a Rasmussen poll found almost 20 per cent of Americans think Obama is secretly a foreign-born Muslim. Those Americans found a vocal champion recently in the form of flamboyant businessman and potential Republican presidential candidate Donald Trump - whose poll numbers have shot up from just 2 per cent in January, to (you'll not be surprised to learn) almost 20 per cent today.
For the past six weeks or so, Trump has been demanding to see the "long certificate". He said he'd sent private detectives to Hawaii to look into it, and speculated on Fox News that the unreleased document may prove Obama is a Muslim. Even the Reverend Franklin Graham, the Evangelist son of the Evangelist Billy, joined the chorus just before Easter by asking "why can't he produce [it]?"


He could, and has, but to understand why he did only after so many months requires a little political time travel.
It's August 2004, the war in Iraq isn't going well and George W Bush's approval ratings have fallen into dangerous territory for a re-election year. Democratic Senator John Kerry has just been endorsed at his party's National Convention as their presidential candidate, giving a stiff salute while telling the nation he was "reporting for duty".
In the weeks after his nomination, Kerry's campaign staff decided not to respond to claims from a previously unknown group calling itself "Swift Boat veterans for Truth" who contended in a series of TV ads that Lt Kerry was not the Vietnam War hero he'd been given a Silver Star for being. He was a coward who stabbed his comrades in the back when he returned home and denounced the war. To even respond, Kerry's campaign team decided, would not only dignify the contemptible charge, but give oxygen to the flame. For one long month Kerry refused to go on the air and reject the claims. People believed what they heard on TV, Kerry's approval rating plummeted and his campaign never recovered. The lesson to Democrats was simple; hit back at every lie, or the lie takes hold and becomes the truth in some people's minds. Obama's campaign took the lesson to heart in 2008, but since then the lingering "birther" claims seemed just too silly for words.
Shortly after president Obama finally released the more medically-detailed "long version" of his birth certificate to the White House press corps this week, Donald Trump was landing his private helicopter (with TRUMP emblazoned in large letters on the side) in the politically influential state of New Hampshire. "The Donald" immediately called a press conference and said he was "very proud" of himself for forcing the president to "finally release a birth certificate".


He added that while he wants to see it for himself and that "he hopes it's true".
It was as if there had never been the standard "short" certificate.
But even as Trump was expressing his simultaneous doubts yet a desire to put the issue behind him and, like the president, move on to more important issues, the "blogosphere" was firing up again;
IT DOESN'T SAY HE IS A CHRISTIAN!
IT'S A FAKE!
Only time will tell whether the "birthers" will now start to seem as silly as the "Elvis lives" crowd, as dangerous as Holocaust-deniers or just as deluded as Donald Trump's presidential aspirations.
But while the extreme anti-Obama folks (who I suspect are really saying "I don't like a black man being president" when they answer those poll questions about where he was born or what his religion is) deserve a certain amount of contempt, the media must take its share of the blame.
As newsrooms in the United States and elsewhere are stripped of journalists, and those who remain become cut-price commentators who trawl the internet for a controversial issue to shovel into the 24-hour news cycle, stories like this one, as provably wrong as it is, will rise again like the un-dead.
The internet is full of sites spouting crackpot ideas, but why should some of us in the media fan the flame?


John Barron presents the Morning Program on ABC NewsRadio, and covers US Politics on ABC radio and TV. He is also a Research Associate at the United States Studies Centre at the University of Sydney.
Tags:
world-politics, information-and-communication, journalism, obama-barack, united-states
First posted 32 minutes ago

Bấm chữ "Older Posts" trên đây để xem tiếp .... Dưới Là Bài Cũ Theo Từng Tháng.

 
*** Nếu Thích QUẢNG BA, Thích Phước Tấn bất chấp dư luận can ngăn mà về VN tham dự Phât Đản do Việt Cộng tổ chức tại Hà Nội vào tháng 5/2008. Thì đương nhiên 2 Cộng Sư nầy đã đứng ra khiêu khích và tuyên chiến với cả Cộng Đồng Tự Do Hải Ngoại chúng ta ...