Ngô Kỷ (Little Saigon, September 2011)
Cần đối phó gấp với Nguyễn Phương Hùng để bảo vệ cộng đồng Tỵ Nạn
Kính thưa Quý Đồng Hương,
Việc Nguyễn Phương Hùng bưng bô và làm lợi cho cộng sản Việt Nam bây giờ thì đã quá lộ liễu công khai rồi, do đó tôi nghĩ nhiệm vụ đi “lột mặt nạ” Nguyễn Phương Hùng coi như không cần thiết nữa, vì ai ai cũng đều thấy thật rõ bản mặt phản bội cộng đồng và nối giáo cho giặc của Nguyễn Phương Hùng. Lý do mà tôi viết bài này là vì trong vài ngày qua, dư luận tại Little Saigon bàn tán rất xôn xao về nguồn tin là tòa tổng lãnh sự cộng sản Việt Nam mới tiết lộ việc Tổng lãnh sự CSVN Nguyễn Bá Hùng trong tháng 8 năm 2011 vừa qua đã trình diện Nguyễn Phương Hùng trước các cơ quan báo chí truyền thông Việt ngữ và ngoại quốc, thế mà đến nay tin tức cũng như hình ảnh buổi lễ bổ nhiệm này mới được “xì” ra.
Bức hình có Tổng lãnh sự CSVN Nguyễn Bá Hùng và Nguyễn Phương Hùng đứng kề nhau trong buổi lễ trình diện đã được phối kiểm bởi chuyên viên “photoshop,” và được xác định tấm hình hai người đứng chung đó là thật 100% chứ không phải do ngụy tạo ghép hình. Chính vì được biết tin tức “sốt dẽo” này nên tôi xin thông báo cùng đồng hương trong sự dè dặt thường lệ. Tôi đang nhờ người liên lạc tòa lãnh sự để phối kiểm nhưng tòa lãnh sự CSVN tại San Francisco từ chối trả lời. Sự kiện tòa tổng lãnh sự CSVN tại San Francisco không xác nhận mà cũng không phủ nhận làm tôi ngạc nhiên, và tôi sẽ tiếp tục cố gắng tìm cách phối kiểm hư thực ra sao.
Dù chuyện này ra sao chăng nữa, nhưng những hành động tuyên truyền và làm lợi cho cộng sản Việt Nam trong những ngày gần đây của Nguyễn Phương Hùng đã làm tôi phẫn nộ về lập trường chao đảo và quay 180 độ của Nguyễn Phương Hùng. Bây giờ hoạt động đánh phá cộng đồng của Nguyễn Phương Hùng không còn là hành động đơn lẻ, cá nhân, mà là do cả một tập đoàn chỉ đạo và hậu thuẩn sau lưng.
Nhân dịp này tôi xin phép được post cái “Thư Mời Họp Tìm Phương Hướng Bảo Vệ Cộng Đồng Trước Sự Gia Tăng Đánh Phá Của CSVN” của Liên Ủy Ban Phối Họp Chống Cộng Sản và Tay Sai & Ủy Ban Đặc Nhiệm Chống Văn Hoá Vận của CSVN và Phong trào Yễm Trợ Tự do, Dân Chủ và Vẹn Tòan Lãnh Thổ để Quý Đồng Hương kính tường và tham dự đông đảo.
Điểm quan trọng không kém là tôi xin đề nghị với quý vị lãnh đạo cộng đồng và các tổ chức, hội đoàn đấu tranh tại Hoa Kỳ, đặc biệt với hai vị Chủ Tịch hai Cộng Đồng Việt Nam tại miền Nam California là Bác sĩ Nguyễn Xuân Vinh, và Luật sư Nguyễn Xuân Nghĩa, và quý ông chủ tịch các hội ký giả, truyền thông Việt Ngữ tại Hoa Kỳ, nên gởi thư đến ông tân Đại sứ Mỹ tại Việt Nam David Shear, và ông tân Tổng lãnh sự Mỹ tại Việt Nam Lê Thành Ân nhằm thông báo và cảnh báo cho hai ông này biết là Nguyễn Phương Hùng không phải là người ký giả chân chính, và Nguyễn Phương Hùng không xứng đáng và không có đủ tư cách đại diện tiếng nói và nguyện vọng của tập thể người Mỹ gốc Việt, và của các kỳ giả, nhà báo đàng hoàng, chuyên nghiệp đang sinh sống tại Hoa Kỳ.
Thêm nữa, có dư luận đồn là Nguyễn Phương Hùng đang cố tình quảng bá, khoe khoang rầm rộ các tấm hình Nguyễn Phương Hùng bắt tay với ông tân Đại sứ Mỹ David Shear và ông tân Tổng lãnh sự Mỹ Lê Thành Ân tại Việt Nam, nhằm quảng cáo là Nguyễn Phương Hùng có thế lực quen biết và có “connection” lớn với tòa đại sứ Mỹ và tòa lãnh sự Mỹ, và Nguyễn Phương Hùng sẽ mở một văn phòng dịch vụ tại Việt Nam lo chạy chọt giấy chiếu khán “Visa” nhập cảnh vào Hoa Kỳ. Nếu điều này thật sự xảy ra thì sẽ ảnh hưởng tai hại đến uy tín của chính phủ Hoa Kỳ. Tôi tin là hai viên chức ngoại giao Hoa Kỳ này sẽ lắng nghe và lưu ý đến lời cảnh báo và ý kiến của cộng đồng người Mỹ gốc Việt cũng là những người đang đóng thuế. Nếu cần thiết, quý vị có thể nhờ các vị dân biểu liên bang hay thượng nghị sĩ liên bang thay mặt cử tri người Mỹ gốc Việt gởi thơ cho hai viên chức ngoại giao này trước khi quá trễ và sinh ra các điều tồi tệ.
Kính chúc Quý Đồng Hương thành công trong công tác đấu tranh.
Trân trọng,
Ngô Kỷ
ngokyusa@yahoo.com
Liên Ủy Ban Phối Họp Chống Cộng Sản và Tay Sai & Ủy Ban Đặc Nhiệm Chống Văn Hoá Vận của CSVN và Phong trào Yễm Trợ Tự do, Dân Chủ và Vẹn Tòan Lãnh Thổ
P.O BOX 384, GARDEN GROVE – CA92842.
Tel: (714) 548 0440 và ( 714) 423 8888
THƯ MỜI HỌP
Tìm Phương Hướng Bảo Vệ Cộng Đồng Trước Sự Gia Tăng Đánh Phá Của CSVN
Kính gửi
Quí Vị Lãnh Đạo Tinh Thần Các Tôn Giáo
Quí Vị Lãnh Đạo Các Cộng Đồng, Hội Đoàn, Đoàn Thể, Tổ Chức
Quí Vị Nhân Sĩ Cùng Quí Đồng Hương Tỵ Nạn Cộng Sản
Đặc biệt Kính gởi cơ quan truyền thông:
(Ban Tố chức đích thân đến mời)
Kính thưa Quí Vị
CS Hà nội ngày càng công khai xâm nhập, đánh phá các cộng đồng người Việt tỵ nạn CS. Nhiều đại diện đòan thể chống Cộng từ Seattle, Arizona, Texas, và Little Saigon đã bị một ít tay sai CS lạm dụng thủ tục tố tụng của Mỹ để sách nhiễu công đồng người Mỹ gốc Việt tỵ nạn CS với” ý đồ” cản trở công cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN.
Gần đây CS lại còn móc nối một vài phân tử đội lốp báo chí, truyền thông đưa về Hà nội dự hội thảo báo chí của CS. Nhưng phần tử này rêu rao, tuyên truyền cho chế độ CSVN.
Trước tình hình CS Hà nội tăng cường nỗ lực thi hành Nghị Quyết 36 với thâm ý nhuộm đỏ cộng đồng người Việt tỵ nạn CS nói chung, Liên Ủy Ban Phối Họp Chống Cộng Sản và Tay Sai & Ủy Ban Đặc Nhiệm Chống Văn Hoá Vận của CSVN và Phong trào Yễm Trợ Tự do, Dân Chủ và Vẹn Tòan Lãnh Thổ,
Trân trọng kính mời
Quý Vị vui lòng đến tham dự cuộc họp
Lúc 01 giờ ngày Thứ Bảy 01 tháng 10, 2011
Tại Hội trường Thư Viện Việt Nam
10872 Westminster Ave., Suite 214, 215
Garden Grove, CA 928483
Little Saigon ngày 24 tháng 9, năm 2011
TM. Phong trào Yễm Trợ Tự do, Dân Chủ
TM. Liên Ủy Ban
và Vẹn Tòan Lãnh Thổ
Luật sư Nguyễn xuân Nghĩa
Phan kỳ Nhơn
Friday, September 30, 2011
Mày làm mất mặt KBC [kabêxê]
Hồ Công Tâm
Thursday, September 29, 2011
Julia Gillard rejects need to contain Chinaby: Matthew Franklin in Beijing
From: The Australian
The Prime Minister has also guaranteed Australia will remain a long-term and reliable supplier of energy resources including coal and liquefied natural gas to China, despite her government's push to put a price on carbon from July next year.
Her comments came in Beijing yesterday as she met Mr Wen in the Great Hall of the People.
The Chinese leader greeted Ms Gillard warmly and said the relationship between the two nations was of great importance and was displaying "good momentum", thanks to hard work on both sides.
As Mr Wen invited Ms Gillard to review an honour guard of Chinese troops during a lavish formal welcome, the pair appeared to make a point of walking literally in lockstep in a symbol of their desire to work together on issues including finalisation of a free trade agreement between the two countries.
Start of sidebar. Skip to end of sidebar.
Related Coverage
China scrutinises the First Bloke
Labour a hot issue at talks
Plea to streamline approval process
Gillard showed Asia how we do it The Australian, 28 Apr 2011
China dismisses human rights concerns The Daily Telegraph, 27 Apr 2011
Gillard tackles defence ties with China The Daily Telegraph, 27 Apr 2011
China welcomes Gillard, talks up trade Courier Mail, 27 Apr 2011
Beijing welcomes Julia Gillard The Australian, 26 Apr 2011
End of sidebar. Return to start of sidebar.
After meeting Mr Wen for about an hour yesterday, Ms Gillard said she had told the Premier Australia would retain its links with the US while also strengthening its relationship with China.
"Our policy is not to contain," the Prime Minister said. "Our policy is to engage, to positively engage with China. A China that's fully engaged in our region is good for the region, it's good for Australia, it's good for China."
As the leaders met, mining executives including BHP Billiton chief executive Marius Kloppers and Rio Tinto iron ore chief Sam Walsh, along with ANZ chief executive Mike Smith, were holding talks with Chinese business leaders across town.
Business Council of Australia chief executive Graham Bradley, who was also at the Australia-China business meeting, told The Australian he intended to give the council's views of the Gillard government's plans for a carbon tax. Mr Bradley said he would tell the Chinese delegation, led by China Development Bank chairman Chen Yuan, there should not be any carbon tax that would "discourage investment" in Australia and that it should not be applied to cleaner technologies and fuel such as natural gas, for which China has developed an enormous appetite.
The other contentious issue to emerge from yesterday's round of business meetings was allowing Chinese labour into Australia.
Shen Heting, chairman of giant Chinese infrastructure builder MCC, called for the government to relax English language requirements for skilled Chinese labourers on short-term contracts.
"The Australian government needs to liberalise in terms of skilled works," Mr Shen told the Australia China Economic and Trade Co-operation Forum.
Ms Gillard said she briefed Mr Wen on her plans for a carbon tax, but that he had made no comment. However, Mr Wen had outlined China's push for co-operation on the development of clean energy sources, which he had said was a key feature of his nation's 12th five-year plan.
Ms Gillard defended the carbon tax, insisting Australia could not afford to be "left behind" as the world moved to a clean energy future. She said she told Mr Wen she remained committed to "a comprehensive high-quality" free-trade agreement and that both nations needed to lift their effort toward sealing a deal.
Ms Gillard said that, although she recognised China's "remarkable progress" in lifting millions of people out poverty, Australia hoped China was not taking "a backward step" on human rights.
Mr Wen had listened and had assured her that China had not taken a backward step on the issue.
Ms Gillard said she had raised with Mr Wen the circumstances of jailed Australian nationals Stern Hu and Matthew Ng, but refused to expand.
After their meeting, the two leaders witnessed the signing of agreements promoting greater co-operation between their nations in areas including research into clean energy sources, customs and increasing Australian access to the Chinese services sector. Another of the agreements paved the way for more work towards lifting Chinese tourism to Australia.
Last night, Ms Gillard returned to the theme of co-operation in a speech before Australian and Chinese businesspeople. She argued that the global economy was not "a zero-sum game" and that prosperity could be shared.
"There is no reason for Chinese prosperity to detract from prosperity in Australia, the US or anywhere in the world," she said. "As our partnership with China grows, so does our interdependence."
Additional reporting: Michael Sainsbury
TIN MỚI NHỨT VỀ NGUYỄN TẤN VINH
-NGƯỜI MÀ TẠ VĂN TÀI RA TÒA CHO RẰNG GIAO CHO VIỆT CỘNG CẦM TÙ SẼ THỎAI MÁI HƠN Ở TÙ MỸ.
From: Van Duc Vo
Dear Anh Tống:
Cầu chúc anh luôn dồi dào sức khỏe và tinh thần sáng suốt phấn chấn để đương đầu với mọi hoàn cảnh tìm đến chiến thắng. Xin đón xem Báo Người Việt Thứ Sáu (Friday 30-9) về câu chuyện tranh đấu gay go của NGUYỄN TẤN VINH đang đương đầu với "Án Lệnh Trục Xuất về VN" do Tòa đưa ra ngày 5/8/2009. Hiện tại Nguyễn Tấn Vinh đang bị giam tại Orange County để chờ bị Trục Xuất về VN và đang Kháng Án tại Tòa Ninth Circuit Appelate Courts.Nhờ anh thông báo cho bạn bè đọc và ủng hộ.Thân mến,VÕ ĐỨC VĂN
* XIN LIÊN LẠC VÕ ĐỨC VĂN TẠI:
EMAIL: voducvanusa@gmail.com / www. voducvan.comĐIỆN THOẠI: 626-200.0752
ĐỊA CHỈ:
Mr. Vo Duc VanP.O. Box 1209Baldwin Park , CA 91706* NƠI GIAM GIỮ NGUYỄN TẤN VINHOrange County Sheriff Dept.( Theo Lacy Detention)Att.: Mr. Nguyen, Vinh T.# B2588565501 the City Dr., S.Orange , CA92868
Wednesday, September 28, 2011
CÁM ƠN ĐÀN ANH TÔN THẤT TUỆ
MỘT PHẬT TỬ THỨ THIỆT- NGAY TẠI HUẾ ĐÔ -CÁI NÔI CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Vài ý kiến về Thích Mãn Giác
nhân bài viết của Quảng Đức và Nguyên Tăng
Tôi không có ý kiến tổng quát về các lời ghi liên quan đến Thích Mãn Giác (MG) tuy tự mình thấy có cái gì ngờ ngợ. Điểm gây thắc mắc là bài viết xếp MG ngang với những vị mà tôi thiết nghĩ có vai vế cao hơn. Đặc biệt là Thích Mật Thể: 1946, Sa di MG được chính thức hóa bởi một giới đàn mà Thích Mật Thể đỗ thủ sa di. Sa di nói cho dễ hiểu xem như bước đầu ngạch sĩ quan với lon thiếu úy; sa di thọ một hương trên đầu có sẹo ghi lại. Trong thời gian giữa thập niên 1940, Thích Mật Thể đã là trụ trì chùa Phổ Quang trên núi cao nhìn xuống Chợ Bến Ngự, chùa giáp ranh nhưng trái đường với nhà ông Lê Đình Thám. Khi chiến tranh Việt Pháp bùng nổ 1946, Thích Mật Thể đi theo kháng chiến, bỏ chùa hoang; lúc nầy ông Thám cũng đi luôn. Nếu không nhầm, Thích Mật Thể đã viết cuốn: Việt Nam Phật Giáo Sử. Hai ông ”Mật” khác (không rõ có cùng bổn sư không) còn tại Huế là Thích Mật Nguyện, trụ trì chùa Linh Quang; và Thích Mật Hiển cũng trụ trì , không nhớ tên chùa. Hai vị nầy ngang hàng với Thích Quảng Huệ, bổn sư của MG, và cùng hoạt động huấn luyện tăng sĩ tại chùa Bảo Quốc.Điều chính yếu cốt ý nêu ra là những chi tiết liên quan đến việc MG thành trụ trì trong đoạn nầy:
Trich: Năm 1950, Canh Dần,, sau lễ Chung Thất của Ngài Bổn Sư vừa viên tịch, Đại lão HT Thích Giác Nguyên, Trưởng Pháp Phái, đã chiếu tập Chư Sơn Giáo Hội Huế, HT Thích Quảng Nhuận, Trú Trì Tổ Đình Từ Quang, huynh đệ trong cùng môn phái Thiên Minh như Thích Châu Phong (Nguyễn Phương Danh), Thích Châu Ninh, Thích Châu Sơn, Thích Châu Đức, Thích Nữ Diệu Âm... hội họp và truy cử Sa Môn Thích Mãn Giác giữ chức vụ Trú Trì Chùa Thiên Minh để tiếp tục nối dòng Pháp Phái ngưng.
Để rõ thêm, tôi xin nêu trường hợp hy hữu bốn cái chết liền nhau mà ai cũng tin là do một người thợ mộc yểm. Chùa Từ Quang nằm sát ranh với chùa Kim Tiên .
Kim Tiên ít ai biết đến và rất nghèo trong lúc Từ Quang có những bổn đạo giàu có như bà tàu Lý Lâm Tinh; nhóm hậu duệ của Nhiếp Chính Tôn Thất Hân. Ngài Tăng Cang trụ trì cũng giao du đàm đạo với giới trí thức và các chức sắc trong đó có bác sĩ Bửu Hiệp bị CS ám sát vì ông là chính ủy của một trong hai đảng Đại Việt hay VNQDĐ). Ôn Từ Quang cho xây căn nhà khách, nối liền chùa chính và nhà hậu.Công trình nầy hoàn tất chừng một năm thì ôn chết. Ôn có nhiều đệ tử nhưng người danh tiếng nhất trong Sơn Môn Huế là Thích Quảng Huệ, thường gọi là thầy Thiên Minh. Thầy Thiên Minh hàng thứ hai, còn thầy cả ở Đà Lạt; tôi không rõ qui luật của các dòng tổ về việc kế nghiệp, tôi chỉ biết thích Quảng Huệ trở thành trụ trì chùa Từ Quang và cả chùa Thiên Minh.
Cái chết thứ hai là chú Quả.
Không biết đấy là tên thế tục hay từ một đạo hiệu. Chú Quả là “con út” của ôn, ở luôn bên ôn cho đến khi ôn chết. Chú cứ nghĩ sẽ thay ôn coi chùa nầy cho nên đã tự tử khi huynh trưởng Quảng Huệ cai quản sự nghiệp của ôn. Cái chết nầy thảm thương; sau khi hủy hoại thân thể, chú còn phải đau đớn thời gian dài mới chết, mộ chôn trong phần đất chùa nay đã biến thành nghĩa địa “chùa” của dân chúng thập phương.Ổn định xong cơn khủng hoản nầy, Thích Quảng Huệ còn lo xây tháp cho ôn. Thầy có mặt nhiều hơn ở chùa cũ vì gần Bảo Quốc nơi có các lớp học cho tăng đoàn. Do đó thầy đưa đệ tử trưởng là MG vào ở trong chùa Từ Quang để coi ngó. Tháp vừa xây xong thì thầy đổ bệnh, nằm nhà thương Huế, tôi còn nhớ ở dãy Ngô Quyền gần cửa sau. Khi hết thuốc thầy được đưa về chùa và “cuốn chiếu, tức viên tịch”. Việc ra đi nầy tạo nên một chỗ trống kép, ai coi sóc hai chùa. Người ta phải triệu hồi người “con cả” của ôn Từ Quang hiện ở Đà Lạt, Thích Quảng Nhuận, được gọi là thầy Đà Lạt vì ít ai biết tên chùa trên Cao nguyên.Vị sư nầy thay thế người em trong đạo trông coi vừa chùa tổ vừa chùa Thiên Minh. Ông ít hoạt động bên ngoài và thường ở Từ Quang cho nên ông đưa MG trở lại Thiên Minh, thật hợp tình hợp lý. Hơn một năm ở Huế, thích Quảng Nhuận chết vì bị xe đụng khi đi bộ trong bệnh viện Huế, chết ngay tại chỗ. Người ta tìm một nhân vật khác hiện ở tỉnh xa, cũng là đệ tử ôn Từ Quang, có thứ bậc cao hơn chú Quả, người tự sát. Vị sư nầy gọi là chú Phú. Thầy Phú có óc tổ chức và thực tế hơn; ông tìm hiểu vì sao có bốn cái chết liền nhau.
Như kiểu chuyện tòa án, có người nó rẳng ông thợ mộc chính rất khoái chí vì mấy cái chết ấy do ông ếm. Theo sách bùa phép thợ mộc vẽ hình người rồi găm góc nhọn cái chàn (đục lớn và mỏng mép) vào hình nhân, bẻ gảy để lại mút sắt mẻ. Thầy Phú sợ quá nên cho người dở mái và thay đòn dông, thêm một đòn tay ngang để đếm không vào chữ tử mà vào chữ sanh (sanh lão bệnh tử). Thầy Phú sống rất lâu và làm cho chùa giàu thêm nhiều người đến cúng.Nhờ hai vị Nguyên Tạng và Quảng Đức tôi mới biết trưởng phái Từ Quang là Thích Giác Nguyên. Vị hòa thượng nầy, theo bài báo, đã triệu tập Sơn Môn đưa MG làm trụ trì chùa Thiên Minh. Tôi không dám nói việc nầy có hay không xẩy ra. Sự hoài nghi đi từ thứ nhất là ký ức về một vị trụ trì Thiên Minh, thầy Tâm Hòa sau khi thích Quảng Nhuận bị xe cán; thứ hai là các nhân vật bài báo nói là môn đệ của Thích Quảng Huệ.Chân thành mà nói tôi không thể đoán chừng từ lúc nào thầy Tâm Hòa làm trụ trì. Thầy Tâm Hòa cũng là đệ tử của ôn Từ Quang, có thể giữa Thích Quảng Huệ và chú Phú. Khi tôi gặp thầy thì chùa chỉ có mình thầy và dì Khóa.Điểm thứ hai là sự hiện diện của Châu Ninh trong phiên họp suy cử. Bài báo nhắc tên các đệ tử của Thích Quảng Huệ, và nêu một nhân vật tôi chưa được biết: Thích Châu Phong (Nguyễn Phương Danh). MG có tên khác là Sung, lúc nhỏ là điệu Sung, thầy Thiên Minh hay đặt pháp danh gần với tên thế tục, phải chăng vì từ chữ Sung mà có Mãn Giác? Sau trưởng tử Mãn Giác thầy đều dùng chữ Châu. Những người lui tới thường xuyên không thấy ai tên Châu Phong. Chỉ thấy Châu Ninh (Lang), Châu Sơn (Kiển), Châu Đức (Mẫn) và ni cô Diệu Âm. (Cô Diệu Âm ở chính trong chùa Sư Nữ, về chùa khi có lễ, cúng v.v… và thường đi kèm cô Thanh Quang người nghệ An). Châu Sơn là chú ruột của Châu Đức và cô Diệu Âm.
Hai người sau là chị em cùng cha khác mẹ. Mẹ ruột của Châu Đức là dì Khóa (hay o Khóa, lo việc nấu bếp, gánh nước, làm tương, nói chung mọi thứ phục dịch); Khóa, cũng như thông, phán, là một chức gì đó trong phẩm trật thời xưa của Nam Triều, o được gọi theo chức của chồng; ông Khóa làm nghể bán thuốc bắc.Châu Sơn, sau khi bổn sư mất ít lâu, đã theo tiếng gọi từ năm xưa của cô cháu gái của cô Ba Dệt bên hông chùa, về sau vào Saigon có chiếc taxi ít nhất cho đến 1964. Cô Diệu Âm bị bệnh gì mà cứ phù thủng, cần uống các thứ lá để tiểu tiện nhiều bớt nước. Châu Đức hình như bị tai nạn lưu thông.Châu Ninh, tên là Lang, có giọng đọc sớ rất hay, chữ Hán giỏi, sớ điệp một tay chú nầy lo. Kinh kệ coi cũng nhuyễn. Nhưng trước khi bổn sư mất ông đã vô bưng, kéo theo cô vợ mới tên Vân. Chị Vân con ông Huyện Quỳ (cũng Tôn Thất) ở đường Nam Giao dưới chân đồi chùa Bảo Quốc, lối xóm với anh Lễ, anh của Thu Vân Nhã Ca. Nếu có phiên họp, Châu Ninh không còn là nhà tu; như vậy hoặc không thể hiện diện hoặc có mặt là trá hình.Trường hợp Châu Phong thì hoặc tôi không biết rõ hoặc tác giả bài báo không nắm vững. Vào lúc Châu Ninh bỏ đi có chú Phong đến ở trong chùa. Chú Phong lớn tuổi hơn Mãn Giác, kinh kệ tụng đọc còn ngon lành hơn cả Châu Ninh; sớ điệp thì nghe ấm áp như khi đọc sớ cúng cơm mấy chữ Từ Minh Siệu Độ Vị Điệp như quyện với hương trầm. Tôi không tin chú Phong là đệ tử của thầy Thiên Minh. Điểm nầy không quan trọng bằng Châu Ninh. Châu Ninh đã rời chùa khi bổn sư còn sống. Trong dịp thọ hương ở Bảo Quốc 1948, chùa Thiên Minh chỉ có MG thọ tỳ kheo, Châu Sơn và Châu Đức thọ Sa Di.Với hai năm trong ngạch tỳ kheo và trong khung cảnh thâm căn cố đế ở Huế, MG thật quá trẻ, không thể thành trụ trì ngang như mấy thầy Linh Quang, Qui Thiện, với các ôn trụ trì như Tây Thiên, Từ Hiếu…Thích Quảng Nhuận như đã nói trên chỉ muốn giới hạn hoạt động tại Từ Quang và đưa MG trở lui Thiên Minh.
Dù có hay không có phiên họp nêu trên, MG vẫn đứng đầu chùa. Châu Sơn đã hoàn tục lấy vợ, cô Diệu Âm đau ốm ở mãi trong chùa Sư Nữ. Trong chùa chỉ còn lại Châu Đức. Bà Tâm Dung (hay gọi là bà chùa) từ khi chùa thành lập đã có mặt như một thứ quản lý ở luôn tại chỗ nay cũng về nhà khi thầy viên tịch. Chú Phong cũng hoàn tục; (năm 1972 tôi gặp ở Vũng Tàu, ông buôn bán nước ngọt, định cư ở đây vì hai đứa rễ là hải quân). Sớ điệp không ai lo. Bụt nhà con trẻ quá; cho nên nhiều gia đình chạy vô Từ Quang nhờ thầy Đà Lạt cầu an cầu siêu cúng kỵ.Trùng hợp vào mấy tháng cuối đời của thầy Thiên Minh, một gia đình từ Sịa đến thuê nhà bà Lượng bán thuốc lá chợ Bến Ngự. Ngôi nhà tranh tuy nhỏ giành mặt tiền với chùa, chùa lọt hơn nửa vào phía sau. Gia đình cô thông Châu đông con nên mấy cậu con trai vào trong chùa ngủ và học bài; bốn cô gái thì ở với mẹ. Thầy thông Châu lúc đó còn ở trong khu kháng chiến, mãi đến gần 54 mới về tề. Cô Thông hay nói tình hình bên Sịa lộn xôn nên đem con về thành phố. Thiển nghĩ cô chọn chỗ nầy vì thầy trụ trì cũng gốc Sịa và cô ở trong nhóm có máu mặt làng Khuông Phò (Sịa) giúp đỡ thành lập và chấn hưng chùa của người đồng hương.Nhà bà Lượng không có những tiện nghi nên mọi người đi ngã sau vào chùa để làm những công việc cần thiết hằng ngày cho cá nhân. Ngoài chánh điện và nhà khách nơi thầy ngủ, chùa có thêm một nhà dưới và một nhà bếp. Nhà bếp rất lớn, cũng là nơi xay lúa giả gạo, làm tương và là thế giới của dì Khóa. Nay nhà bếp được cô Thông sử dụng làm nơi sản xuất bánh men (có khu trộn bột, có khu lò nướng vv…). Ít lâu sau thầy chết. Thay vì đông đúc nhộn nhịp, chùa vắng tanh vì đám ma tổ chức tại Từ Quang, cúng kiến cả một tuần trước khi thầy được chôn ngay trong chùa để xây tháp về sau.Chùa vắng bổn đạo vì nhiều lý do như thầy trẻ, sớ điệp nghe không êm tai, cầu an cầu siêu không bài bản.
Nhưng có thêm lý do quan trọng là chùa luôn vang tiếng lộp bộp. Đó là tiếng đập lên bàn để cho những “đồng tiền” bánh men chưa nướng rót khỏi khuôn lõm trong khúc gỗ. Đó cũng là thời gian vắng bóng Châu Đức và người mẹ là dì Khóa. Nghe nói ông đi Bảo Lộc và bị tai nạn lưu thông. Cô Thông vẫn thuê căn nhà trước ngõ và đồng thời sử dụng không gian và tiện nghi của chùa, không bị cản trở.Bẳng đi một thời gian. Đó là thời gian tôi đã biết nghễ (tiếng Huế là dòm gái đẹp), nghĩ đến cô hàng xóm, thích đi cắm trại núi non hay bãi biển thay vì lên chùa nơi thờ vong của mẹ tôi. Tình cờ tôi ghé lại thì thấy môt ông trụ trì mới. Thầy Tâm Hòa cũng là “con” của ôn Từ Quang. Ngoài ngõ cô Thông vẫn còn, hình như con cái đã lớn ra riêng, thầy thông Châu nay đã về tề cùng sống với vợ ở đấy. Tôi không rõ nhà cô Thông có còn xài tiện nghi của chùa hay không, nhưng không còn làm bánh men nữa. Đồ đạc trong chùa trống vốc. Dựng vào vách đất nhà bà Lượng là cái bục mấy mươi năm nằm trong chánh điện, nơi thầy đứng tụng kinh và lạy gập đầu trên cái gối vàng, nơi Châu Ninh hay chú Phong quỳ mở rộng cái sớ vàng bắt đầu lên giọng: Phục dĩ, Việt Nam Quốc, Thừa Thiên Tỉnh, Thiên Minh Tự và kéo dài. Thay vào chỗ ấy, có một chiếc chiếu tàm tạm, không đến mức tệ. Thầy Tâm Hòa thích hội họa, có vẽ ít tranh, có óc văn nghệ, không businesslike như chú Phú trong Từ Quang; thầy nói thầy sẽ đi vì nhiều người đến ép thầy phải làm ra tiền đúc chuông vì chùa chưa có chuông.Thầy cùng người bạn là Thích Thông Bổn du học Hongkong than phiền những bài viết về Phật Giáo bới các ông khoa bản bên tây về; họ gọi là Phật giáo NVT (tên một giáo sư triết) viết bậy vì không biết hay cố ý theo chiều hướng chính trị. Như vậy nếu đầu óc tôi nhớ đúng, ấy vào khoảng viện đại học Huế mới thành lập, 57 hay 58.Tôi về Vi Dạ hỏi dì ruột của tôi vì sao thầy Tâm Hòa về ở chùa nầy. Dì tôi là người có nhiều liên hệ với chùa; là người đi khắp vùng sơn cước mua cây mít vàng ròng thuê thợ chạm tượng Di Đà cao hai mét hiện còn. Dì tôi ít ra đã ba lần sai tôi cầm chút tiền còm trong gói giấy đem cho chú Sung (tức MG). Dì tôi rất thương MG vì biết điệu Sung từ khi điệu mới vào chùa. Bà nói rất ít. Thầy chết, không ai chỉ bảo, như cha chết con đi hoang. Chùa tanh banh lộn xộn cho đến khi thầy Thông Châu về. Phải đưa chú Sung đi Đà Lạt.
Đây là một lối giải thích trong bếp một version cuisiniere, bên cạnh lối giải thích chính thức trong bài viết của hai ông.Khoảng 1970 tôi gặp thích MG ở trường Văn Khoa hay đâu đó ở Saigon. Ông nói chùa đã sửa lại hoàn toàn, xây cổng tam quan lớn, nóc chùa có rồng (lưỡng long chầu nguyệt v.v…) chùa đã mua hai cái nhà hai bên để nới rộng (có nhà bà Lượng). Tôi chỉ dạ và từ biệt.Tại Mỹ, tôi được một ông tiến sĩ mời cùng Phạm Công Thiện ăn một bửa cơm mà tôi và ông triết gia nầy gọi là cơm khoe nhà. Sau thời ngọ thực, ông chủ nhà rủ Phạm Công Thiện đi thăm thầy MG nên tôi phải đi theo. Khi nhận ra tôi MG hỏi dì tôi còn sống hay chết. Tôi nói chết, MG bảo cho tên để ông cầu siêu, tôi chỉ dạ mà không bao giờ làm. Xin cảm ơn.Ít lâu sau đó, MG rơi vào một thứ địa ngục trần gian mà hai ông Quảng Đức và Nguyên Tạng không thể nêu ra. Một nhóm cư sĩ vận động một cuộc cải cách gọi là chấn hưng; lý thuyết của họ là chùa chiền chỉ biết cúng kỵ, Phật tử không biết gì về giáo lý mà chỉ như con vẹt , cứ Mô Phật, Phật đi mô. Tôi chỉ biết chừng đó, nghe cũng lọt lỗ tai. Nhưng sao MG bị lôi ra chỉ trích thậm tệ, dơ dáy nhất trong lịch sử đánh nhau như có kẻ viết trên báo MG là mặt dày, khóc lóc đòi một nữ Phật tử cho thầy cái xi líp bỏ gối ngủ mới yên, thầy mới hoằng pháp được.Nhà tu của chúng ta có sợ chi mô; ông có nhiều đàn em, có nhiều tiền. Ông đã nhờ Phạm Công Thiện đánh lại bọn kia; Phạm Công Thiện chứ vừa đâu. Tôi không biết sự liên hệ nầy. Tình cờ tôi gặp triết gia nầy trong quán café, ông bảo tôi đưa cho ông một bài thơ in vào số báo văn nghệ đầu tiên tên là Động Đất. Cali mà động đất thì ai hơn. Khi báo ra chỉ có vài mẫu tin ngắn sinh hoạt văn hóa, bài thơ của tui.
Phần còn lại cả chục trang báo cỡ nửa (tabloid) bắn trả đối thủ của thầy với một thứ ngôn ngữ, tệ hơn những thứ Paris sợ dẫm trong công viên hay đường phố. Tôi hết sức ngượng. Tôi cũng ngượng ở điểm hai bên cùng xuất phát từ tổ đình Từ Quang. Và tôi cũng ngượng, không biết thiệt hay giả những người chửi MG không lợm miệng lại khóc lóc tha thiết còn hơn Tố Hữu khóc Staline, khi nhà tu của chúng ta chết.Lại chuyện khác liên hệ xa gần. Nguyễn Mộng Giác bị tố cáo là cọng sản. Đây không nói đến quan điểm và hành động chính trị của chủ nhiệm tạp chí Văn Học. Người ta nại rằng hai tuần sau khi CS nuốt trọn VN, Mộng Giác đã đọc một bài diễn văn thống thiết không còn chỗ chê, ca ngợi HCM, ca ngợi CSQT, CSVN. Nhưng có người chứng minh bài diễn văn của Mãn Giác chứ không phải (Nguyễn) Mộng Giác, có lẽ vì tội viết tắt, MG nào cũng MG. Hai tuần đầu chưa đủ thời gian cho nhà văn chứng minh lý lịch với chủ mới, mà chủ mới cũng chưa có thì giờ làm việc thanh lọc.Cũng thêm một điều hai tác giả không thể rêu ra dù là nêu với câu hỏi. Theo sự cáo buộc của dangvannham.com – dangvannham rất troublesome và chỉ nên đọc theo tinh thần tận tín thư bất như độc thư – theo web nầy MG đã cướp hết tài sản mà Thích Thiên Ân chúc lũy cho ThíchThiện Thanh, trong khi MG chỉ được bảo lãnh từ bên Pháp để lo truyền bá PG. MG đã huy động những cư sĩ cùng quê miền Trung đẩy Thích Thiện Thanh ra rìa; tu sĩ nầy về Long Beach lập một ngôi chùa nhỏ. Đangvannham còn nói thêm rằng MG còn có nhiều sư em chuyên chiếm chùa kẻ khác với ví dụ Thích Hạnh Đạt đã cướp chùa Long Vân ở Orlando. Âm mưu bất thành nhưng đã gây nhiều thương tổn cho Phật hội nầy về uy tín lẫn tài chánh.
Không rõ sự liên lạc MG và Hạnh Đạt ra sao, nhưng chuyện xẩy ra ở Orlando đã được kiểm chứng là đúng sự thật. Thích Hạnh Đạt kinh tài rất giỏi, lấy tiền từ Florida về Georgia mua đất dựng chùa; ông kiếm tiền bằng mọi cách trong đó có việc trình diễn văn nghệ hở hang trong chánh điện. Ông Hạnh Đạt nổi tiếng là người duy nhất để cho Thích Thanh Từ đến thuyết và gây quỹ với điều kiện không treo cờ VNCH.Trở lại chuyện chùa Los Angeles, dangvannham nói tiếp MG đã cho nhóm cư sĩ nầy ra rìa sau khi thành công. Nhóm nầy là ai thì không được biết. Nhưng nếu cũng là nhóm chấn hưng chửi nhau nói trên thì rõ ràng rằng thầy bội tín, không chia quyền lợi đồng đều; và nếu vậy thì cũng là nhân quả của nhà Phật. Một trong những người chống thầy có bà mẹ rất thương MG vì có nhiều đóng góp cho tổ đình Từ Quang, bà luôn nói với các con: tụi bây nói hắn đừng cướp chùa tội đến kiếp kiếp.Thích MG chủ trương chỉ treo cờ PG thế giới vì theo ông dưới ngọn cờ VNCH chưa bao giờ PG được thoải mái.
Lối suy nghĩ nầy ăn sâu trong trong nhiều vị có ảnh hưởng trong PG. Ví như huynh trưởng Cầu ở Huế, nói rằng PG không bao giờ tham gia chính quyền. Ở trong Nam nếu những điều trên là sự thật thì những ông như bộ trường Trần Quang Thuận, bộ trưởng Bùi Tường Huân, dân biểu Kiều Mộng Thu, liên danh Hoa Sen và vạn thứ khác là huyễn hoặc, là những con nộm thợ mã trong chợ Đông Ba. Thầy đã chết, ai có thể làm được thì giúp thầy biết thoải mái là thế nào bằng cách đem sách của Dương Thu Hương và Phạm Xuân Đài đốt trước mộ thầy để thầy đọc dưới âm phủ để biết thêm hiện tình PG ngoài Bắc sau 54.
tôn thất tuệ
PHẠM TRẦN ANH TUẤN
Chuyện xưa bỏ qua được, chuyện nay mới là đau xót
Huy Phương/Người Việt
Phạm Trần Anh Tuấn ra đời năm 1970 tại quận Ðất Ðỏ, Phước Tuy trong một gia đình nông dân nghèo, mà kẻ thù mấy đời của gia đình là Việt Minh Cộng Sản. Ông Cố của Tuấn đã bị Việt Minh giết, ông Nội bị chặt đầu bỏ ngoài đường lộ và thân phụ của ông, một sĩ quan VNCH bị tử thương vì Việt Cộng phục kích trong một lần hành quân mở đường tại Chi Khu Ðất Ðỏ. Tuy vậy, khi nói về những người đã gây tang tóc cho mấy đời gia đình ông, Thiếu Tá Anh Tuấn cho rằng có thể ông không thù hận Việt Cộng vì đó là mối thù cá nhân, nhưng ông ghét Việt Cộng vì chế độ này đã đưa dân tộc Việt Nam đến bên bờ vực thẳm. Ông đã có chú, bác bị tập trung trong các nhà tù Cộng Sản sau tháng 4, 1975, gia đình ông đã trải qua những ngày khốn khổ trong vùng kinh tế mới, tuy vậy những gì mà ông thấy xẩy ra trên đất nước bây giờ làm cho lòng ông đau xót.
Thiếu tá Phạm Trần Anh Tuấn. (Ảnh: Huy Phương/Người Việt)
Trong thời gian ở Việt Nam, tuy chỉ theo học được đến lớp 7, hiện nay Thiếu Tá Tuấn đọc và viết được tiếng Việt rất giỏi và luôn luôn theo dõi tình hình thời sự, nhất là những gì đang xẩy ra tại Việt Nam. Suy nghĩ về chế độ đang cai trị đất nước, ông cho rằng, tuy chiến thắng năm 1975, Cộng Sản đã chọn con đường sai lầm mà không bao giờ nhận khuyết điểm, không những đưa dân tộc đến chỗ nghèo đói mà còn làm cho xã hội tha hóa về mặt đạo đức.
Sau tháng 4, 1975, gia đình của Cố Ðại Úy Phạm Ngọc Châu bị bắt đi vùng kinh tế mới Bà Tô, thuộc huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa. Sau bốn năm chịu cảnh thiếu thốn ở chốn rừng thiêng nước độc và các con không có cơ hội đến trường, tháng 12, 1979, bà mẹ của Phạm Trần Anh Tuấn quyết định đưa các con trốn về lại Bà Rịa và dẫn đứa con trai lớn vượt biển. Cuộc ra đi tìm đường sống thành công, hai mẹ con bà đến định cư tại San Francisco, không thân thích, không tài sản, không Anh ngữ, sống đã khó, còn lo chuyện làm sao đem các con từ bên nhà sang. Mãi đến 8 năm sau (1986), bà mới bảo lãnh cho ba đứa con còn lại, trong đó có Phạm Trần Anh Tuấn sang Mỹ. Lúc mẹ và anh ra đi, Tuấn chỉ mới lên 9 tuổi, hằng ngày phải theo ông ngoại, ra sông, vào những lúc thủy triều xuống chài cá, tôm để kiếm sống, mỗi đêm thường khóc vì thương mẹ, không bao giờ mơ ước mình có ngày đến Mỹ, tốt nghiệp đại học BA (International Relations), MBA (Financial Management), và trở thành một sĩ quan của một quân đội hàng đầu của thế giới.
Trong ngày Ðại Hội Gia Ðình Mũ Ðỏ tổ chức tại Nam Cali vào tháng 8, 2011, Ðại Tá Nhảy Dù Lương Xuân Việt hiện diện trên sân khấu cùng với Thiếu Tá TQLC Phạm Trần Anh Tuấn, khi trao lá cờ Mỹ đã treo tại Afghanistan cho ban tổ chức, đã giới thiệu ông là hậu duệ của TQLC-VNCH phục vụ trong binh chủng Nhảy Dù, và Thiếu Tá Tuấn là hậu duệ của Biệt Kích Dù phục vụ trong binh chủng TQLC.
14 ĐỨA BÁO CHO KHÔNG - NẰM VÙNG VIỆT CỘNG
VỪA VIẾNG LĂNG WC BA ĐÌNH HÀ NỘI - NGUYỄN PHƯƠNG HÙNG KHÓC TU OA NHƯ KHI VỪA LỌT... RA. Tội nghiệp cho mẹ của hắn đã khổ công nuôi cho hắn di cư 2 lần để trở thành MỘT ĐỨA MẤT DẠY, KHỐN NẠN NHỨT hiện nay ở Nam Cali./- mt68
2011/9/28 Hao Pham <chungnhan2@yahoo.com>
Kính gửi quí vị
Thưa các bạn trong "phái đoàn báo chí hải ngoại"
Về sự việc ồn ào liên quan tới các bạn, những người tự gọi là "phái đoàn báo chí hải ngoại" về thăm VN, tôi xin có một vài nhận xét:
1- Các bạn nói rằng làm thông tin 2 chiều, hãy khoan nói đến việc đưa tin chống cộng và những làn sóng vận động dân chủ cho Việt Nam từ hải ngoại, chỉ xin hỏi về việc thực hiện thông tin 2 chiều ngay tại Việt Nam, thì ...
- Các bạn có dám đến phỏng vấn những tù nhân bất đồng chính kiến như Cù Huy Hà Vũ, như LM Nguyễn Văn Lý, LS Lê Công Định.... (chỉ xin kể một số tiêu biểu) ?
- Các bạn có dám hỏi nhà cầm quyền Hà Nội đã bắt cô Tạ Phong Tần đi đâu? Vì tội gì? Bao giờ thả? Các sinh viên thuộc giáo phận Vinh mất tích cả tháng nay bây giờ ở đâu hay không?
- Các bạn có dám hỏi nhà cầm quyền rằng cột mốc biên giới của mình bây giờ ở chỗ nào? Có dám nói lên ý kiến của "chiều thứ hai" rằng có chứng cớ khoa học xác nhận Hoang Sa Trường Sa là của VN hay không?
- Các bạn có dám tìm đến anh Nguyễn Chí Đức để phỏng vấn xem anh lãnh 4 cú đạp vào mặt như vậy là thực hay hư không? Có dám đến gặp cô Minh Hằng để hỏi về việc cô đi biểu tình và dùng sức người thay sức loa để bắt nhịp cho anh chị em phản đối Trung Quốc xâm lược hay không? Có tìm đến cô Trịnh Kim Tiến để hỏi xem việc cha cô bị công an "vặn cổ" chết đau đớn như vậy, thì nhà nước cọng sản giải quyết đến đâu rồi? Về việc cô quên thù nhà để đáp lời sông núi là đúng hay sai không? Họ có dám bỏ công tìm đến người thanh niên cõng con trên vai, cùng với vợ tham gia đoàn biểu tình yêu nươc tại Saigon, vừa đi vừa hát những lời thấm vào đáy lòng những con người VN "Đáp lời sông núi, anh em ơi, đáp lời sông núi.... xương máu này ta nguyện hiến dâng" hay không? Trong cảm quan nhà báo, họ có thấy rằng đó là một đề tài rất đáng viết không?
- Họ có dám tìm đến Thái Hà, đến Đồng Chiêm, đến Tam Tòa, đến Côn Dầu .... để hỏi lai lịch thực hư về những chương trình giải tỏa nhà dân, lấy đất nhà thờ.... để phát triển " các dự án công ích" như nhà nước nói hay không? Bên nào nói thực? Bên nào nói láo.....
Chỉ xin kể vài sự kiện như thê thôi..... bên cạnh hằng trăm ngàn đề mục của "cái chiều thứ hai", họ có nghĩ tới không? Có định làm không? Làm bằng cách nào?
Thực tế chúng tôi chỉ thấy họ về VN để gặp báo .... nhà nước, để xem trẻ em rước đèn Trung Thu, để nhăc lại răng mình đã phỏng vấn ông "cựu thủ tướng" này, ông bộ trưởng kia trong chính quyền cộng sản... những chuyện ấy thì có khó gì?
Và, nhất là để xin "chính quyền VN tài trợ cho báo của người Việt hải ngoại có ngân quĩ để tiếp tục hoạt động" như cái ông nhà báo nào đó ở tiểu bang miền Đông phát biểu, được báo trong nươc tường thuật..... thì có vẻ vang gì? Thưa các bạn, các bạn làm bẽ mặt việt kiều quá!
2 - Sau nữa, tôi có đọc bài báo do cô Lan Anh (trong nước) được post lên diễn đàn, và một ai đó dẫn "link" dưới đây làm bằng chứng ..... mà cảm thấy buồn cười ,và buồn lòng. Nhưng riêng "phái đoàn", các bạn có biết là cô phóng viên báo nhà nước đang móc vào họng các bạn đó không?
Các báo ở miền Đông là nơi ít người Việt, chắc là nhỏ nhoi, cô ấy không buồn nói đến đã đành. Cô L.A. chỉ nói đến mấy tờ báo xuất thân từ California được cho là "hùng hậu" nhất thì các bạn thấy gì?
* Việt Weekly: Sau 10 năm hoạt động, ấn bản của các bạn phát triển từ 15,000 bản ..... xuống còn 5,000. Không biết anh Nguyễn Trường (NT) với bộ râu ngang tàng bất chấp có thấy được nụ cười mỉa mai của cô phóng viên đó không? So sánh với báo trong nước, không hiểu cô ấy nghĩ gì? Có bằng con số mà MỘT nhân viên nào đó lén lấy mang về nhà để vợ "lau đít" cho con không? Có bằng cái số lẻ chơ vơ nào đó không? Có bằng số dư lại của MỘT địa điểm phát hành không?
Còn so với các báo khác tại hải ngoại, thì con số 5,000 một tuần đó cũng chưa bằng tới 1/3 số phát hành hằng ngày của nhiều tờ báo khác, những tờ báo mà ông NT không ngừng tìm dịp "chọc gậy... " với danh nghĩa là "thông tin 2 chiều!" Ông NT ơi, ông có cảm thấy vai trò "làng báo hải ngoại" của mình lớn lắm không? Chắc hẳn ông hể hả lắm khi kể lại với "đồng nghiệp" ở trong nước để mỉa mai những người hàng xóm vẫn mua báo của ông rằng,"chống VW vẫn chống mà mua báo vẫn mua...." Nếu đúng thực như ông nói, thì VW chắc chẳng phải bán với con số ....5,000 một tuần!
* Ấy là chưa nói tới, trong 3 "cơ quan truyền thông của làng báo hải ngoại" ở California, thì ngoài Việt Weekly là có tòa soạn, còn 2 báo kia chỉ là "one man band" (chữ nghĩa họ dùng để tự mô tả mình). Vũ Hoàng Lân vốn là một họa sĩ thì óc tương tưởng tượng phong phú đã đành, nhà báo Nguyễn Phương Hùng, trên 6 bó tuổi đời, với một cơ quan truyền thông "one man band" mà được Viet Cộng thổi ống đu đủ, cứ nghĩ là mình có tiếng nói lớn lắm ở hải ngoại thì thật là.... hoang tưởng. Thiết tưởng ông chỉ đại diện được cho ông thôi, và nhiều lắm là cho vợ ông mà thôi. Nếu báo của ông nói đúng tâm tư của người Việt hải ngoại thì chắc chắn cho đến giờ ông chẳng phải một mình một "tòa soạn" như vậy chứ!
Thực ra, cô Lan Anh viết bài này quá độc. Người đọc trong nước có ai mà chẳng đủ thông minh hiểu ra cái châm biếm chua cay của người viết và bỏ nhỏ một câu "Tưởng gì...!" rồi lăn ra ôm bụng cười ..... vào mũi các bạn? Nhưng khi nhìn thấy gương mặt phởn phơ đắc thắng của các bạn, thì tôi nghĩ họ cười ra .. .. nước mắt. Đó là cười quá tràn cả nước mắt, nhưng cũng là cười trong xót xa. Thì thế nào họ chẳng nghĩ, "Những thanh niên này, những ông già trong phái đoàn này, họ ăn cơm hay ăn gì.... mà sao lại chẳng nhìn ra cái ngụ ý của bài viết? Sao chẳng nhìn ra những vấn đề nhức nhối của đất nước, của xã hội.... mà lại toa rập theo 700 cái loa của nhà nước? Những người phóng viên trong nước phải bán lương tâm để giành lấy bát cơm cho vợ con đã đành. Còn các bạn, các bạn muốn gì, đang cần gì? Các bạn còn thiếu gì mà những kẻ cầm quyền bá đạo này có thể cho, để các bạn bán linh hồn như vậy?"
Thực là cười trong xót xa và nước mắt chan hòa!
Bài báo của cô Lan Anh là một bài lên lớp kín đáo và sâu xa lắm cho cái "phái đoàn báo chí" này.
Âu cũng là "đi một ngày đàng học một sàng khôn" vậy, nếu cái óc của các bạn không chỉ là bã đậu, và còn một chút chất xám để học khôn.
Nhà cầm quyền cộng sản, khi họ hiểu ra cái ngụ ý của tác giả bài báo, chắc cũng lại sớm gỡ xuống, và .... đá đít những "đứa phản bội gia đình, phản bội anh em, phản bội cộng đồng" đi theo voi mà hít bã mía thôi.
Cứ đợi đấy mà xem!
Hao Pham
Chuyện lọ nghẹ ở Houston
ĐAỊ TÁ TRƯƠNG NHƯ PHÙNG
GIA NHẬP "ĐỘI SĂN BẮT CƯỚP" !!!
***Mt68:
Bà con sống ở Sài Gòn sau năm 1975 chắc đều nhớ VC đặt ra cái gọi là "ĐỘI SĂN BẮT CƯỚP". Tức là đám công an mặc thường phục chạy rong ngoài đường, khi thấy có kẻ gian giựt bóp, giựt đồng hồ ... thì đội săn bắt cướp phóng xe đuổi theo để bắt kẻ gian.
Sau nầy người dân Sài Gòn hay đùa: Hễ thấy ai nhảy ra rượt kẻ gian thì bà con gọi là "Đội săn bắt cướp".
Nếu còn ở Sài Gòn thì chắc chắn Đ/T Phùng sẽ được bà con phong tặng là anh hùng của "Đội săn bắt cướp" ngay !!!..../- mt68
From:
"Phung Truong"
To:
"Phung Truong"
Trân trong thông bào các Thương Gia tại Houston
Tuần vừa qua một số phụ nử người Trung Đông (A RẬP) cướp tiệm Kim Hoàn, Hôm qua một tiệm rượu vùng Memorial Houston. Số người A Râp vào dùng bùa ngải cướp 3.000$00
Xin các Thưong Gia Houston đề phòng gần 10 người đàn bà A Râp đi xe van. Xin hảy cầm Điện Thoại gọi Cảnh Sát ngay trước mặt chúng nó, chúng nó sẽ bõ chạy, xin nhớ lấy số xe Van và thâu hình và chụp hình số người A Râp trình cảnh sát
Kính
Trương như Phùng
DOÃN QUỐC SĨ LÀ CHUYÊN VIÊN CHO MƯỢN TÊN- AI HỎI HẮN CŨNG Ừ -
NHƯNG SAU ĐÓ GẶP VẠCH MẶT THÌ CHỐI "KHÔNG KÝ TÊN GÌ CẢ"- THÁNG 10/2007 DQSĨ CŨNG CHO VĨNH HẢO MƯỢN TÊN ĐỂ BINH VỰC TUỆ SĨ Y HỆT NHƯ 36 TRÍ NGU LẦN NẦY./- mt68
***Mt68: Lê Xuân Khoa "chống cộng thượng cấp" là dùng cái đầu di cư 2 lần để kiến nghị gởi cho "VC CAO CẤP" để xin PHÂN TƯƠI, dùng cái lưỡi để làm thủ tục giấy tờ sau cùng khi chúng thăm lăng xong rồi !!!./- mt68
Phiếm luận của LÃO NGỐC.
THƯ NGỎ CỦA 36 VỊ TRÍ THỨC
Từ cả tháng nay vấn đề 36 vị trí thức gởi một bức thư ngỏ..... Lão cứ đinh ninh là thể nào LÃO NGU cũng có bài về vấn đề này, nhưng đợi mãi cũng thấy gì, Lão nghi là Lão Ngu đã gác kiếm hay là vấn đề nó "Thối Tha" qúa nên Lão Ngu không thèm để ý tới..Thôi thì Lão lên tiếng vậy, tất nhiên Lão viết thì không thể nào so sánh với Lão Ngu được, Lão chỉ giám nhận là đàn em của Lão Ngu nên mới lấy bút hiệu là Lão Ngốc (Ngu Ngốc mà...).
Đầu đuôi là "trí thức" Lê Xuân Khoa viết một thư ngỏ, sau đó 'vận động' được 35 vị trí thức ở Hải Ngoại ký tên....nhưng không biết có ký tên thực không? Riêng GS Doãn Quốc Sỹ thì nói rõ ràng:"Chẳng ký kiếc gì cả".
Riêng phần Lão cũng chẳng thèm đọc cái thư ngỏ đó nói cái gì vì Lão nghe là đề nghị gì đó lên những nhà lãnh đạo của CSVN, nghe vậy thì Lão nghĩ là đời nào tụi lãnh đạo CSVN để ý tới, nó cho vào sọt rác là mừng, có khi tụi nó còn cho mấy tên lâu la dùng làm giấy chùi đít. Lão phục GS Khảo nói là"Làm chuyện tào lao" và chỗ để là 'sọt rác'.Lê Xuân Khoa thì rất "nổi tiếng" bưng bô CSVN rất "trí thứ" và "cao cấp", Lão dùng ngôn ngữ này để đối lại với với lời của LXKhoa nói Ông Ngô Kỷ là "Chống Cộng" "hèn hạ" và "Hạ Cấp".
Lão không hiểu chống cộng hạ cấp là như thế nào, đúng là ngôn ngữ của "Trí Thứ" vì viết mà kẻ ít học như Lão là mù tịt.Vấn đề tiếp là thư ngỏ mà "ngài" LXKhoa gởi đích danh các nhà lãnh đạo CSVN qua đường bưu điện, thế là hết chối cãi, những người không đồng ý việc làm có tính cách "BƯNGBÔ" của LXKhoa, nhất là cộng đồng VN ở hải ngoại tuyệt đại đa số không đồng ý việc làm "Hạ Cấp" và "tào lao" này, vì họ biết CSVN không bao giờ để ý đến những ý kiến của người dân..nhất là người dân sống ở hải ngoại. Có người còn trách LXKhoa đã qúa "hạ mình" làm cho đồng bào căm thù CSVN rất là bất mãn....
Đúng là "Đại trí thức" nên ngài LXKhoa mới phát minh ra danh từ "Nghề Chống Cộng" đúng là đầu óc cao siêu. Ngôn ngữ VN lại giầu thêm về ngôn từ độc đáo này"Nghề Chống Cộng".Lão cũng xin đáp lại cho công bằng: Ngài Lê Xuân Khoa hành nghề BƯNG BÔ CAO CẤP, xin nhớ là bưng bô cho CSVN để nó "Ị"(iả), thế là ngài LXK hài lòng nhé !!!Có độc gỉa khuyên LXKhoa đại ý là tuổi đời cao rồi, đừng làm gì cho cộng đồng hải ngoại tức giận mà lại lãnh cái "BÚA" như tên vừa nằm suống, Lão nói tọac ra là giống như Nguyễn Cao Cẩu....chết rồi mà đến 49 ngày chả chùa nào chịu làm lễ cầu siêu cho Y. LXKhoa nên suy nghĩ lại, theo Lão thì lời khuyên chí tình, tuổi đời vào buổi hoàng hôn rồi , nên gác bỏ mọi chuyện mà hưởng già.
Chúng ta chờ xem LXKhoa khôn hay dại:Khôn thì gác kiếm ở ẩn, dại thì tiếp tục múa may, nhất là tiếp tục "bưng bô" cho CSVN. Chúc Ngài LXKhoa chọn được con đường đúng.
Tuesday, September 27, 2011
TRÍ NGU LS ĐOÀN THANH LIÊM -CHƠI TRÒ PHẢN BỘI, LƯU MANH, XẢO TRÁ - MÀ LÀM BỘ DẠY CON THẬT THÀ ĐƯỢC Ư ???
26/09/11 Tác giả: Đoàn Thanh Liêm
Dậy cho con tiếng nói thật thà
Ảnh mang tính minh họa. Nguồn On the net
Cách đây 40 năm, ngay từ thời kỳ trước tết Mậu thân 1968, các sinh viên học sinh hội họp với nhau, thì luôn say sưa phấn khích hát bài “Gia Tài cuả Mẹ” cuả nhạc sĩ họ Trịnh. Trong đó có câu thật là tâm đắc: “Dậy cho con tiếng nói thật thà. Dậy cho con chớ quên màu da. Ôi lũ con cùng cha: Quên hận thù …” Thế nhưng sau 1975, khi người cộng sản chiếm được trọn vẹn miền Nam rồi, thì họ không cho hát bài này nữa.
Cũng vào khỏang thời gian đó, tôi được đọc cuốn Hồi ký cuả văn hào André Malraux, nguyên là Bộ trưởng Văn hoá và là người rất thân cận với Tổng thống De Gaulle cuả nước Pháp. Cuốn Hồi ký có cái tựa đề thật ngộ nghĩnh, đó là “Anti-Mémoires” mà có người dịch là “Phản Hồi Ký”. Nhưng tôi nghĩ chữ Anti ở đây có nghiã là “Trước”, như trong chữ Anticipation, chữ “Antichambre” = Phòng đợi ở bên ngoài phòng khách chính. Như vậy, thì phải gọi là “Tiền Hồi ký” mới đúng với ý cuả tác giả. Vì ông chỉ muốn xuất bản một phần cuốn Hồi ký, khi tác giả còn sinh tiền. Và chỉ khi tác giả qua đời, thì mới cho phổ biến toàn bộ cuốn Hồi ký mà thôi.
Đấy là chuyện bên lề, viết ra cho vui vậy thôi. Còn chính yếu, thì tôi chú ý đến cái câu chuyện trao đổi, khi lần đầu tiên ông Malraux gặp tướng De Gaulle lúc nước Pháp vừa được giải phóng khỏi sự chiếm đóng cuả quân đội Đức quốc xã vào muà Hè 1944, nhờ cuộc đổ bộ cuả quân đội đồng minh lên bờ biển Normandie miền Bắc nước Pháp. Ông Tướng từ ngòai nước trở về, thì muốn tìm hiểu về tình hình trong nước, nên mới hỏi Malraux là một trong những lãnh tụ quân kháng chiến ở trong nội điạ nước Pháp, mà hồi đó thì được gọi là FFI ( = Forces Francaises de l’Interieur tức là Lục lượng võ trang Pháp ở trong Nội địa). De Gaulle rất tâm đắc với cách đánh giá cuả Malraux về tình hình tại nước Pháp hồi đó, với chỉ bằng có một chữ thôi, đó là : “Sự Nói Dối” (nguyên văn tiếng Pháp = Le Mensonge). Tác giả thuật lại : “ Tôi chỉ nói có một chữ Le Mensonge thôi, mà Ông Tướng đã gật đầu tâm đắc với sự đánh giá tình hình nội bộ nước Pháp cuả tôi. Và ngay từ đó, chúng tôi trở thành hai người bạn tri kỷ gắn bó với nhau…” Và rồi như ta đã biết suốt cuộc đời còn lại, Malraux là người cộng tác thân tín nhất với Tướng De Gaulle. Đặc biệt trong những năm 1960-61 trở đi, Bộ Trưởng Văn Hoá André Malraux đã thay mặt Tổng Thống De Gaulle đi gặp gỡ trao đổi với các lãnh tụ thế giới như Kennedy, Nehru, Mao Trạch Đông v.v…
Cũng giống như vậy, văn hào Nga được giải thưởng Nobel về văn chương năm 1958 là Boris Pasternak, tác giả cuốn tiểu thuyết lừng danh “Doctor Zivago”. Trong cuốn sách này, tác giả có ghi như sau: “Muốn chiều lòng người cộng sản, thì cũng dễ thôi. Bạn cứ việc nói là yêu cái điều bạn ghét, và ghét cái điều bạn yêu”.
Còn mô tả về tình hình nước Nga dưới thời Staline thập niên 1930-40, thì Pasternak chỉ cần viết có một câu như sau: “Tất cả chỉ là sự giả dối, giả hình mà thôi! “ (tiếng Pháp = Tout n’est que Pharisianisme).
Đó là ở nước ngòai. Còn ở Việt nam ta, thì ngay từ hồi 1946-47, tôi đã được nghe nhiều người thốt ra câu nói này: “Nói dối như Vẹm” , tức là chữ VM = Việt Minh thì đọc nhanh ra thành chữ Vẹm. Xưa kia, dân gian thường nói: “Nói dối như Cuội”. Nhưng từ khi có cộng sản Việt Minh, thì bà con lại nói như thế đó.
Và cho đến ngày nay, sau trên 60 năm đảng cộng sản nắm giữ chính quyền, thì tính trạng dối trá lại càng lan rộng, phổ biến trầm trọng hơn gấp bội. Cụ thể là lời phát biểu vừa mới đây cuả Hoà Thượng Thích Quảng Độ với nhân viên ngoại giao nước ngoài: “ Chính quyền cộng sản luôn luôn dối trá, lừa gạt dân chúng…”
Nhà văn Võ Thị Hảo tố cáo “Sự giả trá trở thành thường nhật, thành đương nhiên … Những sự giả trá ấy còn tiếp tục làm mục ruỗng nhân cách ngưới Việt nam.”Và bà kêu gọi phải tìm cách giải trừ sự gian dối, giả trá trong sinh hoạt thường ngày cuả xã hội. Mà ngành giáo dục phải đi đầu trong việc “giải trừ bệnh giả dối” này.
Tiến sĩ Hà Sĩ Phu thì viết là: “Cái bệnh Liệt kháng về Nhân cách“.Giáo sư Hoàng Tụy thì than phiền sự biến chất, tha hoá, căn bệnh thành tích đã làm hư hỏng bao nhiêu thế hệ con người. Rồi đến Hội Đồng Giám Mục Công giáo trong Thư ngỏ công bố ngày 25/9/2008 cũng lên tiếng cảnh giác: “Ngày nay, một trong những điều gây nhức nhối lương tâm là sự gian dối trong nhiều lãnh vực, kể cả trong môi trường cần sự thật nhiều nhất là giáo dục học đường . Chắc chắn tất cả những ai tha thiết với tiền đồ của đất nước và dân tộc, không thể không quan tâm đến tình trạng này…”
Như vậy là cả giới trí thức, văn nghệ sĩ, cũng như giới lãnh đạo tôn giáo, thì đều đã đồng thanh nhất trí nói lên sự quan ngại và cảnh giác về tệ trạng luân lý suy đồi, xã hội đầy dãy sự gian trá lươn lẹo. Đó là một thực tế rất đau lòng đến tủi nhục cho một dân tộc vốn có truyền thống trên 4000 năm văn hiến. Và hơn thế nữa, chuyện tham nhũng bê bối về hối lộ ỏ cấp cao tại Saigon và nạn thu gom và vận chuyển đồ ăn cắp cuả phi công Air Việt nam đang được báo chí ở bên nước Nhật phanh phui ra liên tục từ mấy tháng nay, đến nỗi chính phủ Nhật phải cúp viện trợ ODA. Công luận ở Nhật gọi đó là thứ “giòi bọ đáng ghê tởm”. Sự việc này quả là một mối nhục quốc thể tệ hại nhất cho đất nước và con người Việt nam, trước con mắt của tòan thế giới trong giai đọan tòan cầu hóa ngày nay.
Vấn đề đối với người dân chúng ta là phải làm sao vực lại được cái tinh thần nghiã khí liêm xỉ như cha ông chúng ta vẫn thường dậy bảo từ xưa nay. Trước khi đòi hỏi người cộng sản phải thay đổi, phải chấn chỉnh cái này, cái nọ, thì chính chúng ta trong khu vực Xã hội Dân sự, chúng ta phải chủ động làm lấy cho nhau và với nhau trước đã. Việc này hoàn toàn nằm trong tầm tay cuả mỗi người chúng ta.
Đó là lý do thúc đẩy người viết bài này lấy tiêu đề “Dậy cho con tiếng nói thật thà” như đã ghi ở trên. Mỗi người chúng ta, ai mà chẳng yêu mến bà mẹ cuả mình. Vì thế, chúng ta nhất định đều phải làm theo lời dậy dỗ cuả mẹ là “ Phải sống cho ra con người tử tế, chân thật, hầu làm đẹp lòng mẹ và bảo toàn được tiếng thơm cuả dòng họ nhà mình”.
Việc này phải bắt đầu trước hết từ trong nội bộ mỗi gia đình, rồi sau mới đến ngoài xã hội. Các đoàn thể, hiệp hội, các tổ chức tôn giáo là nòng cốt cuả khu vực Xã hội Dân sự, thì phải phát động khuyến khích mỗi gia đình phải rèn luyện, đào tạo con cháu mình theo tinh thần đạo hạnh lễ nghiã truyền thồng cho thật đàng hoàng nghiêm túc. Ta không thể nại lý do ngoài xã hội luân thường đảo lộn, để mà buông xuôi, bỏ mặc chuyện giáo dục con cái trong nội bộ gia đình cuả chính mình ta được. Như dân gian thường nói : “Con hư tại mẹ. Cháu hư tại bà”. Hay là “Nhà dột từ nóc” “Thượng bất chính hạ tắc loạn”… Tức là trách nhiệm cuả mỗi gia đình là chính yếu, các bậc làm cha làm mẹ, thì tuyệt đối “Không thể sao lãng nhiệm vụ dậy dỗ, hướng dẫn đàn con, bằng chính cái nhân cách trong sáng, cái tấm gương đạo hạnh cuả mình.” Đúng như cha ông ta từ ngàn xưa vẫn từng dậy “Dĩ thân nhi giáo”.
Câu hát cuả nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng làm chúng ta nhớ đến nhà thơ Phùng Quán trước đó 10 năm, vào thời kỳ báo “Nhân Văn - Giai Phẩm” ở ngoài Bắc năm 1956-57, đã cống hiến bài thơ đanh thép bất hủ “ Lời Mẹ Dặn “, xin được trích dẫn mấy đoạn tiêu biểu như sau:Con ơi một người chân thật Thấy vui muốn cười cứ cười Thấy buồn muốn khóc là khóc Yêu ai cứ bảo là yêu Ghét ai cứ bảo là ghét Dù ai ngon ngọt nuông chiều Cũng không nói yêu thành ghétDù ai cầm dao dọa giếtCũng không nói ghét thành yêu.. . .Tôi muốn làm nhà văn chân thật chân thật trọn đời Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã. Bút giấy tôi ai cướp giật đi Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.
Nhà thơ Phùng Quán, như ta đã biết, cũng như nhiều nhân vật khác trong Nhóm Nhân Văn – Giai Phẩm đã phải trả một cái giá rất đắt vì tinh thần khẳng khái bất khuất như thế. Và mới đây, trên Đặc san Xuân Kỷ sưủ cuả Báo Người Việt vừa phát hành tại miền Nam California, dịp cuối năm 2008, ta còn được đọc mấy trang Hồi ký thật là cảm động cuả cô giáo Vũ Bội Trâm là người bạn đời cuả nhà thơ.Trong bài nhan đề: “Tôi đã được Sống như tôi muốn “, chị Bội Trâm đã ghi lại bao nỗi truân chuyên vì làm vợ một người bị chế độ trù dập, săn đuổi tàn tệ. Và anh chị đã trụ vững được, đó là nhờ ở sư nâng đỡ bảo bọc cuả bao nhiêu bà con, bạn bè thân thiết, đặc biệt là nhờ tấm lòng hy sinh nhẫn nại rất mực cuả bà mẹ yêu quý cuả chị.
Và với một người cha bất khuất lẫm liệt như thế và với một người mẹ hy sinh tận tuỵ như chị Bội Trâm, tôi tin là hai cháu Phùng Đỗ Quyên và Phùng Quân cuả hai anh chị sẽ tiếp nối được cái tinh thần đạo hạnh, khẳng khái sáng ngời cuả cả hai dòng họ nội ngoại cuả các cháu.
Viết đến đây, tôi lại nhớ đến chị Như Khuê, người bạn đời cuả nhà thơ Trần Dần. Tôi có dịp đến thăm anh chị tại nhà gần ga Hàng Cỏ Hanoi vào cuối năm 1989. Hồi đó, anh Dần đã bắt đầu đau yếu nhiều, nên ít nói chuyện và để cho chị kể cho tôi nghe về những khó khăn đày đọa mà cả gia đình phải gánh chịu suốt mấy chục năm, chỉ vì anh tham gia vào vụ “Nhân Văn – Giai Phẩm”. May mà mới đấy, vào giữa năm 1989, thì cháu Vũ con anh chị được các người bạn giúp cho sang Pháp học thêm về hội hoạ, nên gia đình mới có chút hy vọng tương lai. Trước đó, thì cháu Vũ đã được Luật sư Nguyễn Mạnh Tường rèn cặp trau dồi về phần tiếng Pháp cho. Nhưng chị Dần còn cho biết: “Anh xem đó: Chúng tôi cũng phải cắn răng, bấm bụng rút ruột mất một số tiền “lót đường” cho cháu mới ra đi êm thắm được đấy.!”
Dân tộc chúng ta mà còn tồn tại đứng vững được qua bao nhiêu thử thách cuả các chế độ phong kiến hủ lậu, chế độ thực dân đế quốc đã qua và cả cuả chế độ độc tài toàn trị cộng sản từ trên nửa thế kỷ nay. Đó chính là vì còn có nhiều bà mẹ nhân ái, bất khuất, mà nhẫn nhục như bà mẹ cuả nhà thơ Phùng Quán, bà mẹ cuả cô giáo Bội Trâm. Và cuả những người vợ hết lòng hy sinh, nhẫn nhục chăm sóc cho chồng, cho con như chị Bội Trâm, chị Như Khuê…
Dân số Việt nam ở trong nước hiện nay là trên 86 triệu, và ở hải ngoại là khoảng 3 triệu. Mà số đảng viên cộng sản cỡ 3 triệu, và tôi không tin rằng tất cả số 3 triệu đảng viên này đều là những con người sắt máu với lòng tràn ngập hận thù, mà lại còn vô cảm, vô trách nhiệm trước những bất công, hủ hoá thối nát, gian dối lừa lọc đầy dãy trong xã hội chúng ta hiện nay. Tôi tin rằng trong đảng cộng sản hiện vẫn còn có những người có lương tâm, biết phân biệt phải trái, biết đâu là chính nghiã, đâu là gian tà. Chỉ có điều là đa số nhân dân chúng ta cũng phải ra sức tranh thủ thuyết phục, mời gọi số người còn có lương tâm và liêm sỉ như thế tham gia tích cực và cụ thể, thiết thực hơn vào công cuộc phục hồi lại cái căn bản truyền thống nhân bản và nhân aí từ ngàn đời cuả cha ông chúng ta truyền lại.
Chúng ta cần phải xác tín rằng: “Nhân nghiã nhất định phải thắng hung tàn. Và Tình thương rồi sẽ xoá thù hận. “ Nhất định là dân tộc ta rồi ra sẽ xoá bỏ hết sạch được cái chủ thuyết ngoại lai “Bạo lực Cách mạng, Hận thù giai cấp. Chuyên chính vô sản…”, mà người cộng sản đã du nhập từ nước ngoài vaò, khiến gây ra bao nhiêu tang thương đổ vỡ, tàn phá huỷ diệt từ mấy chục năm nay, đối với cái nếp sống thuận hoà, nhân ái theo truyền thống tốt đẹp ngàn xưa cuả cha ông chúng ta.
Đó là niềm hy vọng tươi sáng chứa chan cho toàn thể dân tộc Việt Nam chúng ta trong thế kỷ XXI này vậy.
Đoàn Thanh Liêm
XÃ HỘI VIỆT CỘNG ĐÃ LÊN ĐẾN ĐỈNH CAO CỦA NHÂN LOẠI- NÊN CHUYỆN GÌ CŨNG CÓ THỂ XẢY RA MỘT CÁCH RẤT TỰ NHIÊN DO BỌN CƯỚP NÊU GƯƠNG.
Chuyện Buồn Của Con Chú Trương Văn Sương
Danchuleaks xin post bài này cho anh chị em đọc để cảnh giác. Những người Việt hải ngoại chúng ta luôn có lòng từ bi, muốn giúp ai có lòng với đất nước, chia sẽ với bất cứ ai "có lòng" với đất nước. Chúng ta nhịn đi shopping, nhịn ăn nhà hàng, nhịn mua cho con đồ chơi, nhịn đủ thứ để rồi có ít tiền chia sẽ với anh em trong nước. Nhưng Danchuleaks xin thưa cô chú anh chị em có lòng rọng lượng là coi chừng mình đang bị lạm dụng và bị móc túi đấy.
Sỡ dĩ Danchuleaks post lại bài cho tất cả bà con đọc vì một thông tin rất buồn mà DCL vừa được biết. Một tuần qua, DCL không lên mạng và sau khi mở máy lên thì những thông tin DCL nhận được làm DCL rất đau lòng. Chuyện đau lòng này dính dán với chú Trương Văn Sương, một người tù SQVNCH bất khuất đã qua đời trong lao tù CS sau 33 năm.
DCL đã khóc thương chú Sương như DCL khóc người cha của mình vậy. DCL đã buồn khi chú qua đời, nhưng hôm nay DCL lại phẩn nộ! Chuyện đau lòng này bắt đầu sau khi chú Sương ra tù. Ai ai cũng thương chú, muốn giúp chú và gia đình chú và trong đó cũng có DCL. Sự hy sinh của chú Sương cho đất nước Việt Nam không có gì có thể so sánh được, đền đáp bao nhiêu cũng không đủ. Danchuleaks cũng đã có lần nói chuyện với chú Sương. Giộng nói của chú, giộng nói người miền Nam, không khác gì giọng chú ruột của DCL. Giộng nói chú Sương chậm chạp, trầm ấm....đầy tình người. Đó chính là bản chất của con người dù có 33 năm lao tù CS cũng không khất phục, bẻ gẩy, hay thay đổi được. DCL quý chú vô cùng.
Nhưng mấy hôm nay tin buồn từ VN cho biết là lòng bác ái, sự chia sẽ của đồng bào hải ngoại không giúp chú Sương được bao nhiêu vi` tất cả số tiền của chúng ta chỉ vào tay Dũng mà thôi. Đến nổi trước khi chú bị giam lại, chú đã xin $1,000 dolla cho công việc riêng nhưng cũng không có. Tiền Dũng nắm hết. Tài, đứa con út phải xin Dũng như chú Sương phải xin lại thằng con vậy. Chuyện không chỉ như thế mà còn buồn hơn. Buồn lắm bà on à.
Con chú Sương, Dũng và Tài lớn lên không cha, bị bọn CS câm thù cho là con của ngụy, có nợ máu với dân tọc. Dũng và Tài thất học như bao nhiêu đứa con của những người cha VNCH bị bọn chó CS tóng vào tù khi nó “giải phóng” Miền Nam.
Cả đời chưa bao giờ có một số tiền nhiều như thế. Số tiền đồng bào hải ngoại gởi về không dưới $35,000. Xem như tiền từ trời rớt xuống. Dũng tối ngày say sưa cờ bạc với đòng tiền mà bà con gởi về. Tài thì không đến nỏi, nhưng cũng không thoát khỏi cái ánh sáng chói lòa của đồng tiền không phải hai bàn tay làm ra. Anh em gia đình xé xác nhau vì đồng tiền của bà con hải ngoại gởi về cho chú Sương, cho cha của Dũng và Tài. Có lẻ đòng tiền không phải làm ra, tự nhiên có quá nhiều làm hư đi thêm con người. Bao nhiêu chuyện buồn đó cũng chưa hết.
Bao nhiêu tiền đồng bào hải ngoại gởi về cho chú Sương, cái bọn chó đẻ Công An phường điều rút tĩa. Vì Dũng và Tài thất hoc, vô ý thức cho nên không vững lý luận của mình và bị bọn CA moi móc. Mổi lần Dũng nhận tiền thì bọn CA điều biết, và nó chỉ cần hù một cái nhẹ là gia đình móc đưa cho bọn chó công an CS. Đúng đó! Bà con không đọc nhầm những gì DCL viết đâu. Từng một đồng su của bà con hải ngoại gởi về cho chú Sương cũng bị bọn CA ăn chận….rồi đến con của chú tiêu sài không biết ngày mai.
Danchuleaks hứa với những người đưa tin là không đưa ra tên tuổi những nguồn thông tin của của mình nhưng DCL kể lại cho bà con biết để lần sau, trước khi để tay vào túi, móc túi tiền của mình thì hảy suy nghĩ cho thật kỷ là đồng tiền của mình có giúp người hay là tạo cơ hội cho họ phung phí, cờ bạc, rượu chè, xe hơi nhà lầu, ăn ngon mặt đẹp, chơi đồ sành điệu với đòng tiền mồ hôi nước mắt đó của chúng ta? This is a cautionary tale for all of us. Đây là câu chuyện cảnh báo cho tất cả bà con hải ngoại.
Khi bà con đọc bài này và bài Lê Thị Công Nhân Ra Tù Lên Kế Hoạch Mua Nhà Mua Xe thì DCL xin bà con stop ủng hộ bất cứ nhóm nào gây quỷ với mục tiêu để "yểm trợ nhà dân chủ” tại VN dưới bất cứ hình thức nào vì chưa có "nhà dân chủ" nào chết đói cả. Riêng LTCN và mụ Trần thị Lệ thì thánh nữ có dư tiền mua xe hơi, mua nhà, sài sang không tiếc tiền vì làm con dân chủ mồm cũng có khối ông bà Việt Kiều khấp thế giới với lòng bác ái tự móc túi mà gởi về cho nó xấm xe hơi, đi shopping, ăn sang mặt đẹp cho oai bằng bạn bè.
DCL cho ra thông tin thật, không che dấu dù có đau lòng đi nữa (tôi biết còn nhiều người tự rút đầu vào cát không dám nhìn sự thật), để anh chị em biết thêm đồng tiền mồ hôi nước mắt của chúng ta đi về tay những những người vô ý thức, tham lam, lạm dụng, phung phí, và trong trường họp của chú Sương còn bị bọn công an ăn chận trên mồ hôi nước mắt của chúng ta như thế nào.
Danchuleaks
MUỐN BẢO VỆ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM THUẦN TÚY, TUYỆT ĐỐI KHÔNG DÙNG TỪ NGỮ CỦA CỘNG SẢN
Ở trong nước, hiện tượng dùng chữ nghĩa kỳ cục do CS Bắc Việt du nhập vào miền Nam , lai căng với nhiều từ ngữ mới chế rất ngô nghê và xa lạ đối với phần đông dân chúng. Với chủ trương nôm na hóa ngôn ngữ Việt, tập đoàn CS nắm quyền đã lạm dụng từ thuần Việt quá mức trở thành thô tục (như: "xưởng đẻ" dùng cho "nhà bảo sanh", "nhà ỉa" dùng cho "nhà vệ sinh", hay "lính thủy đánh bộ" dùng cho "thủy quân lục chiến" v. v... , và đặt ra nhiều từ sai hẳn với nguyên nghĩa.
Ngôn ngữ thay đổi theo thời gian, theo sinh hoạt xã hội . Mỗi ngày, từ những đổi mới của đời sống, từ những ảnh hưởng của văn minh ngoại quốc mà ngôn ngữ dần dần chuyển biến. Những chữ mới được tạo ra, những chữ gắn liền với hoàn cảnh sinh hoạt xưa cũ đã quá thời, dần dần biến mất. Cứ đọc lại những áng văn thơ cách đây chừng năm mươi năm trở lại, ta thấy nhiều cách nói, nhiều chữ khá xa lạ, vì không còn được dùng hàng ngày Những thay đổi này thường làm cho ngôn ngữ trở nên sinh động hơn, giàu có hơn, tuy nhiên, trong tiếng Việt khoảng mấy chục năm gần đây đã có những thay đổi rất kém cỏi Ban đầu những thay đổi này chi giới hạn trong phạm vi Bắc vĩ tuyến 17, nhưng từ sau ngày cộng sản toàn chiếm Việt Nam, 30 tháng 4 năm 1975, nó đã xâm nhập vào ngôn ngữ miền Nam.
Rồi, đau đớn thay, lại tiếp tục xâm nhập vào tiếng Việt của người Việt ở hải ngoại Người ta thuận theo các thay đổi xấu ấy một cách lặng lẽ, không suy nghĩ, rồi từ đó nó trở thành một phần của tiếng Việt hôm nay Nếu những thay đổi ấy hay và tốt thì là điều đáng mừng; Nhưng than ôi, hầu hết những thay đổi ấy là những thay đổi xấu, đã không làm giầu cho ngôn ngữ dân tộc mà còn làm tiếng nước ta trở nên tối tăm.
Thế nhưng dựa vào đâu mà nói đó là những thay đổi xấu ? Nếu sự thay đổi
đưa lại một chữ Hán Việt để thay thế một chữ Hán Việt đã quen dùng, thì đây là một thay đổi xấu, nếu dùng một chữ Hán Việt để thay một chữ Việt thì lại càng xấu hơn. Bởi vì nó sẽ làm cho câu nói tối đi Người Việt vẫn dễ nhận hiểu tiếng Việt hơn là tiếng Hán Việt. Nhất là những tiếng Hán Việt này được mang vào tiếng Việt chỉ vì người Tầu ở Trung Hoa bây giờ đang dùng chữ ấy Nếu sự thay đổi để đưa vào tiếng Việt một chữ dùng sai nghĩa, thì đây là một sự thay đổi xấu vô cùng.
Sau đây, chúng tôi xin ghi lại một số từ ngữ (được tạm xếp theo vần abc) mà chế độ CSVN ép dân chúng dùng, đọc lên, nói lên sai với nguyên nghĩa, nghe thô tục, kỳ lạ và ảnh hưởng Tây phương rất nặng, khó có thể chấp nhận:
1. "Buổi đêm". 'Buổi đêm tôi có gặp đồng chí ấỵ Từ xưa đến nay người Việt không bao giờ nói "buổi đêm" cả, chỉ nói "ban đêm", "ban ngày". "Ban" được hiểu như là một thời gian khoảng 12 giờ, ban đêm 12 giờ cộng với ban ngày 12 giờ là 24 giờ.
Còn "buổi" thì chúng ta có "buổi sáng", "buổi trưa", "buổi chiều", "buổi tối". Ban ngày có 12 giờ và tạm coi như có 4 buổi, như vậy mỗi buổi có 3 giờ đồng hộ Night time, day time khác với morning; noon; afternoon; evening. Chúng ta thường nói: 'Chờ ông ấy mất cả buổi. Buổi ở đây là khoảng ba giờ. Câu nói khác: 'Thế là mất một buổi cày. Buổi ở đây lại có nghĩa mất cả một ngày công. Chế ra từ buổi đêm là làm hỏng tiếng Việt.
2. "Cải tạo" = transform, improve; re-education. Họ không phân biệt "cải tạo vật chất" với "cải tạo tư tưởng", quan niệm chính tri. Nói : 'Phải dùng cát để cải tạo đất', khác với 'Trung úy miền Nam bị đi tù cải tạo. Nếu muốn chữa cho đất có màu mỡ hơn nên dùng "cải tiến", "cải thiện"... Khoảng 50 năm nay từ "cải tạo" cả nước đã hiểu là ở tù rồi!
3. "Cảm giác". 'Xin anh cho biết cảm giác ra sao về hiện tượng đo những gì cảm thấy được được bằng giác quan. Có ngũ giác: xúc giác: sờ chạm, thị giác: mắt thấy, thính giác: tai nghe; vị giác: lưỡi nếm, khứu giác: mũi ngửi. Đó là các sense organs, còn cảm giác và cảm tưởng; cảm tính (feeling, khác với lý tính) dễ lầm lẫn vì đó là sensation, impression. Dùng đúng chữ phải là: 'Xin anh cho biết cảm nghĩ, cảm tưởng, về hiện tượng đo chính xác hơn là "cảm giác". (Ngoài ra impression còn có nghĩa là ấn tượng, dấu ấn). Chúng ta có thể nói : có cảm giác ghê sợ, nhờm tởm, lạt lẽo, ấm cúng.. một giác xuất phát từ não bộ, tuy cũng do từ năm giác quan vừa kể gửi tín hiệu lên óc.
4. "Cầu lông" = Badmington = Một môn thể thao nhẹ nhàng gần giống quần
vợt, có giăng lưới cao, dùng vợt nhẹ và quả cầu có gắn lông vũ, đánh qua lại trên lưới. Trên thực tế quả cầu badmington làm giả bằng nhựa không chế bằng lông gà lông vịt nữa. Cách gọi này thô tục quá! Tại sao không gọi là cầu lông vũ hoặc bát-minh-tơn? Người viết còn nhớ có lần đã bị bà vợ một đại tá sửa lưng, khi lở miệng nói: lông quả đào. Bà kể lại, tôi bị bà Trg. Tg. Khg. một người miền Bắc chữa khéo: 'Chị nên gọi là tuyết của quả đào thì lịch sự, thanh tao hơn'. Sau đây là cách dùng sai lạc, nhằm chủ đích tuyên truyền hoặc làm giảm đi hoặc tăng mức quan trọng của sự việc.
5. "Chất lượng": Đây là chữ đang được dùng để chỉ tính chất của một sản phẩm, một dịch vu. Người ta dùng chữ này để dịch chữ quality của tiếng Anh. Nhưng than ôi! Lượng không phải là phẩm tính, không phải là quality. Lượng là số nhiều ít, là quantity. Theo Hán Việt Tự Điển của Thiều Chửu, thì lượng là: đồ đong, các cái như cái đấu, cái hộc dùng để đong đều gọi là lượng cả. Vậy tại sao người ta lại cứ nhắm mắt nhắm mũi dùng một chữ sai và dở như thế. Không có gì bực mình hơn khi mở một tờ báo Việt ngữ ở hải ngoại rồi phải đọc thấy chữ dùng sai này trong các bài viết, trong các quảng cáo thương mãi. Muốn nói về tính tốt xấu của món đồ, phải dùng chữ phẩm. Bởi vì phẩm tính mới là quality. Mình đã có sẵn chữ "phẩm chất" rồi tại sao lại bỏ quên mà dùng chữ "chất lượng". Tại sao lại phải bắt chước mấy anh cán ngố, cho thêm buồn tiếng nước ta.
6. "Cuộc gặp" = meet, run into = hội kiến, gặp mặt, gặp gỡ, buổi họp. Nghe "Cuộc gặp" thấy cụt ngủn, chưa trọn nghĩa. Ý họ muốn tả một cuộc hội kiến tay đôi, một lần gặp gỡ, chưa hẳn là một hội nghị (conference). Nên dùng như thí dụ này: "Bộ trưởng Thái đã hội kiến gặp bộ trưởng Lào"...
7. "Cưới". Nhà văn Lê Minh Hà đi từ miền Bắc, công tác ở Đông Đức, rồi xin tỵ nạn ở Đức, viết trong tập truyện ngắn "Trăng Góa": 'Bọn này chưa cưới', 'chúng tôi cưới' đó là thói quen từ vùng cộng sản. Đây không phải là lối hành văn mới lạ, kiểu cách chỉ là thói quen dùng sai từ To marry, get married, nhưng người Việt phải nói là: 'Chúng tôi chưa làm đám cưới; bọn này cưới nhau. Câu này lại do một vai nữ tự thuật, lại càng sai nặng nữa. Chúng ta chỉ nói "cưới vợ", không bao giờ nói "cưới chồng" cả. Chỉ có hai trường hợp dùng được hai chữ "cưới chồng". Một là cô gái có lỗi lầm nào đó, nhà gái phải bỏ tiền, chịu mọi chi phí đám cưới để lấy cho được một tấm chồng. Hai là những đồng bào thiểu số, sắc dân nào còn theo chế độ mẫu hệ, cô gái cưới chồng, vì chàng rể sẽ thuộc về nhà gái. Nhà gái phải trả cho nhà trai trâu, lợn, gà,
chiêng đồng, v.v. để mua rể.
8. " Đại trà" = on a large scale = cỡ lớn, quy mô lớn. Thí dụ: "đồng bào trồng cây cà phê đại trà". Tại sao không dùng như trước là "quy mô lớn"? Ngoài ra dùng "đại trà" là bắt chước Trung Quốc. Có thể gây hiểu lầm là "cây trà lớn"!!
9. " Đăng ký" = register = ghi tên, ghi danh. Nghĩa rất đơn giản, nhưng bắt chước Trung Quốc, cố dùng Hán-Việt. Câu nói sau đây nghe kỳ lạ: 'Tôi đã đăng ký mua khoai mì ở Phường...'. Tại sao không dùng "ghi danh", "ghi tên"? " Đăng ký" là một chữ mà người Cộng Sản miền Bắc dùng vì tinh thần nô lệ người Tầu của ho đến khi toàn chiếm lãnh thổ, họ đã làm cho chữ này trở nên phổ thông ở khắp nước. Trước đây, ta đã có chữ "ghi tên" (và "ghi danh") để chỉ cùng một nghĩa. Người Tầu dùng chữ "đăng ký" để dịch chữ 'register' từ tiếng Anh. Ta hãy dùng chữ "ghi tên" hay "ghi danh" cho câu nói trở nên sáng sủa, rõ nghĩa. Dùng làm chi cái chữ Hán Việt kia để cho có ý nô lệ người Tầu!
10. " Đầu ra, đầu vào" = output, input = cái đưa ra, cái đưa vào, dòng điện cho vào máy; dữ kiện đưa vào máy vi tính. Họ còn dùng có nghĩa là vốn, hoặc thì giờ, công sức bỏ vào và kết quả của cuộc đầu tư đó. Nhưng dùng "đầu ra, đầu vào" nghe thô tục (giống như từ bộ phận = một phần việc, một nhóm, tổ, đã bị nhà văn nữ Kathy Trần đốp chát, hỏi: "Bộ phận gì?" bộ phận của đàn ông, đàn bà ả). Có thể dùng "vốn đầu tư" và "kết quả sản lượng".
11. "Giải phóng" = liberate, emancipate/ free, relieve, release = giải tỏa, xả ,thả, trả tự do Từ giải phóng chỉ nên dùng cho con người, không dùng cho loài vật, đất, vườn... Họ lạm dụng từ giải phóng, nghe không thuận tai và sai nghĩa. Thí dụ: ' Đã giải phóng (giải tỏa) xong mặt bằng để xây dựng nhà máy; Anh công an lưu thông tích cực công tác để giải phóng (giải tỏa) xe cộ; Em X giải phóng (thả) con chó !! Những câu sau đây mới là dùng đúng cách: 'phong trào giải phóng phụ nữ; Công cuộc giải phóng nô lệ.'
12. "Hiển thị" 'Chỉ cần ấn nút thì mọi nhu cầu sẽ được hiển thị trên máy tính...' (appear on screen). Tại sao không nói "sẽ thấy hiện rõ trên máy".
13. "Hùng hiểm" ' Địa thế nổi đó rất hùng hiểm...' hùng vĩ = hiểm trở
(majestic greatness + dangerous).
14. "Khả năng": Chữ này tương đương với chữ ability trong tiếng Anh, và chỉ được dùng cho người, tức là với chủ từ có thể tự gây ra hành động động theo chủ ý. Tuy nhiên hiện nay ở Việt nam người ta dùng chữ "khả năng" trong bất kỳ trường hợp nào, tạo nên những câu nói rất kỳ cục. Ví dụ thay vì nói là 'trời hôm nay có thể mưa, thì người ta lại nói: 'trời hôm nay có khả năng mưa, nghe vừa nặng nề, vừa sai. "Có khả năng": Đây là cách sử dụng rất Tây, thí dụ: 'Hôm nay thời tiết có khả năng mưa, chúng ta tạm chấp nhận (sao không nói giản dị là: "Hôm nay trời có thể mưa" ?). Thí dụ này khó chấp nhận: 'Học sinh X có khả năng không đạt điểm tốt nghiệp'. Có khả năng là ability; aptitude; capacity và luôn luôn dùng ở trạng thái tích cực (positive), không bao giờ dùng với trạng thái tiêu cực (negative). Những câu sau đây nghe rất chướng: 'Bệnh nhân có khả năng bị hôn mê'. 'Địch có khả năng bị tiêu diệt..' v.v...
15. "Khả thi" = fisible, applicable; ability to carry out = có thể thực hiện được, có thể thi hành được. "Khả thi" và "bất khả thi" cũng chịu ảnh hưởng nặng của Trung Quốc. Sao không dùng: "không thực hiện được" hay "không thực hiện nổi". Ngoài ra "khả thi" sẽ đưa đến sự hiểu lầm là "có thể dự thi được".
16. "Khẩn trương": Trước năm 1975 chúng ta đã cười những người lính cộng sản, khi họ dùng chữ này thay thế chữ 'nhanh chóng'. Nhưng than ôi, ngày nay vẫn còn những người ở Việt Nam (và cả một số người sang Mỹ sau này) vẫn vô tình làm thoái hóa tiếng Việt bằng cách bỏ chữ 'nhanh chóng' để dùng chữ 'khẩn trương'. Đáng lẽ phải nói là: 'Làm nhanh lên' thì người ta nói là: 'làm khẩn trương lên'.
17. "Khẳng định". Thói quen dùng động từ này bị lạm dụng: 'Diễn viên X đã khẳng định được tài năng. Đồng chí A khẳng định ở vị trí giám đốc'. Khẳng định; xác định, xác nhận = affirm và confirm có nghĩa gần giống nhau, ngoài nghĩa theo luật pháp có nghĩa là phê chuẩn, chuẩn y. Tuy nhiên âm thanh của khẳng định nghe nặng nề.
18. "Kích cầu" = to level the bridge/ needing to sitimulate = nhu cầu để kích thích/ nâng cao cái cầu lên. Cả hai nghĩa đều hàm ý là chất xúc tác, kích thích tố khiến sự việc tiến nhanh hơn. Cách dùng hơi lạ: Bên công chánh có lối
dùng những con đội để nâng cao cái cầu giao thông lên. Tại sao không dùng "kích thích tố", "chất xúc tác" như trước?
19. "Làm rõ" 'Công an Phường 16 đang làm rõ vụ việc này. Làm rõ=clarify, cần làm rõ vì có sự mù mờ, chưa minh bạch, ngoài còn có nghĩa gần như nói lại cho rõ, đính chính. Đúng nghĩa phải là điều tra = investigate. Cách sử dụng từ làm rõ cũng giống như làm việc (với công an) chỉ nhằm xóa bớt sự ghê sợ, hãi hùng của người dân khi phải tiếp xúc với công an cộng sản. Họ cố tránh những động từ như "điều tra", "khai báo", "trình diện" v.v...
20. "Liên hệ": Cũng từ miền Bắc, chữ này lan khắp nước và nay cũng tràn ra hải ngoại Liên hệ là có chung với nhau một nguồn gốc, một đặc tính. Người cộng sản Việt Nam dùng chữ liên hệ để tỏ ý nói chuyện, đàm thoại. Tại sao không dùng chữ Việt là 'nói chuyện' cho đúng và giản dị. Chữ liên "hệ dịch" sang tiếng Anh là 'to relate to", chứ không phải là 'to communicate to".
21. "Ngài": 'Bộ trưởng ngoại giao ta đã gặp Ngài Brown thị trưởng thành phố San Francisco . Ngài là Sir, một tước vị của Hoàng gia nước Anh ban cho một nhân vật nào đó. Sir có thể dịch ra là Hiệp sĩ, cũng có thể là Knight = Hầu tước xuống đến tòng Nam tước = Baronet. Theo nghĩa thứ nhì "ngài" là một từ dùng để xưng hô và là một từ tôn xưng như cụ, ông bà, bác, chú. Trong cả hai trường hợp câu trên đều sai. Ông W. Brown chưa bao giờ được Nữ hoàng Anh trao tặng tước hiệu Sir. Theo lối xưng hô chính thức ngoại giao của Mỹ và theo lối Việt Nam , không nên gọi ông W. Brown là Ngài viết hoa. Theo lối xưng hô chính thức của Mỹ, trên văn thư phải là:
The Honorable ..W. Brown
Mayor of San Francisco
Hình thức chào hỏi:
Sir: Dear Mayor Brown
Như thế gọi một ông thị trưởng Mỹ là Ngài đã hoàn toàn sai.
Qua sách báo từ sau 1954, miền Bắc dùng sai và lạm dụng từ Ngài.
Cách dùng thứ nhất để tôn xưng quá đáng giới chức ngoại quốc, thứ nhì là để chế diễu, khôi hài các nhân vật trong khối tự do dân chủ, và ở miền Nam, thí dụ: Ngài đại úy, ngài thiếu tá ngay cả có dạo họ đã gọi Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ là Nguyên soái! Từ sau 1954, trong miền Nam gần như không bao giờ chúng ta thấy xuất hiện từ Ngài! Chế độ cộng sản tự nhận là vô sản, đánh phong kiến, diệt quan lại, nhưng nay họ lại quan lại, phong kiến hơn ai hết. Chứng cớ qua từ tôn xưng Ngài và họ còn tự nhận và gọi các cán bộ và nhân vật quan trọng ngoại quốc là Quan chức. Quan chức = officials, có thể dịch là "viên chức", hay "giới chức ngoại giao", "nhân viên chính phủ", "phái đoàn ngoại giao", v.v...
22. "Nghệ nhân": Ta vốn gọi những người này là 'nghệ sĩ'. Mặc dù đây cũng là tiếng Hán Việt, nhưng người Tầu không có chữ "nghệ sĩ", họ dùng chữ "nghệ nhân". Có những người tưởng rằng chữ 'nghệ nhân' cao hơn chữ 'nghệ sĩ, họ đâu biết rằng nghĩa cũng như vậy, mà sở dĩ người cộng sản Việt Nam dùng chữ 'nghệ nhân' là vì tinh thần nô lệ Trung Hoa.
23. "Quản lý" = management = quản trị, chịu trách nhiệm. Bắt chước từ Trung Quốc và bị lạm dụng. Nói: 'Anh X quản lý một xí nghiệp' thì được, nhưng câu sau 'nhái lại khôi hài 'Anh sẽ xây dựng với đồng chí gái, và đồng chí gái sẽ quản lý đời anh...'. "Quản lý" chỉ dùng để trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại, hành chánh. "Quản lý" không dùng cho lĩnh vực tình cảm được, tình cảm không phải là một lô hàng, không phải là một xí nghiệp.
24. "Sơ hữu". 'Mối quan hệ Việt-Mỹ chỉ là sơ hữu. Sơ hữu + bạn mới quen, mới làm bạn (new friendship). Tại sao không nói: 'Mối quan hệ Việt-Mỹ chỉ là bạn mới quen'...?
25. "Sự cố": "Sự cố kỹ thuật": tại sao không dùng chữ vừa giản dị vừa phổ thông trước đây như 'trở ngại hay 'trở ngại kỹ thuật' hay giản dị hơn là chữ 'hỏng'? (Nói 'xe tôi bị hỏng' rõ ràng mà giản dị hơn là nói 'xe tôi có sự cô).
26. "Tai tệ nạn". 'Tai tệ nạn xảy ra khá nhiều trên đoạn đường này, tai nạn + tệ nạn xã hội (accident + social crime/evil). Cách ghép nối kỳ lạ
27. "Thành viên" = member = theo cách nói và viết thông thường là một người trong một tổ chức, hội đoàn, nhóm nào đó. Không thể dùng "thành viên" cho một cá nhân trong gia đình được. Thí dụ sau đây nghe rất Tây: 'Các thành viên trong hộ đó có cha, mẹ và hai con/ Bé Năm là một thành viên trong gia đình....' Tại sao không nói: 'Trong gia đình đó có cha, mẹ và hai con/ Bé Năm là một đứa con trong gia đình...'. Thí dụ sau đây mới là dung
đúng: 'Mỹ là thành viên trong Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc có quyền phủ quyết ..'
28. "Tham quan": đi thăm, đi xem thì nói là đi thăm, đi xem cho rồi tại sao lại phải dùng cái chữ này của người Tầu! Sao không nói là 'Tôi đi Nha Trang chơi, 'tôi đi thăm lăng Minh Mạng', mà lại phải nói là 'tôi đi tham quan Nha Trang', 'tôi đi tham quan lăng Minh Mạng'.
29. "Tháng một; tháng mười hai". Hiện nay ở Việt Nam trong trường học họ không dạy học sinh "tháng giêng" và "tháng chạp" nữa. Tháng giêng và tháng chạp là cách gọi rất Việt Nam . Lịch in ở Việt Nam ghi tháng một là tháng giêng cũ. Từ xưa đến nay chúng ta vẫn gọi tháng đầu năm âm lịch là "tháng giêng", tháng thứ 11 là "tháng (mười) một" và tháng cuối năm là "tháng chạp". Gọi là tháng chạp là do tháng cuối năm âm lịch có nhiều lễ, trong đó có lễ chạp. Ca dao đã có câu:
"Tháng chạp là tiết trồng khoai
Tháng giêng trồng đậu tháng hai trồng cà"
Tháng thứ 11 âm lịch gọi là "tháng một" dễ lầm lẫn với tháng giêng, nên đã tạm bỏ. Nhưng gọi tháng January dương lịch là "tháng một" nghe không ổn, phải gọi là tháng giêng. Còn tháng December gọi là tháng mười hai, không có vấn đề. Nhưng họ có dạy cho học sinh tiểu học hiểu rằng muốn chỉ tháng thứ 12 trong năm âm lịch bắt buộc phải gọi là tháng chạp không?
30. "Thống nhất". 'Tôi đã xuống huyện thống nhất đồng chí X .' Câu này mắc hai lỗi. Thứ nhất thiếu từ liên tự với, thứ nhì là thống nhất điều gì, chuyện gì. Thống nhất (unify; unified). Trường hợp này phải nói là "đồng ý" với; "nhất trí" với.
31. "Thứ nhất, thứ nhì". Từ xưa theo cách đếm số, chúng ta có con số thường (cardinal number) như 1.2.3.4 và số thứ tự (ordinal number) thứ nhất, thứ nhì. Hiện nay họ dường như không ưa dùng số thứ tự và gọi thứ nhì là thứ hai. Chỉ second; deuxième là "thứ hai" dễ lầm lẫn với "thứ hai" = Monday. Trên sách báo chỉ thấy viết: một là; hai là. Như thế chỉ riêng nước Việt Nam không cần đến số thứ tự (ordinal number) nữa sao ?
32. "Tương thích". Giá cả đó tương thích với chất lượng mặt hàng...' tương đương = thích hợp (equal = appropriated). Cách ghép nối gượng gao.
33. "Tranh thủ": Thay vì dùng một chữ vừa rõ ràng vừa giản dị là chữ 'cố gắng', từ cái tệ sính dùng chữ Hán Việt của người cộng sản, người ta lại dùng một chữ vừa nặng nề vừa tối nghĩa là chữ 'tranh thủ'. Thay vì nói: 'anh hãy cố làm cho xong việc này trước khi về, thì người ta lại nói: 'anh hãy tranh thủ làm cho xong việc này trước khi về.
34. "Trao đổi" = exchange = theo nghĩa của họ là nói chuyện, đối thoại, hội thoại. Cách dùng chịu ảnh hưởng nặng Tây phương. Trao đổi theo đúng nghĩa là đổi chác 'ông đưa cái giò, bà thò chai rượu. Họ chịu ảnh hưởng Tây phương quá nặng, vì trao đổi chỉ áp dụng cho hàng hóa (giao thương) hay con người. Thí dụ: 'Hai nước trao đổi lãnh sự, trao buôn bán, mậu dịch'. Kiều và Kim Trọng đã trao đổi quà tặng tình yêu cho nhau. Không bao giờ trao đổi lại có nghĩa là nói chuyện, đối thoại. Thí dụ sau đây cho thấy cách dùng sai lạc: 'Anh Phillippe Jamet đang trao đổi với một bé gái Việt Nam ...'. Trao đổi gì? Quà tặng gì? Trao đổi không bao giờ có nghĩa là converse, talk to, chỉ là exchange thôi.
35. "Trọng thị": Coi trọng (show consideration for/ attach important to) trong từ điển ghi là một từ cũ, không hiểu sao lại được dùng trở lại. Thí dụ: "Chúng ta phải trọng thị yếu tố đó". Cứ nôm na nói: 'Chúng ta phải coi trọng yếu tố đó là đủ và giản dị rồi.
36. "Trúng thưởng" = reward, award. Thế nào gọi là thưởng? Thưởng là thưởng cho những cá nhân hay tập thể có công, tài giỏi, đạt thành tích cao .. Thưởng đi đôi với phạt. Vậy không thể nói : 'Mua hàng sẽ được trúng thưởng.../ Anh X trúng thưởng xổ số thành phố X. được 50 triệu ' Đó chỉ là quà tặng, biếu không, không phải là thưởng, và chỉ là trúng xổ số chứ không lĩnh thưởng. Xổ số là hình thức đánh bạc, nên gọi tránh đi là trúng thưởng (Thật là mâu thuẫn, trong khi đó họ bỏ tiền ra mua máy đánh bạc đặt trong các khách sạn lớn!!)
37. "Trúng tuyển" (nghĩa vụ quân sự) = select, choose/ recruit. Chúng ta vẫn nói và viết "tuyển sinh", "tuyển quân", "tuyển mộ", "tuyển dụng"... Nhưng nói : "trúng tuyển nghĩa vụ" thật là khôi hài. Nghĩa vụ quân sự là thi hành quân dịch, đến tuổi phải đi, bắt buộc phải đi, không có chuyện trúng tuyển hay không được tuyển (nên dùng theo nghĩa xấu chỉ có dân nghèo, không có tiền đút lót và không phải là con cán bộ cao cấp, mới bị trúng tuyển).
38. "Tư liệu": Trước đây ta vốn dùng chữ "tài liệu", rồi để làm cho khác miền Nam , người miền Bắc dùng chữ 'tư liệu trong ý: 'tài liệu riêng của người viết'. Bây giờ những người viết ở hải ngoại cũng ưa dùng chữ này mà bỏ chữ 'tài liệu', mặc dù nhiều khi tài liệu sử dụng lại là tài liệu đọc trong thư viện chứ chẳng phải là tài liệu riêng của ông ta.
39. "Vị trí" = place/ position/ job, task = chỗ đứng, vị thế / nơi chốn/ việc làm, trách vụ. Nhưng họ dùng "vị trí" cho luôn cả nghĩa là "trách vụ", "việc làm". Câu nói sau đây là sai: 'Anh A đã thay anh B công tác ở vị trí kế toán trưởng'. Nên nói: 'Anh A đã thay anh B công tác ở trách vụ kế toán trưởng' mới đúng. Thường thường chúng ta hay dùng: 'Tiểu đội A đã chiếm được một vị trí trên cao, từ đó có thể ngăn chặn được trung đội địch tiến lên đồi.
40. "Vùng sâu xa": Vùng rừng núi, đầm lầy (highland = swamp area). Đây là cách sử dụng chữ trốn tránh thực tế. Vùng ở trong sâu hiểu là vùng hẻo lánh, sình lầy và vùng xa tức là vùng trên cao, ở xa. Đây là cách dùng mị dân, cũng như để dễ bề đẩy giáo viên, kỹ sư, bác sĩ không phe đảng, không là con cháu cán bộ đến phục vụ nơi khỉ ho cò gáy. Ngoài ra "sâu xa" còn gây hiểu lầm với 'lòng cảm ơn, biết ơn sâu xa" đã quen dùng trước đây.
41. "Xuất khẩu", "Cửa khẩu": Người Tầu dùng chữ khẩu, người Việt dùng chữ cảng. Cho nên ta nói "xuất cảng", "nhập cảng", chứ không phải như cộng sản nhắm mắt theo Tầu gọi là "xuất khẩu", "nhập khẩu". Bởi vì ta vẫn thường nói phi trường Tân Sơn Nhất, phi cảng Tân Sơn Nhất, hải cảng Hải Phòng, giang cảng Saigon, thương cảng Saigon. Chứ không ai nói phi khẩu Tân Sơn Nhất, hải khẩu Hải Phòng, thương khẩu Saigon trong tiếng Việt. Khi viết tin liên quan đến Việt Nam, ta đọc bản tin của họ để lấy dữ kiện, rồi khi viết lại bản tin đăng báo hay đọc trên đài phát thanh tại sao không chuyển chữ (xấu) của họ sang chữ (tốt) của mình, mà lại cứ copy y boong?
42. Còn hai từ nữa bị người dân miền Bắc lạm dụng vì lây cách dùng của cán bộ là "bản thân" và "chủ yếu": "Bản thân" = self, oneself, và "chủ yếu" = main, principal. Qua những câu chuyện thường ngày, chúng ta nghe họ dùng hai từ này bừa bãi, sai lệch: 'Thức ăn chủ yếu của đồng bào vùng này là ngô và khoai; Chúng tôi lấy gạo làm chủ yếu để qui thành giá trị trao đổi. Và: 'Bản thân tôi cũng không tránh khỏi dao động. Bản thân sự kiện đó còn nhiều tồn tại". Người ta đã bỏ quên từ "tự và chính" được dùng từ xưa đến nay, thí dụ: Thức ăn chính của đồng bào. Chính tôi cũng không tránh khỏi dao động; Tự thân sự kiện đó. Hiện nay đang có phong trào ghép chữ bừa bãi giữa hai từ Hán-Việt + Hán-Việt hoặc Hán-Việt + Nôm. Thí dụ: "động thái", "thể trạng", "siêu sao", "siêu trường". Động thái là hành động + thái độ (action + attitude); thể trạng là tình trạng thân thể (physical form sitituation); siêu sao = super-star; siêu trường = super-long. nghe lạ tai. Đã đành là ngôn ngữ chẳng qua chỉ là những ước hiệu con người sử dụng để hiểu nhau, thông cảm nhau. Tuy nhiên những ước hiệu đó không được khó hiểu, bí hiểm, khó nghe, chói tai, kỳ la.
43. Những danh từ kỹ thuật mới: Thời đại của điện tử, của computer tạo ra nhiều danh từ kỹ thuật mới, hay mang ý nghĩa mới. Những danh từ này theo sự phổ biến rộng rãi của kỹ thuật đã trở nên thông dụng trong ngôn ngữ hàng ngày. Hầu hết những chữ này có gốc từ tiếng Anh, bởi vì Hoa Kỳ là nước đi trước các nước khác về kỹ thuật. Các ngôn ngữ có những chữ cùng gốc (tiếng Đức, tiếng Pháp) thì việc chuyển dịch trở nên tự nhiên và rõ ràng, những ngôn ngữ không cùng gốc, thì người ta địa phương hóa những chữ ấy mà dùng. Riêng Việt Nam thì làm chuyện kỳ cục là dịch những chữ ấy ra tiếng Việt (hay mượn những chữ dịch của người Tầu), tạo nên một mớ chữ ngây ngô, người Việt đọc cũng không thể hiểu nghĩa những chứ ấy là gì, mà nếu học cho hiểu nghĩa thì khi gặp những chữ ấy trong tiếng Anh thì vẫn không hiểu. Ta hãy nhớ rằng, ngay cả những người Mỹ không chuyên môn về điện toán, họ cũng không hiểu đích xác nghĩa của những danh từ này, nhưng họ vẫn cứ chỉ biết là chữ ấy dùng để chỉ các vật, các kỹ thuật ấy, và họ dùng một cách tự nhiên thôi. Vậy tại sao ta không Việt hóa các chữ ấy mà phải mất công dịch ra cho kỳ cục, cho tối nghĩa. Ông cha ta đã từng Việt hóa biết bao nhiêu chữ tương tự, khi tiếp xúc với kỹ thuật phương tây cơ mà. Ví dụ như ta Việt hóa chữ 'pomp' thành 'bơm' (bơm xe, bơm nước), chữ 'soup' thành 'xúp', chữ 'pharé thành 'đèn phá, chữ 'cycló thành 'xe xích lố, chữ 'manggis' (tiếng Mã Lai) thành 'quả măng cụt', chữ 'durian' thành 'quả sầu riêng', chữ 'bougié thành 'bu-gi, chữ 'manchon' thành 'đèn măng xông', chữ 'boulon' thành 'bù-long', chữ 'garé thành 'nhà gá, chữ 'savon' thành 'xà-bông'?
Bây giờ đọc báo, thấy những chữ dịch mới, thì dù đó là tiếng Việt, người đọc cũng vẫn không hiểu như thường. Hãy duyệt qua một vài danh từ kỹ thuật bị ép dịch qua tiếng Việt Nam , như:
a Scanner dịch thành 'máy quét'. Trời ơi! 'máy quét' đây, thế còn máy lau, máy rửa đâu! Mới nghe cứ tưởng là máy quét nhà!
b. Data Communication dịch là 'truyền dữ liệu'
c. Digital camera dịch là 'máy ảnh kỹ thuật số'
d. Database dịch là 'cơ sở dữ liệu. Những người Việt đã không biết database là gì thì càng không biết 'cơ sơ dữ liệu là gì luôn.
e. Software dịch là 'phần mềm', hardware dịch là 'phần cứng' mới nghe cứ tưởng nói về đàn ông, đàn bà. Chữ 'hard' trong tiếng Mỹ không luôn luôn có nghĩa là 'kho, hay 'cứng', mà còn là 'vững chắc' ví dụ như trong chữ 'hard evident' (bằng chứng xác đáng). Chữ soft trong chữ 'soft benefit' (quyền lợi phụ thuộc) chẳng lẽ họ lại dịch là 'quyền lợi mềm' sao ?
f. Network dịch là 'mạng mạch'.
g. Cache memory dịch là 'truy cập nhanh'.
h. Computer monitor dịch là 'màn hình' hay 'điều phối.
i VCR dịch là 'đầu máy. (Như vậy thì đuôi máy đâu ? Như vậy những thứ máy khác không có đầu ả). Sao không gọi là VCR như mình thường gọi TV (hay Ti-Vi). Nếu thế thì DVD, DVR thì họ dịch là cái gì?
j. Radio dịch là 'cái đài'. Trước đây mình đã Việt hóa chữ này thành ra-đi-ô hay rađô, hơặc dịch là 'máy thu thanh'. Nay gọi là 'cái đài' vừa sai, vừa kỳ cục. Đài phải là một cái tháp cao, trên một nền cao (ví dụ đài phát thanh), chứ không phải là cái vật nhỏ ta có thể mang đi khắp nơi được.
k. Chanel gọi là 'kênh'. Trước đây để dịch chữ TV chanel, ta đã dùng chữ đài, như đài số 5, đài truyền hình Việt Nam, gọi là kênh nghe như đang nói về một con sông đào nào đó ở vùng Hậu Giang!
Ngoài ra, đối với chúng ta, Saigon luôn luôn là Saigon, hơn nữa người dân trong nước vẫn gọi đó là Saigon . Các xe đò vẫn ghi bên hông là 'Saigon - Nha Trang', 'Saigon - Cần Thớ trên cuống vé máy bay Hàng Không Việt Nam người ta vẫn dùng 3 chữ SGN để chỉ thành phố Saigon. Vậy khi làm tin đăng báo, tại sao người Việt ở hải ngoại cứ dùng tên của một ... để gọi thành phố thân yêu của chúng mình?! Đi về Việt Nam tìm đỏ mắt không thấy ai không gọi Saigon là Saigon, vậy mà chỉ cần đọc các bản tin, các truyện ngắn viết ở Hoa Kỳ ta thấy tên Saigon không được dùng nữa Tại sao ?
Đây chỉ là một vài ví dụ để nói chơi thôi, chứ cứ theo cái đà này thì chẳng mấy chốc mà người Việt nói tiếng Tầu luôn mất! Tất nhiên, vì đảng cộng sản độc quyền tất cả mọi sinh hoạt ở Việt nam, nên ta khó có ảnh hưởng vào tiếng Việt đang dùng trong nước, nhưng tại sao các nhà truyền thông hải ngoại lại cứ nhắm mắt dùng theo những chữ kỳ cục như thể! Cái khôi hài nhất là nhiều vị trong giới này vẫn thường nhận mình là giáo sư (thường chỉ là giáo sư trung học đệ nhất cấp (chưa đỗ cử nhân) hay đệ nhị cấp ở Việt Nam ngày trước, chứ chẳng có bằng Ph.D. nào cả), hay là các người giữ chức này chức nọ trong các hội đoàn tự cho là có trách nhiệm về văn hóa Việt Nam ở ngoài nước!
Trước đây Phạm Quỳnh từng nói: 'Truyện Kiều còn thì tiếng ta còn, tiếng ta còn thì nước ta còn', bây giờ Truyện Kiều vẫn còn mà cả tiếng ta lẫn nước ta lại đang đi dần xuống hố sâu Bắc Thuộc. Than ôi!
Bấm chữ "Older Posts" trên đây để xem tiếp .... Dưới Là Bài Cũ Theo Từng Tháng.
-
►
2006
(249)
- Jun 2006 (13)
- Jul 2006 (51)
- Aug 2006 (36)
- Sep 2006 (32)
- Oct 2006 (33)
- Nov 2006 (37)
- Dec 2006 (47)
-
►
2007
(2315)
- Jan 2007 (66)
- Feb 2007 (62)
- Mar 2007 (54)
- Apr 2007 (95)
- May 2007 (123)
- Jun 2007 (192)
- Jul 2007 (249)
- Aug 2007 (204)
- Sep 2007 (255)
- Oct 2007 (329)
- Nov 2007 (361)
- Dec 2007 (325)
-
►
2008
(3206)
- Jan 2008 (228)
- Feb 2008 (204)
- Mar 2008 (273)
- Apr 2008 (328)
- May 2008 (304)
- Jun 2008 (312)
- Jul 2008 (258)
- Aug 2008 (310)
- Sep 2008 (290)
- Oct 2008 (256)
- Nov 2008 (218)
- Dec 2008 (225)
-
►
2009
(1551)
- Jan 2009 (152)
- Feb 2009 (126)
- Mar 2009 (139)
- Apr 2009 (148)
- May 2009 (183)
- Jun 2009 (164)
- Jul 2009 (145)
- Aug 2009 (100)
- Sep 2009 (102)
- Oct 2009 (117)
- Nov 2009 (94)
- Dec 2009 (81)
-
►
2010
(1605)
- Jan 2010 (111)
- Feb 2010 (115)
- Mar 2010 (122)
- Apr 2010 (132)
- May 2010 (146)
- Jun 2010 (129)
- Jul 2010 (191)
- Aug 2010 (147)
- Sep 2010 (125)
- Oct 2010 (133)
- Nov 2010 (131)
- Dec 2010 (123)





