DƯƠNG NGUYỆT ÁNH: ( Phát biểu trong một buổi văn nghệ gây qũy giúp thương phế binh ở VN. tại Virginia )
***Mt68:
Hình như trước đây DNÁnh có nói là di tản hay vượt biên bằng tàu :
Kể rằng, có đứa con nói là Mẹ nó (DNÁnh) "Chicken" - Và DNÁnh trả lời là "Chicken" sao dám NHẢY QUA TÀU CẤP CỨU khi tàu của DNÁnh đã dang ra xa, không còn cập sát.
Nếu Nguyệt Ánh chần chừ thì sẽ không qua được tàu cấp cứu và nếu nhảy không tới tàu cấp cứu mà lọt xuống biển thì chết !
-Đại khái DNÁnh đã kể như vậy để chứng tỏ DNÁnh KHÔNG CHICKEN như con tưởng.
Vậy mà sao trong bài nầy thì DNÁnh nói là ngồi TRỰC THĂNG để bay ra khỏi SàiGòn trong một buổi chiều cuối cùng của 30-4-1975 ??? Tuy chỉ là một chi tiết nhỏ, nhưng cũng cần phải chính xác và trước, sau phải y sự thật chứ ???.../-mt68
Kính thưa Qúy vị,
Trong suốt 30 năm ở Miền Nam Việt Nam. Ánh rất may mắn được sống tự do và bình an, dưới sự chở che và hy sinh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Ánh có cái may mắn là được sinh ra, và lớn lên ở Sài Gòn, nên Ánh chưa bao giờ đến gần chiến tranh. Hay nói đúng hơn là nhờ có các chiến sĩ ngày đêm chiến đấu gian khổ ở nơi núi rừng, đồng lầy…nên chiến tranh đã không về thành phố. Ánh đã có được một tuổi thơ rất đẹp, rất bình yên, nhưng không phải vì thế mà Ánh không biết xót sa trước những hy sinh của các chiến sĩ, và không nhìn thấy những thiệt thòi của vợ con họ. Một trong những người anh của Ánh là phi công trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, trong giai đoạn khốc liệt nhất của cuộc chiến, nhất là mỗi lần tiễn anh trở về chiến trường An Lộc sau những ngày phép ngắn ngủi. Ánh cũng đã từng cầu nguyện, từng khóc lên khóc xuống. Khóc mà vẫn phải dấu, vẫn phải cố làm mặt vui, vì sợ xui.
Khi ngồi trong chiếc trực thăng bay ra khỏi Sài Gòn trong buổi chiều cuối cùng, Ánh đã tự hỏi: Không biết số phận những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa còn ở lại chiến đấu cho đến giờ phút cuối cùng sẽ ra sao ? Ai sẽ lo cho vợ con họ ?
Trong lúc tất cả chúng ta, những người may mắn ngồi trong phòng này, tìm được đến bến bờ tự do, có đủ mọi cơ hội để làm lại từ đầu, thì những anh hùng, những ân nhân của chúng ta còn ở lại trên quê hương đang sống một cuộc đời rách nát bên lề xã hội. Đối với chế độ mới, thì họ là những kẻ thù cũ, và họ đã phải chịu một sự trả thù tàn khốc. Đối với thế hệ con em lớn lên sau này, họ chỉ là một ký ức mờ nhạt thuộc về một giai đoạn lịch sử đã và đang cố tình bị bóp méo, bị bôi xóa. Đối với thế giới bên ngoài, họ chỉ là những kẻ thua trận, và đã bị đổ tội là làm mất Miền Nam Việt Nam.
Chỉ có chúng ta hiểu, và biết rõ chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chưa bao giờ hèn nhát. Ngày trước họ phải buông súng, không phải họ không muốn chiến đấu nữa, mà vì họ không còn đạn nữa để bắn, họ bị ép buộc phải đầu hàng.
Trong giai đoạn cuối của cuộc chiến Việt Nam, mặc dù bị bỏ rơi, bị phản bội. Họ vẫn anh dũng làm tròn sứ mạng của mình, nên chúng ta mới có đủ thì giờ thoát chạy ra ngoài. Chỉ có chúng ta còn nhớ ơn họ, những kẻ chịu thiệt thòi nhiều nhất, khi Việt Nam Cộng Hoà bị bức tử. Chỉ có chúng ta mới có đủ điều kiện, và phương tiện để giúp đỡ họ ngày hôm nay. Suy nghĩ về họ là những anh hùng cần được ghi ân trong lịc sử, và xin nhớ về họ là những ân nhân cần được tập thể người Việt Nam tự do quan tâm, săn sóc.Họ không phải là những nạn nhân bão lụt, hay là những người xấu số, không may, đang trông chờ sự bố thí, hay lòng thương hại của chúng ta.
Họ chính là chủ những món nợ ân tình, mà chúng ta đã vay ngày trước. Ánh biết rằng mình sẽ không bao giờ có thể trả đủ cả vốn lẫn lời cho món nợ to lớn này.Và dẫu biết rằng chủ nợ không có khả năng đòi, nhưng chẳng lẽ mình lại đành lòng quịt luôn. Vì thê, hôm nay Nguyệt Ánh đến đây, và Ánh biết rõ, chắc chắn đó cũng là lý do tại sao Qúy vị cũng cùng đến đây hôm nay.
DƯƠNG NGUYỆT ÁNH.
Friday, December 31, 2010
Hồi Ký:
Những Ngày Cuối Của Hải-Vận-Hạm Hậu-Giang
Hoàng Sa NQT
(Côn-Sơn: Nơi Yên Nghỉ Cũa HQ 406??)
Bài hồi-ký này đã được phổ-biến trước đây với nhan-đề và nội-dung có hơi khác biệt, mang tính-chất văn-chương và tâm-tình kể-lễ nhiều hơn là một chuyện thật. Nay (có sự yêu cầu cũa một số bạn-hữu) với mục-đích làm thành một tài-liệu sống thật có dính-dấp đến chiếc HQ 406, bao gồm các biến-cố có thật đã xảy ra trước và ngay trong những ngày cuối cùng cũa Miền Nam/VNCH với đầy đủ tính-chất sử-liệu, tác-giả sẽ thêm các diễn-biến, chi-tiết cụ-thể cũng như tên tuổi nhân-vật và địa-danh thật sự có liên-quan đến các biến-cố trong bài hồi-ký này; và coi đây như một đóng góp một lượn sóng nhỏ trong giòng trường-giang Hải-sử cũa HQ/VNCH trước kia.)Hoàng-Sa NQT Mùa Đông năm 2000
Định-mệnh con người có những an-bài, có những trùng-hợp mà chính bản-thân mình không thể dự-đoán (dù qua khoa tướng số, tử-vi như trường-hợp cũa tôi), không tự lựa chọn và cũng không manh tâm cãi đổi được. Tôi tự lấy bản-thân mình đễ chiêm-nghiệm. Được bổ-nhiệm xuống HQ 406 ngay sau khi chiến-hạm này về tới Việt-nam, 1963. Đây là chiếc Hải-vận-hạm(loại tầu đổ-bộ LSM thời Đệ II Thế-Chiến cũa Hoa-kỳ) được coi là mới nhất và cuối cùng thuộc loại chuyển-vận hạng trung cũa Hải-quân VN. Tầu này được bàn-giao tại Putget Sound Shipyard, thành-phố Bremerton, Washington (nơi đã một lần được bầu là thành phố số 1 cũa Hiệp-chũng-quốc Hoa-kỳ), chỉ cách 40 phút chuyến phà từ Seattle, nơi gia-đình tôi đã lấy làm quê-hương thứ hai mấy chục năm nay. Lần đầu tiên đem gia-đình qua thăm viếng chiếc Thiết-giáp-hạm lừng danh Missouri, nơi Nhật hoàng đã ký bản văn-kiện đầu hàng vô điều-kiện sau Đệ Nhị Thế chiến, trong khi đứng trên bong tầu đưa tầm mắt lơ-đãng trên các chiến-hạm mầu xám quen thuộc rải-rác chung quanh, tôi liên-tưởng ngay đến chiếc HQ 406. Ba mươi chín năm trước, đâu đây trong cảng Bremerton này, một chiếc tầu nhỏ bé mang danh-hiệu cũa HQ VN, đang chờ một cuộc hành-trình dài về một xứ lạ bên kia bờ Đông cũa Thái-bình-dương. Hôm nay vô-tình được trở về nơi đây, ngay nguồn-cội nơi chiếc Hải-vận-hạm cũa tôi đã được tái sinh. Tôi là Sĩ-quan đầu tiên xuống với nó ngay sau ngày về nước và oái-ăm thay cũng là vị hạm-trưởng sau cùng đã đưa chiếc chiến-hạm này về với lòng biển, nơi an nghỉ cuối cùng! Cả một quá-khứ lung-linh hiện về, cảm-xúc lẩn bồi-hồi dầu không để lộ ra, đã ít nhiều làm giảm đi cuộc vui cuối tuần ngày hôm đó. Sau này, mỗi lần trở lại Bremerton với ít nhiều xúc-cảm trong lòng khi nghĩ về quá-khứ với hình-ảnh cũa chiếc chiến-hạm không may. Tôi luôn thầm hỏi là có cái gì run-rũi mình tới xứ Seattle/Bremerton quanh năm mây mù và mưa gió này?
Sáu bảy năm trước đây tại BTL/V3DH Cát-lỡ, Vũng-tàu lúc còn giữ chức-vụ SQ Đặc-trách Huấn-luyện và Tiếp-nhận các tiểu-đĩnh Coastguard và PCF cũa HQ Hoa-kỳ bàn giao đễ trang-bị cho các Hải-đội Duyên-phòng (HĐDP) sắp được thành lập -trong một chương-trình gọi là Small Craft Assets Training and Turnover of Resources Program (SCAT/TRP)-, cũng như trách-nhiệm thành lập HÐ3DP từ thuở phôi-thai, tôi đã dự-đoán có một ngày mình phải tự lo-liệu lấy tương-lai cũa mình, tự bảo-vệ phần đất còn lại cũa miền Nam. Nhớ lại ở thời-điểm đó có dư-luận Mỷ sẽ rút quân đễ đổi lấy một thỏa-thuận với phía Bắc Việt cam-kết giảm thiểu sự thâm nhập Miền Nam, hoặc chấp nhận một chính-phủ liên-hiệp tại Sài-gòn đang được thương-thảo tại bàn hội-nghị. Riêng quân-nhân HQ chúng tôi hiểu việc Mỷ rút quân là một thực-thể vì lúc đó chúng tôi đang tiếp-nhận các tiểu-đỉnh do HQ Hoa-kỳ chuyển giao và sẽ tự mình đảm-nhiệm phần-vụ bảo-vệ duyên-phòng sau đó. Cũng vào thời-kỳ hoàn-tất việc trang-bị HÐ3DP, cuộc chiến VN có thêm một khúc rẻ: đễ trả đũa Bắc-Việt tăng-cường yểm-trợ Kmer Đỏ cũng như an-toàn sử-dụng các căn-cứ trong nội-địa Cam-bốt, bắt đầu 18 tháng Ba 1970 máy bay Mỷ bí mật dội bom các căn-cứ tiếp-vận này, và đến tháng Tư cùng năm Tổng-thống Nixon ra lệnh tấn-công Cam-bốt với một lực-lượng hổn-hợp Mỷ Việt 30,000 quân. HQVN đóng một vai trò khá quan-trọng trong chiến-dịch này vì sự xử-dụng giòng sông chiếc-lược Cữu-long cùng sự tiếp-vận dễ-dàng về đường thủy. Các tiểu-đỉnh PCF cũa HÐ3DP lần đầu tiên được đem dùng trong cuộc hành-quân sông ngòi quy-mô này. Vì lòng Cữu-long rộng thênh-thang nên các khinh-tốc-đỉnh (PCF) có thể mở hết vận tốc như đang cỡi sóng ở ngoài biển khơi. Những ngày đầu tham-dự, tôi được trao trách-nhiệm dùng đoàn PCF tuần-tiểu mặt sông từ biên-giới Tân-châu Hồng-ngự cho đến Net-lương sâu trong nội-địa Cam-bốt, kiểm soát ngăn chận các ghe thuyền qua lại biên-giới. Sau đó được lệnh mang hết đoàn PCF lên Nam-vang, tuần-tiểu giử an-ninh vùng cảng Nam-vang cho đến nhánh sông Tông-lê-sáp. Cũng nên biết cùng lúc đó có vụ cáp-duồn (tàn-sát) người Việt sống tại Miên nên Chính-phủ VNCH cho tàu HQ (các HVH và DVH) lên Nam-vang chuyên-chở Việt-kiều về nước. Cuối tháng Tư 1970 vì áp-lưc phản-chiến trong nước quá mạnh Quốc-hội Hoa-kỳ đã thông qua dự-luật rút hết quân Mỷ ra khỏi lảnh-thổ Cam-bốt. Tuy nhiên HK vẫn tiếp-tục yểm-trợ cuộc tấn-công, và đoàn PCF vì vậy vẫn ngày đêm tuần-tiểu mặt sông thủ-đô Nam-vang cho đến hết tháng 7/70. Thời-gian ở tại HÐ3DP, với sự phụ-tá cũa HQ Đ/U An chúng tôi lúc đầu gặp rất nhiều khó-khăn trong việc đào-tạo nhân-viên cho từng tiểu-đỉnh. Lý-do vì chiến-đỉnh quá bé nhỏ so với tình-trạng biển khắc-nghiệt cộng thêm phải làm việc chung với thủy-thủ đoàn quá quen sóng gió cũa HK, một số lớn nhân-viên cấp dưới bõ cuộc. Chương-trình SCAT/TRP rồi cũng hoàn-tất thì một vị Trung-tá khóa 7 HQ được cữ ra giữ chức CHT hải-đội và tôi được bỗ-nhiệm về Sài-gòn làm Trưởng-phòng Trợ-huấn BTL/HQ. Nay thì quân-đội Mỹ đã trở thành hình-ảnh cũa quá-khứ, chiến-tranh đang lúc chín mùi. Những chuyến hải-hành chở quân-cụ, đạn-dược và binh-sĩ càng dồn-dập gấp rút. Về bến được ít ngày thì lại bị cấm trại giới-nghiêm thành thử không được mấy chốc gần-gủi gia-đình. Mọi việc ở nhà chỉ trông cậy vào nơi người nội-trợ quán-xuyến.
Rồi giờ phút đau thương đã đến: đó là ngày miền Nam mất thêm Nha-trang, và tôi là một trong những chứng-nhân cũa giờ phút đó. HQ 406 cùng một số chiến-hạm bạn nằm không xa bãi biển, còn nghe được những tiếng kêu cứu cũa những người đang liều chết lội bì-bõm dưới nước. Trời đã sụp tối hẳn, nhìn vào thành-phố thấy lấp-lánh chỗ này chổ kia có ánh lữa cháy, thỉnh thoảng còn tiếng nỗ lớn vọng ra. Không nhìn thấy được gì nhưng tôi có thể hình-dung được cảnh hoang-mang, hổn-độn và sợ-hãi cùng cực cũa nhũng người tìm cách thoát thân. Khi rời Nha-thành, nơi tôi đã sống hai năm tuy vất-vã học tập nhưng khá êm-đềm và đầy những kỹ-niệm, nơi đã rèn luyện tôi từ một thư-sinh yếu-đuối nhớ nhà thành một quân-nhân rắn chắc tự-lập, trang-bị cho tôi một số vốn hàng-hải căn-bản đễ giúp tôi làm nên sự-nghiệp sau này; tôi được nghe trên máy vô-tuyến lời giã-từ đau-đớn cũa một người bạn ở lại. Chúng tôi đã từng phục-vụ cùng đơn-vị, đã từng dùng chung một chiếc jeep với hai bà vợ ngồi băng sau đi về mỗi ngày khi còn ở Sài-gòn. Đó là thời-gian cuối năm 70, HQ Trung-tá HNL khoá 9/HQ được đề-cữ giữ chức-vụ trưởng-phòng Nghiên-huấn thuộc Khối Quân-Huấn BTL/HQ vừa được thành-lập, dưới quyền cũa vị Tham-mưu-phó Quân-huấn đầu tiên là HQ Đ/T BHT. Gọi là Phòng nhưng thật ra chúng tôi chỉ chiếm 2 cái bàn làm việc cũa 2 Trưởng Ban cũa Phòng QH cũ còn lại; thậm chí chỉ có một chiếc xe jeep cho 2 chúng tôi lúc đầu dùng chung. Từ chỗ sơ-sinh đó chúng tôi đã giúp tạo dựng nên Khối QH sau này, có riêng một Trung-tâm Trợ-huấn được HK trang-bị đầy đủ với các cơ-sở phiên-dịch, đánh máy, phim-ảnh, và máy-móc ấn-loát dùng in các sách kỷ-thuật dùng cho toàn HQVN.
Nói về số mệnh ở đời, có những huyền-bý mà tôi vẫn tin từ thuở nhỏ. Hồi còn ở với mẹ tại một làng quê cạnh phi-trường Phú-bài Huế, trước mặt là sông nước bao-bọc mênh-mông. Ngày ngày sau giờ học tôi thường cầm cần câu miệt-mài từ bờ này tới vũng kia. Một ngày nọ mẹ tôi nhờ một thầy bói coi tướng cho tôi. Thầy tướng đoán rằng tuổi tôi mạng Thủy kỵ phải nước, nhất là không được qua sông đi đò. Từ đó bà lo-lắng ra mặt mỗi lần tôi bén-mãng câu cá ven sông. Đến lúc lên tỉnh học 1949/50, trường trung-học đệ-nhất cấp nằm bên kia hửu-ngạn sông Hương, mỗi ngày học trò phía bên này Nội-thành phải đi đò 2 chuyến qua về, vì cầu Trường-tiền bị gãy sau khi Pháp trở lại VN sau 1945. Điều này khiến mẹ tôi càng lo-lắng hơn. Sau mười mấy năm miệt-mài với những lần thi-cữ mụ người, tôi vẫn còn là một thư-sinh bạch diện. Vào đầu niên-khóa năm thứ hai ở viện đại-học Huế, sau hai lần thi trượt vào trường Quốc-gia sư-phạm và giấc mộng trở thành một giáo-sư Việt-văn, một nhà thơ nghèo tan theo mây khói; tôi theo chân người bạn vào Đà-nẵng đầu quân. Đó là vào cuối năm 1959 và đây là một chọn lựa nát lòng vì tôi phải xa người mẹ già, xa thành-phố đã ấp-ũ tôi bằng những giấc mơ đẹp và huyền-bí như cuộc sống hằng ngày cũa nó. Khi mẹ tôi biết quyết-định tôi ra đi, nhất là tôi lại đăng vào Hải-Quân thì người chỉ sẫn-sờ và sau đó tiễn tôi toàn bằng nước mắt. Tôi cũng đau lòng không ít. Bẵng đi một thời gian sống ở quân-trường, một hôm nhận được thư cũa mẹ tôi. Bức thư dày cộm và khi mở ra tôi thấy có một vật lạ: một tờ giấy dài mầu vàng ướm, trên đó những chữ đỏ lạ lùng như dấu triện thời xưa. Trong thư mẹ tôi dặn-dò rất kỷ. Người nói rằng đây là lá bùa hộ thân, nó sẽ bảo-vệ tôi suốt đời chống chỏi với sóng gió, gươm đạn, rũi-may. Chiếc bùa được xếp sẳn gọn thành hình tam-giác nhét được vào ví. Sau đó tôi luôn mang theo canh-cánh bên mình. Hôm nay sau khi đưa được HQ 406 ra vùng biển an-toàn, tôi nhớ lại chiếc bùa hộ-mệnh cũa mẹ tôi, vẫn nằm yên trong ví. Hỏa-tiễn địch thuộc loại xuyên phá. Sau khi xuyên thũng vách thép thứ nhất, một trong ba hỏa-tiễn đã phá nỗ ở thành tàu thứ hai cũa phòng lái. Chỗ phi đạn địch nỗ chỉ cách chỗ tôi đứng trên đài chỉ-huy chưa đầy nữa thước. Nếu địch đã nâng tầm nhắm lên một phần nào đó cũa một ly thì không biết những gì đã xãy ra. Ở giờ phút chót này chắc không ai cứu được ai, chỉ mình lo cho tính mạng cũng như chiến-hạm cũa mình mà thôị.Tôi chỉ biết đội ơn lòng người mẹ bao-la và thầm khấn-vái cho người ở xa cũng được an-bình.
Nhớ lại trước khi rời Saigon vào những ngày cuối cũa tháng Ba 75, tôi đã cảm-nhận có một cái gì lớn lao sắp xảy ra, đã thấy được sự hối-hã ra đi cũa người dân thủ-đô qua sự sắm-sửa va-li, áo quần và đồ nử trang sang trọng. Lúc sắp rời cảng Cầu xa-lộ tôi đã chứng kiến một cảnh di-tản rộn-rịp, hoãng-hốt xảy ra ngay tại cầu tàu này, cách chỗ HQ 406 đang lấy hàng năm mười thước. Ở vào thời-điểm đó, đối với thuỷ-thủ-đoàn chúng tôi công-vụ vẫn như thường-lệ. Từng đoàn người lũ-lượt chen chúc nhau xuống chiếc thương-thuyền khỗng-lồ President Lines cũa Mỷ đễ rời khỏi VN. Xe hơi xe gắng máy vô chủ vất bừa-bãi trên bến tàu. Những chiếc thương-thuyền này tôi đã thấy nhan-nhản quanh hải-phận VN trước đây, có lẽ đã được chính-phủ Mỷ thuê đễ sẵn-sàng chuyên-chở và vớt dân tị-nạn. Trong đám người xuống tàu hôm đó có cả một số quân-nhân mà tôi đã quen biết. Nghĩ tới đây tôi vô cùng lo sợ thì ra hiễm-họa sụp-đỗ cũa miền Nam sắp tới đã được tiên-liệu, và những người đang phục-vụ cùng hàng-ngũ như mình đã ra đi; trong lúc đó, giờ này mình còn lênh-đênh trong vịnh Thái-lan chưa biết ngày về!
Cũng không nhớ rỏ là đến ngày thứ mấy, tôi được báo-cáo là một máy chánh cũa tàu bất-khiển-dụng, vậy là chiến-hạm chỉ chạy với một máy chánh và một máy điện, vì trong chuyến công-tác cuối cùng vừa rồi một máy điện đã chết. Lúc rờI Sàigon một số SQ cơ-khí thâm-niên di-tản tình-nguyện túc trực ở phòng máy, phòng khi nhân-viên cơ-khí bõ tàu vào giờ phút chót. Khi tôi báo-cáo lên vị Tư-lệnh "Hạm-đội Di-tản" tình-trạng máy-móc cũa HQ 406 đễ xin giúp-đở, thật bất ngờ và cũng rất xót-xa, tôi được lệnh "bõ tàu", chuyển người lên một chiến-hạm bạn, sau đó đánh đắm HQ 406. Lúc đó chỉ biết thi-hành lệnh, tôi cặp vào một chuyển-vận hạm khác lớn hơn (chiếc DVH Cam-Ranh HQ 500). Ở lại sau cùng với một vài nhân-viên cần-thiết đễ lo thiêu-hũy tài-liệu mật mã, phá-hũy máy-móc truyền-tin, và sau cùng mở tất cả những valves chính dưới hầm tàu đễ cho nước biển tràn vô. Rời tầu sau cùng với một tâm-trạng chua xót nhưng không thiếu mĩa-mai. Tôi không được cái anh-hùng, lòng can-đảm, hay ở trong một cảnh huống cũa vị thuyền-trưởng chìm theo tàu như đã từng thấy trong phim ảnh hay lịch-sử. Khi được tháo giây cho tàu tự trôi đi, tôi không nhìn lại HQ 406 lần cuối, đi thẳng vào phòng ăn SQ cũa chiếc HQ 500 đễ gặp lại gia-đình. Sau đó có nghe tiếng đaị-bác nỗ và người ta nói lại là một vài tàu nào đó đã bắn theo những phát súng ân-huệ cuối cùng.
Đây là một khúc rẽ đau thương cũa lịch-sử VN cũng như cũa đời tôi. Rồi bắt đầu cuộc sống cũa người dãn tị-nạn tại Orote Point thuộc đảo Guam. Ở trong những chiếc lều vãi vĩ-đại mầu ô-liu, ngày ngày sắp hàng đễ lảnh cơm ba bừa, hoặc đễ làm thủ-tục giấy tờ. Có hôm đứng lâu trong hàng dài chờ lảnh một phần ăn, dưới chân cát nóng bõng và trên đầu mặt trời nhiệt-đới chói chang, trí óc tôi bỗng trôi nỗi về với dĩ-vãng cũa 8 năm trước đây khi còn là HP cũa chiếc Dương-vận-hạm Cam-ranh (mà tôi đã quá giang tới Subic sau khi đánh chìm HQ 406) đang nằm ụ tại Hải-xưởng Guam (cũng nằm trong phạm-vi cũa Orote Point này). Sống tại Guam gần một năm dài, tôi đã quá quen-thuộc cảnh-trí nơi đây, đã qua lại lắm lần khu đồi cát lởm-chởm nơi tôi đang đứng chờ lảnh cơm, đễ tới một bãi tắm gần đó; đâu ngờ 8 năm sau tôi lại đứng nơi đây với thân-phận cũa một người tị-nạn, chỉ nhìn thế-giới bên ngoài xuyên qua hàng rào kẻm gai! Gần một tháng sống ở đây, chật-vật tranh giành với mọi người sắp hàng làm giấy xuất trại, gia-đình tôi cuối cùng đã ra khỏi Guam sau khi trại 8 cũa tôi bị giải tỏa vì không đũ số người định cư. Trong thời-gian một tháng ngắn-ngũi sống ở đây thật ra dài vô-tận đối với đời tôi. Tâm-hồn bấn-loạn xao-xuyến bỡi các biến-cố đau-thương vừa qua lại bị thử-thách bỡi một diển-biến đau lòng xảy ra tại nơi đây. Số là có một số lớn người tị-nạn muốn trở về VN vì rất nhiều lý-do nên giới-chức ở đây đã cho thiết-lập một trại biệt-lập, có quân-cảnh canh-gát nghiêm-nhặt. Trong số người này có bạn-bè cũa tôi và một số nhân-viên cũa HQ 406 mà lúc ra đi tôi đã không cho họ biết trước một ngày tầu phải di-tản. Và tôi biết rỏ quyết-định cũa những người này là vì gánh nặng gia-đình. Nếu đặt trường-hợp mình vào họ lúc đó không ai dám chắc là sẽ phải xữ-sự ra làm sao. Mấy năm gần đây trên Seattle này tôi có quen và hay tâm-tình với một vị mới sang Mỷ 5,6 năm gần đây theo diện HO. Ông là một cựu Tr/Tá Không-quân trước 75 là phi-công trực-thăng riêng cũa vị Đại-tướng Tổng TMT/QLVNCH. Trong những ngày cuối ông ta đã lái trực-thăng đưa được nhiều vị tướng-lãnh ra tầu cũa hạm-đội Mỷ, ông đã đến Guam, sang tới đão Wake và cuối cùng trở lại Guam đễ theo chuyến tầu định-mệnh Thương-tín trở lại VN. Chúng tôi thường kết-luận câu chuyện: âu cũng là định-mệnh. Có điều có người trả giá chữ định-mệnh quá ư mắc-mõ!
Được chuyển sang Trại Tị-nạn Camp Pendleton, miền Nam California, đời sống ăn ở được cãi-thiện sung-sướng hơn nhiều. Sau một vài tuần bỡ ngỡ tại đây, hai vợ chồng được may mắn thâu nhận vào làm cho một tờ Tin-tức cũa trại, tờ Newsletter, song ngữ, phục-vụ người dân tị-nạn đang sống trong trại( có lúc lên tới 45 ngàn người), với lương tối-thiểu $2.10 một giờ.
Sống hơn 23 năm tại thành-phố Seattle tiểu-bang Washington, hơn cả thời-gian trưởng-thành mà tôi đã sống ở VN, kể ra cũng khá êm-đềm tuy có lúc buồn hiu lạnh lùng khi mùa Thu-Đông trở lại. Nói tới Seattle tôi không khỏi mường-tượng tới nhừng nơi mà tôi đã sống, đã đi qua hồi còn ở quê nhà. Seattle là một tổng-hơp tuyệt-vời giữa Huế, Đà-lạt, và một nơi nào đó nằm kề cận bên bờ Nam-hải trên lãnh-thổ cũa VN thân-yêu chúng ta. Mùa mưa ở đây kéo dài lê-thê làm tôi nhớ Huế khôn cùng, những năm trung-học, ngày ngày tới trường vào trong lớp mà áo quần còn ướt sũng nước mưa. Nhưng mùa hè ở Seattle thật vô cùng tuyệt đẹp. Cây cỏ xanh tươi, thông reo vi-vút, và biển hồ xanh biếc khiến thành-phố này được mệnh-danh là Emerald city. Nó hơn Đà-lạt cũa mình bội phần, không phải chỉ có hồ và đồi núi chập-chùng với những rặng thông bát-ngát, Seattle còn nằm cạnh một con vịnh rộng lớn (Putget Sound) chạy sâu vô đất liền từ Thái-bình-dương. Biển không mấy khi có sóng lớn, bình-yên và lặng-lờ quanh năm. Trước mặt bên kia bờ vịnh là dảy Olympic hùng-vĩ với tuyết phủ ngang đầu, không gần mà cũng không quá xa chỉ đủ đễ khiến người nhìn có cái ấn-tượng là những đĩnh núi tuyết được treo lơ-lững giữa lưng chừng trời vào những buổi sáng sớm hay chiều tà có mây vất-vưỡn lang thang. Nói không ngoa, Seattle là nơi có đủ mọi yếu-tố sơn-thủy tuyệt đẹp cũa một bức họa Tầu nỗi tiếng thời xưa. Với cái không-khí lành lạnh và ngoài trời cơn mưa rã-rích, ngồi nhắm-nhí tách cà-phê Starbuck (cũng là sản-phẩm cũa Seattle) thử còn gì thú-vị hơn. Tình thật mà nói ngoài cái đẹp cái hay, thành-phố nào cũng có cái đặc-thù cũa nó. Seattle được nỗi tiếng là nơi ướt-át nhất cũa vùng Tây Bắc, đúng hơn là cả nước Hoa-kỳ, với những ngày mưa dài rầu-rĩ triền-miên.
Seattle, 1999.
Hoàng-Sa NQT
Thursday, December 30, 2010
VÀI CHỮ VẮN TẮT CUỐI NĂM 2010
CỦA LS. LÊ DUY SAN.
Thưa qúy anh chị,
Tôi dùng chữ VC và VGCS ở đây là chỉ cả bọn tuy mang danh Quốc Gia nhưng chỉ viết những bài làm lợi cho VC.Tôi dùng chữ BÀN LUẬN chứ không dùng chữ TRANH LUẬN vì giữa chúng ta, những người cùng lập trường với nhau, dùng chữ BÀN LUẬN nó nhẹ nhàng và thích hợp hơn là dùng chữ TRANH LUẬN.
Trước kia tôi có thấy có một vài buổi nói chuyện do một vài người thân Cộng (?) tổ chức và có mời vài tên Việt Cộng nói chuyện, nhưng đều bị người Việt Quốc Gia nhất là những người Việt Quốc Gia chống Cộng tẩy chay và phản đối kịch liệt. Có người hỏi rằng: " Tại sao lại tẩy chay? Tại sao mình không tham dự để tranh luận với bọn chúng để vạch ra cho chúng thấy những cái sai, cái xấu, cái tồi tệ của chúng ?"
Thưa qúy anh chị, Tôi không rõ lý do của những người tẩy chay hay phàn đối thế nào. Nhưng riêng tôi, tôi rất đồng ý việc họ tẩy chay, trừ phi cuộc hội thảo ở VN, vì những lý do sau:
1/ Vô ích.
Tại sao tôi lại cho là VÔ ÍCH ? Bởi vì bọn Việt Cộng một khi chúng đã nhận tham dự buổi tranh luận là nó đã có mục đích sẵn rồi. Mục đích của chúng là tuyên truyền. Những lời nói của chúng dù không thể nào tuyên truyền được chúng ta, vì chúng ta đã rõ bộ mặt thật của chúng. Nhưng còn con em của chúng ta thì sao? Đó chính là mục tiêu của bọn chúng đấy. Còn những lời nói của chúng ta thì có ai nghe không? Ở đây, Hoa Kỳ hay bất cứ quốc gia nào, thì chỉ có chúng ta, mà chúng ta thì đã biết rõ rồi, cần gì phải nói. Những người mà chúng ta muốn ho nghe là đồng bào trong nước thì họ đâu có nghe được ? Chỉ còn bọn chúng, những tên Việt Cộng kiên trinh, thì đời nào chúng nghe mình?Rút cục, dù thắng hay thua, buổi thảo luận cũng chỉ là cơ hội để cho bọn Việt Cộng tuyên truyền.
2/ Gây chia rẽ cho Cộng Động Người Việt Hải Ngoại.
Dù có tham dự hay không tham dự, thì cũng có người ý nọ, kẻ ý kia, Rút cục, buổi hội thảo dù thất bại hay thành công, thì Cộng Đồng Người Việt cũng bị chia rẽ thêm.Tóm lại, trừ phi tranh luận với bọn Việt Cộng ở trong nước, chứ tranh luận với bọn Việt Cộng ở đây, thì không khác gì tạo cho chúng cơ hội để tuyên truyền.Tranh luận ở trên diễn đàn với các thành phần VC hay VGCS cũng tương tự như vậ.Chúng ta nên dành hết thì giờ để đánh thẳng vào mục tiêu của chúng ta là bọn Việt Cộng. Xin
kính chúc qúy anh chị Một Năm Mới An Khang và Thịnh Vượng.
LDS
THIỀN, STROCKE VÀ TRÁI TIM
Chu Tất Tiến
***Mt68: Chu Tất Tiến đã "ĐIÊN" thật rồi ! Xưng là "TIẾN SĨ" mà viết chữ STROKE thành ra "STROCKE" ở ngay cái tựa, nếu ở lẫn lộn trong thân bài thì không nói làm gì về lỗi lầm nầy. CTT lấy tài liệu ở đâu đó rồi viết ra như của CHÍNH HẮN đã tận mắt mục kích. Ở phần kết luận CTT làm như chính hắn là CHÁU CỦA EINSTEIN vậy !!!? Điên là cái chắc !!!.. CTT lấy tư cách gì mà biên toa cho cả thuốc nữa ??? Tiến sĩ họ COW vì thiền mà ĐIÊN và nay CTT cũng đã ĐIÊN mà còn kêu gọi THIỀN; Bà con muốn biết thì cứ mau ghi tên thử .../- mt68
Cách đây vài năm, khi tôi đang còn chủ trương một chương trình có tính cách thiện nguyện và phải trang trải và chi tiêu rất nhiều cho chương trình này, trong khi không có sự trợ giúp nào từ phía chính phủ cả, tôi đã suýt bị “stroke” và chấm dứt cuộc đời ở đây, nếu không có Thiền.
Buổi tối hôm đó, tôi đang ngồi ở nhà, lo lắng khủng khiếp về số tiền mà mình phải chi gấp cho tiền nhà, tiền điện thoại, cũng như một số tiền linh tinh khác hầu giữ cho chương trình được tiếp tục, bất ngờ tay chân tôi tự nhiên rung giật khác thường. Mới đầu là rung nhẹ, sau giật liên hồi, không kiểm soát được nữa. Bắp thịt miệng tôi cũng giật luôn. Tôi hốt hoảng, cố gọi người con trai bằng một loại âm thanh đứt quãng của mình. May mắn cho tôi là anh con trai tôi vừa đi ngang qua, nhìn thấy tôi đang rung giật, vội gọi cậu em và hai anh em hốt hoảng chở tôi vào ngay bệnh viện UCI cấp cứu.
Ngay lúc đó, tôi cố gắng kiềm chế không cho tay chân rung giật, nhưng cơ thể tôi đã bắt đầu bất tuân lệnh, tôi đành chấp nhận các cơn run rẩy liên tục. May mắn cho tôi là trí óc còn tỉnh táo.
Trong tình hình nguy kịch ấy, tôi chợt nhớ đến Thiền! Tôi nghĩ chỉ còn phương cách này mà thôi, vì từ nhà đến bệnh viện, khiêng ra khiêng vào cũng bao nhiêu phút, có thể từ liệt đến chết. Nhớ đến điều đó, tôi bình tĩnh ngay và bắt đầu hít thở thật dài, thật sâu. Tôi nhắm mắt lại, mặc cho hai ông con trai lo bế ra xe, nổ máy và chạy đi, tôi chỉ tập trung tư tưởng, và hít thở theo Thiền. Từ từ hít vào bằng mũi, theo dõi hơi thở mình tới bụng, ngưng lại ba giây (đếm thầm 1,2,3), rồi từ từ thở ra, cũng thật chậm. Tôi cứ làm thế, không màng đến ngoại cảnh, chỉ trừ khi bác sĩ hỏi vài câu hỏi thì trả lời, sau đó, thì mặc họ, chụp phim X-Ray tại chỗ, rồi qua MRI, rồi Siêu âm, chích nước biển… Cứ xong một việc, tôi lại nhắm mắt, hít thở. Suốt đêm như vậy, tôi không suy nghĩ gì, để cho óc não thoải mái, không tạp niệm, không run sợ, không lo âu, không phỏng đoán bất cứ điều gì. Trong óc tôi, chỉ có một tư tưởng chạy qua chạy lại: “Bình tĩnh, không nghĩ gì hết, tập trung tư tưởng hít thở. Hít vào…. Nén hơi, 1,2,3… Thở ra… Hít vào….”
Cứ thế, tôi dần dần đi vào giấc ngủ nhẹ nhàng (một phần có lẽ (?) bệnh viện cho tôi thuốc ngủ chăng?) Đến nửa đêm tỉnh giấc, tôi lại tiếp tục hít thở.. Hít vào… thở ra… trong khi tay chân vẫn để xuôi thẳng theo thân người. Rồi lại ngủ. Đến sáng hôm sau, khoảng 11 giờ, thì bác sĩ trực đến, cho tôi biết là chẳng có gì quan trọng cả, chỉ là một cơn “stroke” nhẹ, đã qua khỏi rồi. Tôi hỏi ý kiến ông về việc tôi hít thở, tập trung tư tưởng, hít vào, nén hơi, rồi xả ra.. Ông bác sĩ người Mỹ giật mình, nhìn tôi: “A! Tôi biết rồi! Ông làm đúng đó! Ông đã Thiền để tự cứu mạng mình! Nếu ông không làm như thế, thì bây giờ ông đã gặp khó khăn rồi!” Bác sĩ còn cho biết cơn “light stroke” (Xuất huyết não nhẹ) đến trước, báo động cho cơ thể biết là nó sắp tấn công cơn thứ hai, mạnh hơn và đưa đến tử vong hoặc bại liệt! Nếu tôi tiếp tục lo lắng, sợ hãi, không biết Thiền thì nhất định một cơn nữa sẽ dứt điểm!
Sau này, tôi đọc trên Internet, thấy có lời khuyên của các Y Sĩ là khi có cảm giác sắp bị “nhồi máu cơ tim” (heart attack), thì việc đầu tiên cũng là ho vài cái rồi hít thở thật sâu và thật dài, tối thiểu 10 lần sẽ cứu được mạng. Triệu chứng bị “heart attack” được thể hiện dưới hính thức sau:
-Đau thắt tim.-Cơn đau chạy từ tim đến dưới cánh tay trái. Nói “dưới” nghĩa là cơn đau buốt chạy phía dưới bắp thịt cánh tay trái.-Hơi thở gấp rút, ngắn và giật-Mệt bất ngờ, lưỡi líu lại.-Có thể muốn ói mửa.
Đó là những triệu chứng đầu tiên báo hiệu có thể có một cục máu bầm đang làm tắc nghẽn máu về tim, làm trái tim phải đập mạnh tối đa để làm tròn phận sự của nó là đẩy cục máu ra khỏi chỗ kẹt, nhưng vì không thể làm được chuyện đó, nên tim đành đứng lại.
Cón xuất huyết não, có thể một (hay tất cả) các triệu chứng sau:
-Mệt bất ngờ, lưỡi có thể líu lại, nói lăng nhăng, lắp bắp.-Mất thăng bằng.-Tê liệt một phần thân thể, tê một bên mặt.-Có những cử động bất thường.-Nhức đầu khủng khiếp
Theo nguyên tắc bảo vệ sức khỏe, nếu thấy những triệu chứng này, lập tức gọi cấp cứu, bất kể đang ở đâu, đang làm gì. Tuy nhiên, có rất nhiều trường hợp, việc tự gọi không thực hiện được, vì ở xa máy điện thoại, hoặc tay chân run giật, ngã lăn xuống đất, hoặc đang lái xe… Vậy, phương pháp duy nhất, nhanh nhất và hiệu quả nhất trong khi chờ chữa trị là Thiền.
Thực hiện Thiền rất đơn giản, gồm hai việc: xả bỏ và tập trung hít thở.
-Xả bỏ: lập tức bỏ qua mọi suy nghĩ, lo âu, và tự mình “nói” (trong đầu) với mình là “không nghĩ gì hết, không nghĩ gì hết, không nghĩ gì hết, xả bỏ, xả bỏ, xả bỏ…”
-Tập trung hít thở: Trước hết là nhắm mắt lại, tay chân ở đâu, để đó, hít vào thật chậm, theo dõi hơi thở qua mũi, dồn xuống phía dưới bụng, nén hơi, đếm 1,2,3 rồi từ từ thở ra, theo dõi hơi thở đang đi qua mũi. Cứ thế mà lặp đi lặp lại nhiều lần. Trường hợp đang lái xe, mà thấy có triệu chứng gì bất thường như trên, lập tức tấp xe vào lề đường, bật đèn báo động lên, và nhắm mắt hít thở… Nhất định sẽ tự cứu được mạng sống mình.
Trong cuộc sống hiện tại, là một con người, ai không phải suy nghĩ. Người có cuộc sống đơn giản cũng suy nghĩ về ăn uống, sinh hoạt, nghĩ về gia đình, vợ chồng con cái. Người hay suy tư thì luôn nghĩ về ý nghĩa cuộc đời. Kẻ làm thương mại thì luôn luôn tính toán… Khi suy nghĩ, suy tư, tính toán mà có tìm ra giải pháp, thì cơ thể vẫn chấp nhận được. Các nhà toán học, khoa học, triết học, chính trị gia luôn suy nghĩ. Nhưng nếu cường độ suy nghĩ tăng lên đến một độ cao, hầu như không nghỉ ngơi bất cứ lúc nào mắt mở, (có khi ngủ cũng vẫn suy nghĩ), mà nếu cảm thấy không tìm ra giải pháp, thấy “bí”, cùng đường tắc lối, thì có thể hệ thống thần kinh não bộ chịu không nổi, phải phản kháng lại, và lúc đó, sẽ gây rối loạn, hoặc biến thành trầm cảm, hoặc xuất huyết não. Trước khi biến thành trầm cảm, có thể có một giai đoạn bị “sự kích thích tấn công” (anxiety attack).
Điều này có khi nguy hiểm hơn bị nhồi máu cơ tim, vì nếu bị nhồi máu cơ tim mà chữa được, chỉ việc nghỉ ngơi, ăn uống cẩn thận trở lại, thì hết bệnh. Còn nếu bị “sự kích thích tấn công”, hậu quả sẽ rất lâu dài và khó chữa. Người bệnh luôn nhức đầu, thấy có “cái gì” chạy qua chạy lại trong đầu, tim luôn đập nhanh, ngủ hay giật mình, hoảng hốt, sợ hãi hoài, sợ chết, sợ bệnh, sợ đau, sợ cô đơn, sợ bị vợ chồng, con cái bỏ rơi, sợ mất việc.. và sức khỏe xuống thê thảm. Không còn cử động mạnh và nhanh được, lúc nào cũng nghi tim mình có vấn đề, ăn uống không ngon, mất hứng thú xem phim, nghe nhạc, đọc báo. Nói chung là biến thành trầm cảm, suốt ngày lừ đừ, đặt đâu ngồi đấy, rồi chờ chết! Đi khám bệnh, thì sẽ không thấy toa nào ngoài các toa thuốc an thần, có tính chất gây nghiện. Nếu uống vào thì khỏe, không uống thì nhớ, rồi uống hoài, uống hoài… Ghiền!
Vậy, làm sao trị được hoặc ngăn chặn được hai căn bệnh này mà không dùng thuốc: Thiền!
Nếu phối hợp được với các phương pháp khí công khác, như Yoga, Tài Chi, Hồng Gia, thì sức khỏe sẽ hồi phục nhanh hơn.
Ngoài ra, nếu bệnh nặng, cần thêm rất nhiều Vitamin B1, vì Vitamin B1 làm lợi cho tế bào não, giúp trí nhớ và giúp cho việc suy nghĩ không bị trở ngại.
Tuy nhiên, theo luật Đời và luật Trời, cuộc sống, tự nó, mang rất nhiều giới hạn. Không có gì vĩnh viễn, không có chi gọi là trường tồn. Vậy, muốn sống khỏe với thiên nhiên, cần giới hạn nhiều thứ, nhất là giới hạn suy nghĩ, bởi tế bào não là hệ thống tế bào duy nhất, chết đi rồi thì không sản sinh thêm như các loại tế bào khác. Lớp tế bào da này chết rồi (biến thành “ghét”) thì lớp khác sinh ra.
Còn tế bào não, Trời sinh ra có nhiêu thì xài nhiêu, mình làm mất đi cho công việc rồi thì không có nữa. Nhiều nhà bác học về già thành lẩm cẩm, mất trí nhớ. Khoa học gia Einstein, một hôm ngồi xe lửa, để rơi cái mũ trên đầu gối xuống đất. Một cô gái ngồi bên canh nhặt lên và để lại trên đầu gối ông như cũ. Ông quay qua, cám ơn và hỏi: Cô bé họ gì? Cô bé trả lời: “Dạ, thưa ba, con có họ là Einstein.”
Chu tất Tiến.
LẠI ĐỨC HÙNG CÔNG KHAI RA MẶT LÀM TAY SAI CHO VIỆT CỘNG TẠI SAN JOSE-
VIỆT DŨNG và THÙY DƯƠNG MÀ LÀM MC CHO HỘI CHỢ TẾT VIỆT CỘNG LÀ TỰ TRÉT PHÂN VÀO NGƯỜI ?!
2010/12/17 Truong Vu <vuhtruong@yahoo.com>
Thân gửi anh Huỳnh lương Thiện.
Trước hết cám ơn anh đã chúc Giáng sinh và năm MỚI tới gia đình chúng tôi.
Sau đây tôi muốn nhờ anh liên lạc với SBTN và đài phát thanh Bolsa gấp để phản ảnh giùm tôi một đôi điều.Rất tiếc tôi phải đi ra ngoài tiểu bang mấy tuần lễ vào cuối tuần này.Tôi cũng xin nhờ anh và anh Võ Đại qua các làn sóng phát thanh gửi đến tất cả các Hội Đoàn Người Việt Tỵ Nạn Cộng sản và Đồng Hương vùng Bắc Cali về việc phản đối các tổ chức Hội HOA XUÂN và HỘI TẾT Fairground .
1- Xin đề nghị 2 Mc Việt Dũng và Thùy Dương cancel không làm Mc cho Hội Hoa Xuân vì :
a/-Ban tổ chức có chủ ý tổ chức để khai trương khu thương mại Việt Nam Town là khu mà do đa số bọn doanh gia VIỆT CỘNG đầu tư và Thị Trưởng thành phố SJ ủng hộ vì QUYỀN LỢI theo lương tri thực dụng của người Mỹ (bài học Mỹ bỏ VNCH 30-4-75).
2- Vì lợi nhuận ham vui Lại đức Hùng (con Đại Tá LĐChuẩn) đã cấu kết cùng bọn Việt gian tổ chức HỘI TẾT cho đồng bào vui Xuân để quen đi hình thức Da Beo lẫn lộn Xôi Đậu với bọn lộn sòng Việt Gian.
Chúng ta không thể để Đồng Hương bị mê hoặc lẫn lộn bởi những người từng một thời là bạn,là Người Quốc Gia không đội Trời chung với Việt Cộng nay vì danh lợi nên quay ra làm ăn,tổ chức chung với bọn Việt Gian , tay sai Việt Cộng bán nước,làm cho Đồng hương hoang mang không còn biết phương hướng của Người Việt Quốc Gia ra sao.Chúng ta cần phải tổ chức họp khẩn để :* Gửi thư phản đối đến các đương sự Ban Tổ Chức.* Gửi thư thông báo đến các Ca Nghệ sĩ để họ biết và kêu gọi tẩy chay các buổi trình diễn này.
Qua quảng cáo Ban tổ chức Hội HOA XUÂN muốn đồng hóa 4 Tướng Anh Hùng Dân Tộc cùng sánh với con gái của một tên Phản Tướng (Ng c Kỳ) sao được ? Đem Hình ảnh Tượng hình của Trưng Nhị Vương làm bình phong để phục vụ cho bọn Việt Gian làm tay sai cho bọn VC bán nước cho Tầu mà có thể chấp nhận được sao ?
Thưa quý vị.Không lẽ Người Việt Quốc Gia chúng ta đành chấp nhận làm ngơ trước sức mạnh đồng tiền của Nghị Quyết 36 hay sao đây ? Chúng ta đành lòng đầu hàng để mất phòng tuyến cuối cùng giao cho giặc sao thưa quý vị ???Xin quý vị mỗi người một tay chúng ta cùng nhắc nhau nêu cao quyết tâm phá vỡ âm mưu này của bọn Việt Cộng qua Nghị Quyết 36.
Trân trọng kính chào quý vị.
Vũ huynh Trưởng.
NGÔI MỘ TẬP THỂ VNCH
TẠI QYV QUI NHƠN TRONG NHỮNG NGÀY CUỐI TRƯỚC 30-4-75
Tin Tức về Huyệt Mộ tại Quân Y Viện Qui Nhơn:
Được Anh Dương Công An cho tin về Huyệt Mộ này, đã mấy ngày không thấy tin tức gì về BS Nguyễn Công Trứ, nên chúng tôi nhờ các BS thuộc binh chủng mũ nâu tìm BS Trứ dùm và hôm nay, BS Đức (trước phục vụ trong binh chủng BĐQ) đã cho biết số phone của BS Trứ.Từ Germany, chúng tôi đã phone qua Hoa Kỳ và đã được tiếp chuyện với BS Trứ, theo lời của BS thì huyệt mộ tại QYV Qui nhơn như sau:
- TP Qui Nhơn bỏ ngỏ từ ngày 15.03.1975 - các BS trong QYV đã bỏ đi hết, chỉ còn độc nhất BS Trứ lo cho từ 800 đến 900 thương bệnh binh, nhân viên y tá cũng không còn ai, các Anh Em Quân Nhân chạy vào QYV còn lành lặn đã phụ giúp BS Trứ đủ mọi công việc, khoảng đầu tháng 4.1975, Anh Em cho biết các Tử Sĩ tại nhà xác QYV đã bốc mùi, và chó đã vào nhà xác ăn, gặm các tử thi này, nên BS Trứ đã nhờ khoảng 20 Anh Em Quân Nhân còn sức khỏe phụ với BS Trứ đào một huyệt mộ rất lớn và khá sâu, rồi các Anh Em Quân Nhân khiêng các tử sĩ này đặt xuống huyệt, một số có quan tài và đã phủ QK chờ đem về cho thân nhân, gia đình chôn cất, còn tất cả không có quan tài gì cả, lúc đó «hỗn quân hỗn quan», chỉ lo việc chôn cất nên không có danh sách các tử sĩ này, trong số 47 người trong huyệt mộ có
Đại Tá Thông(**), Trung Đoàn Trưởng TĐ 42, Sư Đoàn 22 BB, Đại Tá Thông tự sát ngoài bờ biển được Anh Em quân nhân đem xác vào QYV Qui Nhơn,
và một quân nhân cùng Tiểu Đoàn PB với Anh Dương Công An, mà anh DCA không còn nhớ tên người quân nhân này.HUYỆT MỘ NÀY TRƯỚC CỬA NHÀ XÁC, DƯỚI CHÂN CỘT CỜ.
Khi VC vào Qui Nhơn, chúng đã bắt BS Trứ và buộc tội làm việc cho CIA vì mọi người đi hết sao chỉ còn một mình BS Trứ ở lại, hơn nữa trong QYV có một thằng VC bị thương được một đơn vị đem gởi điều trị,lại khóa tay tên VC này vào thành giường, BS Trứ không có chià khoá mở còng nên bọn VC càng căm thù BS Trứ, Ông bị tù cải tạo 4 năm 11 tháng, ra tù ông vượt biển tìm tự do và đến Mỹ cư ngụ từ năm 1981.
Cách đây mấy năm, BS Trứ có về thăm Qui Nhơn và thấy QYV vẫn còn, bây giờ bọn bộ đội xử dụng nên BS Trứ chỉ đi phiá ngoài nhìn vào mà thôi.======================================================(**) Đại Tá Thông: Khóa 16 VBQGVN
Wednesday, December 29, 2010
BAN ĐẠI DIỆN CỘNG ĐỒNG VIỆT NAM BẮC CALIFORNIA
P.O. Box: 3143, San Jose, CA 95156-3143
THÔNG BÁO
Về TRUNG TÂM SINH HOẠT CỘNG ĐỒNG
Ban Đại diện Cộng đồng Việt Nam Bắc California xin trân trọng thông báo đến quý bậc trưởng thượng, quý thân hào nhân sĩ, quý hội đoàn, đoàn thể quốc gia và toàn thể quý đồng hương Việt Nam tỵ nạn cộng sản.
Kể từ đầu năm 2010, vì phải đối phó với nhiều khó khăn, Ban Đại diện Cộng đồng Việt Nam Bắc California đã quyết định dời Trụ sở về sinh hoạt chung với Khu Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị tại địa diểm 775 North 10th Street, Suite # 116, San Jose, CA 95112.
Tại địa điểm này Ban Đại diện Cộng đồng đã không thể thực hiện được những kế hoạch phục vụ tiện ích cho đồng hương để có thể gây quỹ sinh hoạt. Trong khi hàng tháng Ban Đại diện Cộng đồng vẫn phải góp phần thanh toán chi phí thuê mướn là: $1,500.00, cộng thêm các chi phí Chương trình Phát thanh hàng tuần mỗi Chiều Thứ Bảy trên làn sóng AM 1500: $200.00/giờ và chi gần $300.00/tháng thuê kho cất giữ tài sản cộng đồng hiện có. Tổng cộng chi phí khoảng $3,000.00 cho một tháng, trong suốt năm 2010 hoàn toàn do sự yểm trợ của các mạnh thường quân. Đến nay nguồn tài chánh đã cạn kiệt, dù rất mong muốn cùng sinh hoạt với Ban Chấp Hành Khu Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Bắc California, Ban Đại diện Cộng đồng Việt Nam Bắc California không có khả năng đóng góp với Khu Hội nên tạm thời không còn Trụ Sở để sinh hoạt.
Ban Đại diện Cộng đồng Việt Nam Bắc California đang liên lạc với Cơ quan Parks, Recreation & Neighrhood Services để điền đơn xin thuê mướn những trung tâm cộng đồng của thành phố hiện bỏ trống để có thể tái lập các sinh hoạt cộng đồng trong thời gian tới.
Ban Đại diện Cộng đồng Việt Nam Bắc California chân thành tri ân về những đóng góp, yểm trợ và tham dự các sinh hoạt của toàn thể quý vị trong thời gian qua. Dù phải đối diện với muôn vàn khó khăn, chúng tôi vẫn quyết tâm theo đuổi lý tưởng quốc gia, yểm trợ các công cuộc đấu tranh cho dân tộc sớm được Cơm No Áo Ấm, Quê hương Việt Nam thực sự có Tự do Dân chủ và Nhân quyền, chúng tôi cũng thiết tha kêu gọi quý vị tiếp tục ủng hộ để chúng tôi có điều kiện cũng như phương tiện để phục hồi, xây dựng và phát triển các sinh hoạt cộng đồng trong thời gian tới.
Trong niềm mong chờ đón mừng năm mới 2011
Kính Chúc Toàn Thể Quý Vị Một Năm Mới 2011
An Khang, Thịnh Vượng và Thắng Lợi
Trân trọng,
San Jose, Ngày 30 tháng 12 năm 2010
TM. Ban Đại diện Cộng Đồng Việt Nam Bắc California
Nguyễn Ngọc Tiên
Giáo sư Nhan Thành
Nhà hiền triết của Việt Nam
*Mai Thịnh
Gần như không có nhiều người biết được giáo sư Nhan Thành với những công trình nghiên cứu về khoa học, vụ trụ và đời sống con người. Sách của ông xuất bản trước 1975 hầu như không còn tìm thấy ở trong cũng như ngoài nước , một phần thất lạc và một phần lớn bị Chính quyền Cộng sản Việt Nam tịch biên và tiêu hủy.
Cách nay hơn 2 năm tôi có cơ may được biết về ông trong một dịp tình cờ gặp lại người bạn đồng môn cũ của Quân trường Thủ Đức VNCH, anh Nguyễn Kim Ngôn.
Theo anh Ngôn cho biết anh đã may mắn biết được Giáo sư Nhan Thành gần 50 năm qua sự giới thiệu của kỹ sư Dương Kích Nhưỡng, người cùng khoá Thủ Đức với anh Ngôn và tôi. Anh Ngôn đã gởi cho tôi một số bản sao sách của Gs Nhan Thành.
Tôi được biết Giáo sư Nhan Thành sau nhưng năm dài nghiên cứu và trầm tư ông đã để lại nhiều tác phẩm quý giá về khoa học, triết lý và đạo đức. Những quyển sách căn bản cho khoa Kinh Luân, do ông sáng tạo, gồm ba bộ môn : Thái Hòa, Quốc Thái và Thái Bình; trong đó ông trình bày từng bước về vũ trụ , về con người và về sự đối xử của người với người để tìm ra chân lý đưa đến giải quyết những xung đột, gây hấn, chiến tranh … giữa các cá nhân, gia đình, đoàn thể hay quốc gia hầu mang đến sự hoà hợp và xây dựng sự yên vui và hạnh phúc vĩnh cữu cho con người.
Theo Nhà báo Võ Long Triều (cựu Tổng trưởng thanh niên của Việt Nam Cộng Hòa năm 1966 ):
Có một lần trong một buổi “học tập cải tạo” của CSVN dành cho các chuyên gia của Chính quyền cũ (VNCH) như GS Vũ Quốc Thúc Tiến sĩ Nguyễn Văn Hảo, Võ Long Triều … .kỹ sư Dương kích Nhưỡng đã công khai chê chủ thuyết cộng sản chưa hoàn chỉnh và giới thiệu quyển sách của tác giả Nhan Thành có thể bổ túc thêm cho lý thuyết Mác-Lê đã làm cho cán bộ VC vô cùng phẩn nộ
( Hồi ký của Võ Long Triều)
Theo anh Nguyễn Kim Ngôn :
Giáo sư Nhan Thành đã lần lượt khám phá nhiều sư kiện khoa học trọng đại trong các ngành Vật lý Thuần Toán,, Sinh học... như Cơ học Vi Bức ( The Vibratory Mechanics); Nguyên nhân Thâm sâu của Động Lực học ( Profound Cause of the Fundamental Laws of Dynamics); Năng lượng Tịch Động ( The Inframotrice Energy ); Nguồn gốc của Vũ Trụ và Sự Sống (The Origin of the Universe and Life); Sinh vật Đóa Trang ( Polyvial Living Being); Luật Tàn phá Chuyền trong Hệ thống các Cấp Sinh vật ( The Law of Successive Destruction in the System of Different Levels of Living Beings)....Các thành quả trên đã được ấn hành thành sách và một số đã được đăng tải trên “Đặc san Khoa học Kỹ thuật” của Hội Khoa học Kỹ thuật Gia Việt Nam trước năm 1975.
Theo Dương Kích Nhưỡng, (cựu Tổng trưởng Công Chánh (1969-1975) , cựu Phó Thủ tướng (4 - 1975 ) của VNCH) :
Tôi được biết Giáo sư Nhan Thành hồi năm 1958, vào dịp Giáo sư xin chánh phủ Việt Nam Cộng hòa trợ cấp để có thể thí-nghiệm thêm về bộ máy ACRA ( l’Accélérateur à Contre-Réaction Accumulée - Bộ máy Tăng Tốc lực bằng Chống Phản lực Dồn ) .
Tôi được giao nhiệm vụ định giá đồ-án Bộ máy ACRA. Do đó, trong suốt năm năm qua, tôi đã xem xét kỹ lưỡng các công trình nghiên cứu khoa học của Giáo sư Nhan Thành, và càng ngày tôi càng thâu thập nhiều bằng chứng xác đáng chứng tỏ cho tôi rằng Giáo sư Nhan Thành là một nhà thông thái lỗi lạc nhứt mà tôi được biết, và còn là một người đã hy sinh đời mình để tìm đem lại cho nhân loại sự Hiểu Biết thự csự.
Đến năm 1960, Giáosư Nhan Thành đã quyết định ngưng việc thực- hiện bộ-máy ACRA, cũng như ngưng việc nghiên cứu về khoa học kỹ thuật, để bắt đầu tập trung nghiên cứu việc sáng lập một ngành khoa học mới : khoa học Nhân luân.
Theo anh Ngôn cho biết thêm :
Khoa Nhân Luân là ngành khoa học, mà theo Giáo sư Nhan Thành, rất thiết yếu cho sự Tồn tại của nền Văn minh hiện tại của Nhân loại, thiết yếu cho Hạnh phúc và sự Tinh tấn của từng Cá nhân, thiết yếu cho sự Thuận thảo Hài hòa trong các mối liên hệ giữa Người và Người, giữa các Giai cấp, các Đảng phái, các Tôn giáo... trong Xã hội, thiết yếu cho sự Thạnh cường của mỗi Nước, và thiết yếu cho nền Thái bình Trường cửu trên toàn Thế giới.
Giáo sư NhanThành nhận định rằng chỉ khi nào Khoa học Nhân Luân đã được phổ biến rộng rải trên toàn Cầu thì việc ứng dụng các sáng kiến lớn về khoa học kỹ thuật, như việc thực hiện “Đồ án Bộ máy ACRA” chẳng hạn, mới chắc chắn không còn bị lợi dụng vào các tham vọng bất chánh để gây ra những thảm họa cho Nhân loại.
Trước năm 1975 , đồng quan điểm trên với Giáo sư NhanThành, Kỹ sư Dương Kích Nhưỡng đã hết lòng trợ giúp Giáo sư NhanThành về nhiều mặt, và đồng thời vận động sự tài trợ của giới khoa học kỹ thuật gia, giúp cho Giáo sư Nhan Thành có thể sớm hoàn thành việc sáng lập ra ngành Khoa học Nhân Luân.
Từ năm 1960 đến năm 1972, Giáo sư NhanThành đã lân lượt hoàn tất việc sáng tác và ấn hành ba bộ môn chánh yếu của ngành Khoa học Nhân Luân: Thái Hòa, Quốc Thái ,và Thái Bình.
Tiếp theo đó, Giáo sư Nhan Thành đã có kế hoạch thành lập “Mặt Trận Quốc Tế Khoa học Nhân Luân”, có chi nhánh tại mỗi Nước trên Thế giới, để phổ biến ngành Khoa học Nhân Luân trên toàn Cầu. Công cuộc trên đã bị ngăn trở bởi Biến cố 30/04/1975.
Giáo sư Nhan Thành đã ở lại Việt Namsau 1975 . Qua sự quan sát tường tận các hành vi sai trái mà Chính quyền Cộng sản Việt Nam gây ra dưới sự điều động thâm hiểm của các Nước Cộng sản đàn anh, Giáo sư NhanThành đã phát hiện ra hàng ngàn chân lý về các sai lầm kinh tế và chính trị của chế độ cộng sản mà Giáo sư đã lần lượt nêu ra dài theo hơn 4000 trang của luận án “Kỹ nghệ và Chế độ”. Cùng thời gian đó, Giáo sư NhanThành đã gởi nhiều bản kiến nghị đến các cấp lãnh đạo trung ương của Chính quyền Cộng sản Việt Nam để yêu cầu họ chấm dứt đường lối cai trị gây quá nhiều thiệt hại cho Dân cho Nước.
Kết quả trớ trêu là vào đêm 24 tháng 9 năm 1985, lực lượng công an Cộng sản Việt Nam đã đột nhập vào tư gia của Giáo sư NhanThành để lục soát và tịch thu toàn bộ sách vở, bản thảo, bút tích, dụng cụ nghiên cứu và thí nghiệm khoa học... tổng cộng hơn 3 tấn, trong đó bản thảo “Kỹ nghệ và Chế độ” là cớ mà Công an CSVN gán cho Giáo sư NhanThành tội danh “Tuyên truyền chống chế độ Cộng sản” và bắt giam Ông vào khám Phan Đăng Lưu hơn hai năm .
Đến năm 1987, Giáo sư NhanThành lâm trọng bệnh và được chuyển đến bịnh viện của khám Chí Hòa. Nơi đây, các y sĩ đã đề nghị Chính quyền CSVN thả Giáo sư NhanThành vì bịnh tình quá trầm trọng.
Sau khi về nhà , Giáo sư NhanThành đã nộp đơn xin Chánh phủ Hoa Kỳ cho sang định cư ở Hoa Kỳ và đã được chấp thuận. Giáo sư NhanThành đã sang định cư ở Texsas Hoa Kỳ vào năm 1989. Năm 1991 Ông đã dời đến Washington DC.
Trong khoảng cuối đời, sinh sống tại Hoa Kỳ, Giáosư NhanThành đã tậptrung vào việc hoàn thành tác phẩm “Đóa Trang và Sự Sống”( ‘Polyvial’ and Life) bằng song ngữ Việt-Anh, khoảng 3000 trang.
“Đóa Trang và Sự Sống” là một bước triển khai chi tiết và cụ thể để soi sáng các ý niệm về Sự Sống, về Sinh vật Đóa trang, về Linh hồn... mà Giáo sư NhanThành đã nêu ra một cách khái quát trong “Thiên cơ Luận”.
Tại Hoa Kỳ, Giáo sư NhanThành đã cho xuất bản 3 tác phẩm song ngữ Việt-Anh: “ Bản Tuyên ngôn Thành lập Mặt Trận Quốc tế Khoa học Nhân Luân”, “ Kinh Trường Xuân” , và “ Phần I của ‘Đóa Trang và Sự Sống’ ”.
Trải qua một thời gian hơn hai năm trong cảnh khắc nghiệt của trại giam Phan Đăng Lưu, khi tuổi đời đã cao, khiến cho Giáo sư NhanThành đã lâm trọng bịnh, nhưng Ông đã phấn đấu với căn bịnh để cố gắng hoàn thành tác phẩm “Đóa Trang và Sự Sống” . Giáo sư Nhan Thành cho biết đó là tác phẩm chứa đựng những sự kiện khoa học vô cùng quan trọng mà Ông muốn lưu lại cho đời.
Sau khi hoàn tất được “Đóa Trang và Sự Sống” và xuất bản được Phần I của tác phẩm nầy, Giáo sư NhanThành đã qua đời ngày 16 tháng11 năm 2006.
Để nối tiếp việc truyên bá tư tưởng của Gs Nhan Thành anh Nguyễn Kim Ngôn, ở Úc Châu, với sự trợ giúp của kỹ sư Dương Kích Nhưỡng ở Hoa Kỳ, đã nhiều năm dài công sưu tầm các tài liệu và sách báo của giáo sư Nhan Thành để có dịp phổ biến lại cho người Việt khắp nơi. Nay anhNgôn đã đánh máy lại toàn bộ sách Kinh Luân (Thái Hòa , Quốc Thái và Thái Bình) gồm 4000 trang lần lượt được phổ biến trên trang điện tử (websites) do chúng tôi thiết lập.
(Xin xem Bức tâm thư của Nguyễn Kim Ngôn sau đây)
Qua websites này độc giả sẽ tìm thấy những bài viết rất hữu ích của giáo sư Nhan Thành đã để lai.
Đây cũng là món quà tinh thần mà anh Ngôn đã tặng cho đồng hương trong dịp Giáng sinh và năm mới.
Xin cám ơn anh Nguyễn Kim Ngôn và xin trân trọng giới thiệu cùng độc giả và thân hữu.
Địa chỉ websites Nhan Thành :
http://nhanthanh.webs.com/
http://dailyviet.com/Nhanthanh.html
Mai Thịnh
Tâm thư
kính gởi Quí vị Thức giả ViệtNam
Kính thưa Quí vị,
Cách nay gần 50 năm, tôi đã may mắn được bắt đầu học hỏi về các công trình nghiên cứu của Giáo sư Nhan Thành về Khoa học Nhân luân và Khoa học Tiện ích. Trong nhiều năm qua, tôi đã cố gắng giới thiệu các công trình khoa học đó đến nhiều bạn hữu vì tôi đã nhận định rằng một khi đã được phổ biến rộng rãi và ứng dụng , sẽ mang lại nhiều điều hữu ích phi thường cho từng cá nhân, cho dân tộc Việt Nam , cũng như cho toàn thể nhân loại.
Hôm nay, tôi xin lập diễnđàn nầy, dưới danh hiệu NhanThành , với mục đích mở rộng việc giớithiệu các công trình nghiên cứu khoa học của Giáo sư Nhan Thành. Tôi sẽ cố gắng lần lượt đăng lên tất cả các công trình đó. Đúng theo ý định của Giáo sư NhanThành, lúc Người còn sinh tiền, tôi sẽ đăng lên các công trình về Khoa học Nhân luân trước, và sau đó, các công trình về Khoa học Tiện ích.
Về Khoa học Nhân luân, tôi sẽ ưu tiên đăng lên khoa Kinh Luân vì đó là phần căn bản của ngành khoa học nầy.
Khoa Kinh Luân gồm ba bộ môn : Thái Hòa, Quốc Thái và Thái Bình. Tổng cộng gần 4000 trang sách mà phải đánh máy lại nên tôi xin lần lượt đăng trên diễn đàn theo trình tự sau :
1) Toàn bộ tác phẩm “Chân lý Khai Tâm” .( Tác phẩm nầy không nằm trong Khoa Kinh luân . Tôi xin trình bày lý do đăng nó lên đây trong phần cuối của bức Tâm thư nầy).
2) Hai chương “Lẽ Phải” và “Trí Khôn” ( Hai khám phá khoa học làm nền tảng cho Khoa Kinhluân).
3) Lần lượt toàn bộ các tác phẩm “TháiHòa Luận”, “QuốcThái” và “TháiBình và Chânlý”.
Một trở ngại lớn cho việc phổ biến Khoa Kinh Luân mà tôi gặp phải là lối viết quốc ngữ cải tiến của Giáo sư Nhan Thành.Vì nó quá mới mẻ nên có gây lướng cướng cho bạn đọc , nhưng tôi mạo muội nghĩ rằng đó là sự cải tiến rất cầnthiết để đưa quốc ngữ của chúng ta ra khỏi tình trạng quá thô sơ hiện nay,tiến lên mức tinh tường của các ngôn ngữ tiên tiến, điển hình là Anh ngữ.
Sự cải tiến quốc ngữ đó gồm 3 điểm sau:
1.- Thêm chữ lái để phân biệt tự loại : tiếng nào là danh từ, động từ, phân từ, tính từ, trạng từ... để câu văn cóthể được phân tích một cách thuần nhứt và phân minh về lý thức ( logic) cũng như có thể sử dụng lối diễn đạt linh động bằng cụm phân từ ( participle phrase) và mệnh đề tính từ ( relative clause ).... Quí vị độc giả đã nhuần về vănphạm của các ngôn ngữ châu Âu chắc sẽ công nhận sự hợp lý và cần thiết của đề nghị tu chỉnh nầy của Giáo sư Nhan Thành.
2.- Dùng một vần mới mà cách đọc tương tợ như vần cũ của một tiếng để phân biệt các trùng âm. Thí dụ : lác (một chứng bịnh của da), lák ( loại cỏ dùng để dệt chiếu), lát ( một miếng mỏng và dài), láđ (một khoảng thời gian ngắn)...Trùng âm có quá nhiều trong quốc ngữ mà chúng ta đang cố giải quyết bằng cách dùng dấu hỏi và dấu ngã, và phải chịu nhiều khó khăn trong việc nhớ dấu hỏi ngã cho các tiếng nôm đơn , tiếng nôm đôi không lấp lái, các ngoạilệ của các tiếng đôi lấp lái và các ngoại lệ về dấu ngã của các từ Hán Việt. Nhưng các trùng âm được phân biệt bằng dấu hỏi ngã chỉ là một số nhỏ so với số trùng âm khác đang có trong tiếng Việt mà chưa có cách để phân biệt. Vả lại, hầu hết đồng bào miền Trung và miền Nam đều đọc không phân biệt được hỏi ngã vì việc phát âm cho hai âm có tần số quá gần nhau giữa ‘âm mang dấu hỏi’ và ‘âm mang dấu ngã’ quả thực không dễ dàng. Tuy nhiên, chúng ta vẫn đang chấp nhận các trở ngại trên trong việc dùng dấu hỏi ngã để phân biệt được một số nhỏ tiếng trùng âm, cốt để cho tiếng Nước ta được phân minh hơn, thì đề nghị của Giáo sư Nhan Thành trong việc dùng một số vần mới để phân biệt một số lượng quá lớn các trùng âm còn lại, cũng với mục đích làm cho tiếng Việt được phân minh hơn, chắc phải được chúng ta xem xét một cách thích đáng.
3.- Dùng lối viết dính lại với nhau cho các tiếng đôi, và dùng gạch nối cho trường hợp cách viết dính gây phân vân cho việc đọc tiếng đôi nào đó. Thí dụ : trườnghợp, canhtân, đẹpđẻ... bác-học, ít-oi, lí-nhí....
Trước kia chúng ta dùng gạch nối cho các từ kép ấy, nhưng hiện nay hầu như dấu gạch nối đã bị dẹp bỏ. Sự kiện nầy sẽ gây khó khăn rất nhiều cho người đọc, nhứt là khi gặp phải các áng văn chứa đựng những ý tưởng và từ ngữ mới, và cho người ngoại quốc học hoặc đọc tiếng Việt.
Lối viết dính hoặc dùng gạch nối cho các từ kép có những lý do chánh đáng về mặt ngôn ngữ học để cho ngôn ngữ được rõ ràng, đã được nêu lên trong luận án về việc tu chỉnh tiếng Việt mà Giáo sư Nhan Thành đã đệ trình lên Bộ Giáo Dục VNCH trước năm 1975.
Các sự tu chỉnh nêu trên đã được tác giả dùng trong tất cả tác phẩm viết bằng quốc ngữ. Tuy mới mẻ nhưng độc giả chưa biết đến các lối tu chỉnh trên vẫn có thể đọc và hiểu dễ dàng bằng cách : a) Không cần chú ý đến các chữ lái. b) Vần mới đặt ra cho từ mới vẫn có phần tương tợ như vần cuả từ trùng âm cũ nên có thể đọc và hiểu dễ dàng. c) Còn lối viết dính hoặc gạch nối chắc chắn sẽ tạo thuận lợi hơn cho bạn đọc sau một thời gian ngắn ngủi làm quen. Ngoài ra, lối viết dính thay vì gạch nối như trước kia sẽ giúp cho việc dùng chương trình viết (Misrosoftword) trên computer khi đánh máy tiếng Việt, được nhanh hơn.
Tôi xin đăng phụ kèm lên diễn đàn này các bài viết của Giáo sư Nhan Thành về các đề nghị tu chỉnh quốc ngữ của Ông , gồm có: 1) Bảng kê các chữ lái và ý nghĩa của các chữ ấy. 2) Vài dấu hiệu để phân biệt các trùng âm. 3) Vài giao kết về lối viết dính.
Tôi cũng kính mời Quí vị đọc bài viết “Quyển Sách Đầu Tiên” mà tôi đăng trên diễn đàn nầy để biết lý do vì sao tôi đăng tác phẩm “Chân lý Khai Tâm” của Giáo sư Nhan Thành chung với ba bộ môn của Khoa Kinh Luân.
Tiếp theo đây, tôi xin mạo muội trình lên Quí vị một số nhận định sau:
Giáo sư NhanThành đã sánglập ra ngành Khoa học Nhân luân mà nồng cốt là Khoa Kinh luân ,với ba bộ môn “Thái Hòa”, Quốc Thái” và “Thái Bình” ,nhằm mục tiêu là bôi xóa đi tất cả mọi thứ tệ đoan trên thế gian nầy: từ các hànhđộng tội lỗi, đồi trụy, cuồng loạn của một số con người, đến những sự gay cấn thù hiềm nhau giữa các cá nhân riêng lẻ, đến các rối loạn do sự tranh chấp giữa các giai cấp và phe phái và các hiện tượng trì trệ lạc hậu trong xã hội các Nước, và sau cùng là các cuộc chiến tranh nóng và lạnh giữa các Nước. Đó là những lưu tệ triền miên trong suốt giòng lịch sử của nhân loại mà bao nhiêu nỗ lực của tôn giáo, của triết gia , của chính giới ... không giải quyết nổi. Ngày nay, với sự phát triển ồ ạt của khoa học kỹ thuật và sự gia tăng nhanh chóng về nhân số trên thế giới, các căn bịnh trên ngày càng trở nên càng nguy kịch. Nền vănminh hiện tại càng mất quân bình trầm trọng giữa tinh thần và vật chất,và đang có nguy cơ bị sụp đổ.
Tôi đã nghiền ngẫm Khoa Kinh Luân trong gần nửa thếkỷ qua và ngày càng tin tưởng rằng đó là giải pháp duy nhứt có thể xóa tan tất cả những tệ nạn trên và sẽ mang lại cho thế giới nầy những điều mà nhân loại từ bao thế kiếp hằng thiết tha mơ ước : mọi người luôn tinh tấn trên con đường giải thoát, sống trong tình thương yêu thắm thiết giữa người và người với những mối thân tình cao đẹp , cùng nhau vui hưởng cảnh quốc thái dân an và thế giới thái bình...
Con đường mà Khoa Kinh Luân đưa toàn thể Nhân loại đến Thời đại Hoàng kim Vĩnh cửu đó, gồm các giai đoạn sau :
A.—Quá khứ :
1) Giáo sư Nhan Thành sáng lập ra ngành Khoa học Nhân luân mà nền tảng là Khoa Kinh luân với ba bộ môn “ Thái Hòa”, “Quốc Thái” và “Thái Bình”, đồng thời vạch ra Kế hoạch phổ biến Khoa nầy trên toàn thế giới bằng Mặt trận Quốc tế Khoa học Nhân luân. ( Mời xem Bản Tuyên ngôn Thành lập MTQTKHNL trên diễn đàn nầy).
2) Dân tộc Việt Nam hiện diện đông đảo ở khắp nơi trên thế giới.
B.-- Hiện tại :
3) Diễn đàn Nhan Thành nầy được mở ra.
C.-- Tương lai :
4) Các Bậc Thức Giả Việt Nam trên khắp thế giới, qua Diễn đàn NhanThành , nhận thức được giá trị cứu thế của Khoa Kinh Luân, đồng tâm hiệp lực thành lập Mặt trận Quốc tế Khoa học Nhân luân, có chi nhánh trên tất cả các Nước trên thế giới.
5) Chi nhánh Mặt trận Quốc tế Khoa học Nhân luân tại mỗi Nước chuyển dịch Khoa Kinh Luân ra ngôn ngữ địa phương để phổ biến.
6) Mặt Trận Quốc tế Khoa học Nhân luân kêu gọi Dân tộc Việt Nam cải cách quốc ngữ theo các đề nghị của Giáo sư Nhan Thành.
7) Mặt trận Quốc tế Khoa học Nhân luân vận động cho Tiếng Việt cải cách được toàn thế giới công nhận là ngôn ngữ lót của thế giới vì nó có được những đặc điểm ưu việt về phương diện ngôn ngữ và các phương diện khác, mà Giáo sư Nhan Thành đã nêu ra trong chương “Cứutinh và Đại chúng” của tác phẩm “Quốc Thái” .(Mời xem phần trích đăng “Ngôn ngữ lót của thế giới” trên diễn đàn nầy).
8) Khoa Kinh luân với ba bộ môn “ Thái Hòa”, Quốc Thái” và “Thái Bình” được phổ biến và ứng dụng sâu rộng khắp nơi , đem lại hiệu quả là Thời đại Hoàng kim Vĩnh cửu, mà nhân loại hằng mơ ước, trở thành hiện thực.
Sau cùng, tôi xin được bày tỏ đôi chút tâm tình cùng Quí vị: tôi đã nỗ lực nhiều và được sự trợ giúp nhiệt tình của bạn hữu nên giờ đây mới có thể tuần tự trình đến Quí vị những thành quả của suốt cuộc đời tận tụy nghiên cứu khoa học của Giáo sư Nhan Thành . Lòng say mê khoa học kết hợp với tình yêu thương bao la đối với Dân tộc và Nhân loại, đã giúp Giáo sư hoàn thành đươc các công trình khoa học kỳ diệu đó. Tôi thành khẩn mong ước rằng trí phán đoán sâu sắc, tính cẩn trọng và kiên nhẫn của Bậc Thức giả nơi Quí vị sẽ giúp cho ánh sáng chân lý của các công trình khoa học đó có thể sớm rạng tỏa khắp phương, hầu xóa đi kịp thời bóng tối bi thảm đang bao phủ hiện tại và tương lai của Đất Nước Việt Nam, cũng như của toàn Thế giới.
Trân trọng kính chào Quí vị.
Nguyễn Kim Ngôn
Adelaide, ngày 15 tháng 03 năm 2010.
Bút Ký:
VÀI BIẾN CỐ ÐÀNG SAU MẶT TRẬN TÂY NGUYÊN 1975
Trung tá Ngô Văn Xuân
(Nguyên Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 44 Sư Ðoàn 23 Bộ Binh)
LTS. Để tìm hiểu thêm biến cố Ban Mê Thuột, một biến cố đưa đến mất toàn bộ miền Nam VN, chúng tôi đã cố gắng phỏng vấn nhiều nhân vật liên hệ trực tiếp việc chỉ huy mặt trận này. Hôm nay chúng tôi xin đăng lời tường thuật của Trung tá Ngô Văn Xuân, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 44 của Sư đoàn 23 Bộ binh, người được lệnh đưa Trung đoàn 44 về giải cứu Ban Mê Thuột sau khi thị xã này bị VC xâm chiếm.
Trung tá Ngô Văn Xuân xuất thân khóa 17 trường Võ Bị Quốc gia Đà Lạt đã từng giữ chức vụ Đại đội trưởng Trinh sát thuộc Trung đoàn 11 Sư đoàn 7 Bộ binh, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 44 của Sư đoàn 23 Bộ binh, Trưởng phòng Hành quân Sư đoàn 23 và cuối cùng là Trung đoàn Trưởng Trung đoàn 44 Sư đoàn 23. Trong chiến đấu, ông đã 3 lần bị thương và sau khi VC chiếm miền Nam, ông đã bị đi cải tạo 13 năm. Ông đến Hoa Kỳ theo danh sách HO vào tháng 4/1992 và hiện đang cư ngụ tại vùng Bắc Cali. Theo lời yêu cầu của chúng tôi, ông đã ghi lại một số biến cố mà ông biết liên quan đến mặt trận Ban Mê Thuột năm 1975. Chúng tôi hy vọng rằng bài này sẽ góp phần hữu ích vào việc tìm hiểu lý do đưa đến sự thất thủ Ban Mê Thuột.
* * * * *
Mới dó mà cũng hơn 20 năm trôi qua. Những nắm xương tàn của hàng vạn sinh linh giờ đây cũng đã trở thành cát bụi. Những suối máu của họ cũng đã kiệt khô, tô thêm màu mỡ cho mảnh đất quê hương. Những người đã một thời theo vận thời cuộc, nhảy ra nắm chính quyền hay xưng hùng xưng bá, thực hiện những mưu đồ chính trị, khuynh loát...giờ đây đa số cũng đã lần lượt nằm xuống. Cái khoảnh khắc huy hoàng của họ mà đôi khi họ cứ tưởng như sẽ miên viễn trường tồn, thực chất chỉ là một đốm lửa rơm trong kiếp nhan sinh dằng dặc. Trong lịch sử dân tộc ta, có lẽ không có giai đoạn nào xót xa, đau tủi cho bằng những diễn biến trong ngót nửa thế kỷ vừa qua. Cuộc chiến tranh chống thực dân giành độc lập vừa kết thúc thì lập tức một cuộc chiến khác lại nổ rạ Dưới cặp mắt của các chính trị gia hay các nhà sử học, cuộc chiến thứ hai này được gán cho nhiều cái tên khác nhau, nào là chiến tranh giải phóng dân tộc, chiến tranh nổi dậy, chiến tranh chống xâm lăng, chiến tranh tự vệ, chiến tranh ý thức hệ... nhưng trong ký ức những người bình thường, hình ảnh chết chóc đau thương của những người nằm xuống đều gây xúc cảm nơi những người liên hệ xa gần như thân nhân ruột thịt, bà con, bạn hữu, làng xóm...hay nói rộng ra, nơi đồng bào của chính họ.
Đã có lúc những người CSVN xưng tụng cuộc chiến ấy như một thành tích lẫy lừng nhất trong lịch sử. Thậm chí còn đem những thành tích đó ra so sánh với cả những chiến công khác của cha ông như chiến công diệt Minh, trừ Nguyên trong lịch sử. Rất may, cơn sốt nhiệt cuồng rồ dại ấy chẳng kéo dài được bao lâu. Thời gian đã chỉ cho họ những bài học khôn ngoan hơn. Giờ đây, một số người thức tỉnh dần dần nhận ra, hoặc đã nhận ra từ lâu giờ đây mới dám nói, tính chất vô nghĩa của những thành tích đó.
Về phía những người Quốc gia, một số hồi ký, ký sự cũng gợi lại những kỷ niệm của 1 thời binh lửa ngút trời trên quê hương. Cuộc chiến ấy đã được nhìn từ nhiều góc độ khác nhau, trực tiếp có, gián tiếp có, xa có, gần có, thực có, giả có... Hy vọng rằng phương thuốc thời gian sẽ chữa lành cho cả dân tộc ta vết thương đau, nhức nhối đã kéo dài trong tâm thức của mọi con dân VN trong gần nửa thế kỷ qua.
Bài viết này của một chứng nhân trong cuộc chiến tàn khốc vừa qua, chỉ nhằm ghi lại đôi điều mắt thấy tai nghe để làm sáng tỏ thêm một số bí ẩn của lịch sử. Cảm hứng gợi ra cho bài viết này bắt nguồn từ khi đọc những hồi ký là 2 cuốn sách “Đại thắng mùa Xuân” của Văn Tiến Dũng và cuốn “Tướng Phạm Văn Phú và những trận đánh từ Điện Biên Phủ 1954 đến Ban Mê Thuột 1975” của Phạm Huấn, trong đó có rất nhiều điều cần được hiệu đính hay nói thêm.
1. Thực trạng sau Hiệp định ngưng chiến
Mặt trận Cao nguyên chưa bao giờ ngưng tiếng súng kể từ ngày Hiệp định Paris được ký kết vào ngày 27/1/73 và có hiệu lực ngày 28/2/73. Người viết bài này, lúc đó là Trưởng phòng Hành quân Sư đoàn 23 Bộ binh. Sự khác biệt, nếu có, trước và sau ngày chấm dứt cuộc chiến là chỗ này: Trước Hiệp định, tên của các cuộc hành quân là Biên Trấn 1, 2, 3..., sau khi đình chiến các tên này được đổi thành Hoà Bình 1, 2, 3...
Mức độ ác liệt của chiến tranh có giảm đi đôi chút, nhưng sự thương vong thì chẳng ngày nào không có. Đối diện với tuyến phòng thủ của ta là những cán binh CS. Lúc đầu chúng còn di chuyển lén lút, về sau bớt lén lút dần, thậm chí có khi chúng còn nói với qua xin 1, 2 điếu thuốc hay xin cho nghe một bản nhạc vàng! Những đơn vị địch khác không nằm trên tuyến thì luôn tìm mọi các xâm nhập như đóng chốt trên các trục giao thông, lấn chiếm các khu vực hẻo lánh. Còn các đơn vị trừ bị của ta thì lo phá chốt, tái chiếm các vùng bị địch xâm nhập! Cuộc chiến tranh nửa nạc nửa mỡ này thực sự trở nên khó chịu hơn, khi sự ràng buộc bởi Hiệp định ngày càng trở nên rõ ràng. Ở tiền tuyến, đạn dược và tiếp liệu bị cắt giảm không thương tiếc. Những tính toán theo kiểu con buôn được đem ra áp dụng. Mỗi loại vũ khí đều có “cấp khoản”. Số đạn được phép xử dụng trước biến đổi hàng tháng, sau xuống hàng tuần. Ví dụ mỗi khẩu pháo 105 ly của Tiểu đoàn Pháo binh Sư đoàn sau Hiệp định Paris chỉ có quyền, áp dụng cho cả 2 phía Quốc Cộng, đặc biệt “bắn” 8 quả đạn/ngày, đến giai đọan trước khi các trận đánh Cao nguyên thì giảm xuống còn 3 quả/ngày. Dần dần đến đạn súng nhỏ, xăng, dầu ... Nhìn về hậu phương, những bất ổn về chính trị xảy ra hàng ngày, những cuộc biểu tình của hàng chục đoàn thể, phong trào đòi đủ thứ quyền... Trong bối cảnh như vậy, chẳng cần phải là một chính trị gia có trình độ cao siêu gì, cũng có thể nhìn ra một hậu quả chẳng mấy tốt đẹp cho một tương lai gần.
Tôi còn nhớ tháng 10/1973, một phái đoàn DAO của Tòa Đại sứ Mỹ đến thăm Bộ Tư lịnh Sư đoàn 23 tại Ban Mê Thuột, sau khi nghe thuyết trình về địch tình, về tình hình tiếp liệu của đơn vị, viên Đại tá Trưởng đoàn đã nhắn nhủ:”Quí vị sẽ phải đối đầu với VC trong một tình hình khó khăn hơn về tiếp liệu trong tương lai. Những viện trợ về tiếp liệu sẽ ngày càng giảm nhiều hơn, và vì vậy, chúng tôi yêu cầu quí vị nên nghiên cứu những phương thức điều hành thích hợp để đối phó khi cần, kể cả những lúc chúng tôi không thể chuyên chỡ sang cho quí vị đúng thời hạn!”. Những đề nghị của Sư đoàn chỉ tóm gọn trong vấn đề tiếp liệu, và viên Trưởng phái đoàn cũng chỉ ghi nhận trong tinh thần...rất ngoại giaọ
Kể từ năm 1972 trở đi, mùa hè nào trên Cao nguyên cũng đều là “Mùa hè đỏ lửa” cả! Các cuộc hành quân, đánh phá được ngụy trang dưới những hình thức hay tên gọi khác nhau cho phù hợp với tình hình chính trị mớị Những người lính chiến của QLVNCH thực sự chưa có một ngày nào hít thở không khí hòa bình do các nhà chính trị đã ký kết với nhau sau hơn 4 năm bàn thảo, cãi cọ bàn vuông bàn tròn!
2. TT Thiệu ăn Tết ở Cao nguyên Tháng 7/1974, tôi rời Phòng 3 Sư đoàn ra đảm nhiệm chức vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 44 thay thế Trung tá Nguyễn Hữu Lữ. Như thường lệ, hàng năm mỗi độ xuân về, TT Thiệu lại đi thăm một số đơn vị đang tác chiến và dùng cơm với các đơn vị nàỵ Tết Ất Mão năm ấy, đơn vị của tôi được Quân đoàn chỉ định là đơn vị dón tiếp TT. Trung đoàn của tôi có trách nhiệm phòng thủ trên tuyến vòng đai, các tỉnh lỵ Pleiku khoảng 20 km hướng Tây Bắc. Bộ Chỉ huy đóng tại căn cứ 801. 2 tiểu đoàn tác chiến án ngử trên phòng tuyến, một tiểu đoàn trừ bị cùng với 1 chi đoàn chiến xa M48 tại căn cứ. Các biện pháp an toàn tối đa được hoạch định để tránh các sự rủi ro, nguy hiểm cho bữa cơm đầu năm của đơn vị có TT tới tham dự. Bởi đây là một căn cứ hành quân dã chiến, không có hầm hố kiên cố mà lại luôn nằm trong tầm pháo các loại của địch, nên các tin tức liên quan tới bữa cơm được giữ kín cho tới lúc quan khách đến.
Đúng 12 giờ trưa, sau khi rời Bộ Tư lịnh Quân khu 2, chiếc trực thăng chở quan khách đáp tại căn cứ của chúng tôị Tướng Lê Trung Tường, Tư lịnh Sư đoàn 23, và tôi ra đón. Thành phần phái đoàn gồm TT, các Tướng Trung, Khang, Phú, các tùy viên và cận vệ. Tôi đưa các vị quan khách vào phòng họp hành quân của Trung đoàn. Mở đầu là phần thuyết trình của Trung tá Điều Ngọc Chuy, Trưởng Phòng 2 Sư đoàn 23 về tình hình chung của các khu vực có trách nhiệm đang do Sư đoàn trấn giữ. Đặc biệt trong cuộc thuyết trình này, Trung tá Chuy có nhấn mạnh đến chi tiết về cung từ của một tù binh CS thuộc Sư đoàn 320 do Trung đoàn 45 bắt được. Tù binh này nguyên là một hạ sĩ quan truyền tin, tên là Sính, khi ra đầu thú đã khai là sĩ quan. Thực sự quân hàm của anh ta chỉ là Thượng Sĩ. Có điều đặc biệt là với chức vụ truyền tin, anh ta biết khá nhiều về các kế hoạch hành quân của đơn vị anh và một số đơn vị phối hợp. Anh ta xác quyết Mặt trận B3 sẽ tấn công Ban Mê Thuột! Kế hoạch hành quân bao gồm 4 sư đoàn bộ binh mà anh ta biết chắc 3 đó là Sư đoàn F10 và Sư đoàn 968 chính thống thuộc Mặt trận B3, Sư đoàn 320 và 1 Sư đoàn từ Lào kéo sang không biết rõ phiên hiệu (sau này ta mới biết đó là Sư đoàn 316 CSBV). Hợp đồng tác chiến còn có 1 Trung đoàn chiến xa, 2 Trung đoàn pháo, 1 Trung đoàn Đặc công. Thậm chí đến cả kế hoạch tấn công vào thị xã Ban Mê Thuột anh cũng phác họa ra khá chính xác, từ hướng tấn công đến các mục tiêu ưu tiên phải tấn chiếm, v.v...
Đến phần thuyết trình của tôi, tôi cũng nêu bậc sự kiện điều quân hiện đang diễn ra giữa 2 Sư đoàn 320 và Công trường 9 từ chiến trường Phước Long kéo lên. Tôi cò nhớ rất rõ nét đăm chiêu của TT Thiệu và đại lược những chỉ thị của ông. Ông quay lại hỏi ý kiến Tướng Phú thì Tướng Phú nhận định rằng có thể VC đưa ra một kế trá hàng nhằm đánh lạc hướng chú ý của ta, theo ông, Pleiku là điểm, ban Mê Thuột chỉ là diện, bởi vì Pleiku có cơ sở đầu não là Bô Tư lịnh Quân đoàn 2. Nếu địch tiêu diệt được cứ điểm này chúng dễ dàng làm chủ được toàn bộ khu vực cao nguyên hoặc tỏa xuống khu vực duyên hải, nối liền với 2 vùng biên giới, để tạo cho việc tiếp liệu dễ dàng từ miền Bắc. TT Thiệu suy nghĩ trong giây lát, rồi ra lệnh cho Tướng Phú lúc đó đứng kế bên
- Anh Phú cho toàn bộ Sư đoàn 23 trở về Ban Mê Thuột, tăng cường cho anh Tường một chi đoàn M48. Dù sao, địa thế Pleiku cũng là khu vực trống trải, bao gồm nhiều đồi thấp và trọc, có tầm quan sát rộng, bây giờ lại là mùa khô, anh có thể sử dụng tối đa phi pháo và chiến xa để đánh chiến xa và bộ binh địch, nếu chúng dám đưa quân ra đương đầu với anh trên khoảng trống! Ngoài ra, tôi sẽ tăng cường cho anh thêm 1 Liên đoàn Biệt động quân để làm lực lượng trừ bị.
Tướng Phú trả lời :
- Vâng, tôi sẽ thi hành theo kế hoạch của TT chỉ thị.
Sau đó TT Thiệu quay qua Tướng Tường và nói :
- Khi anh trở về Ban Mê Thuột, phải tổ chức ngay lại hệ thống phòng thủ vòng đai thị xã và lập kế hoạch chống xe tăng địch. Ngoài ra, anh cũng phải tổ chức các cuộc hành quân vùng sát biên giới thuộc Quận Đức Lập. Để tránh các rắc rối về ngoại giao với Cam-bốt, chỉ nên tung các toán hoạt động viễn thám qua vùng biên giới mà thôị Nếu phát hiện địch thì dùng phi pháo mà tiêu diệt.
Sau phần thuyết trình, tôi hướng dẫn phái đoàn lên tham dự bữa cơm thân mật được tổ chức ngoài trời, gồm khoảng gần 100 binh sĩ, hạ sĩ quan, sĩ quan thuộc 2 đơn vị Tiểu doàn 3/44 và chi đoàn 2 chiến xa M48. Trong bữa cơm, TT có phàn nàn về các cuộc biểu tình đánh phá của các đoàn thể chính trị hiện đang diễn ra hàng ngày tại Saigon. Ông đặc biệt nhấn mạnh đến phong trào tố tham nhũng của linh mục Trần Hữu Thanh đang làm suy giảm uy tín của các cấp lãnh đạo đất nước. Tôi còn nhớ ông nói ông ao ước giá mà có được những vị linh mục chống cộng cương quyết kiểu như cha sở khu Hải Yến và một vị cha sở nào đó ở Tây Ninh mà tôi quên tên, thì đỡ biết mấy! Sau bữa cơm, ông đi thăm 1 vòng chu vi phòng thủ, nói chuyện thân mật với các binh sĩ trong các hầm hố cá nhân. Phái đoàn lên trực thăng rời khỏi khu vực trách nhiệm của chúng tôi vào lúc 2 giờ chiều cùng ngàỵ Hôm đó là ngày mồng 1 Tết Âm Lịch, nhằm ngày 1/2/1975.
3. Chuẩn bị trở về Khi chiếc trực thang chở TT đi rồi, Tướng Tường, Tư lịnh Sư đoàn còn ở lại họp cùng Bộ Chỉ huy Trung đoàn 44 để chuẩn bị kế hoạch thay quân và rút quân khỏi khu vực trách nhiệm của Trung đoàn. Tư+ởng cũng nên nhắc lại việc phối trí lực lượng của Sư đoàn 23 lúc đó như sau :
- Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 Hành quân đóng ở Hàm Rồng. - Trung đoàn 44 đóng tại căn cứ 801, cách tây Bắc Pleiku 20 m. - Trung đoàn 45 hành quân khu vực đèo Tử Sĩ nằm giữa Buôn Hô và Hàm Rồng, dọc theo 2 bên quốc lộ 14.
- Trung đoàn 53 có 1 tiểu đoàn đang hành quân vùng Đức Lập, trong vùng tiếp giáp giữa tỉnh Quảng Đức và tỉnh Đắc Lắc. Bộ Chỉ huy Trung đoàn này và 2 tiểu đoàn còn lại đóng tại phi trường Phụng Dực, Ban Mê Thuột, là lực lượng trừ bị của Sư đoàn.
Tin trở về lại Ban Mê Thuột thực ra không gây nên những phấn khởi lớn đối với các quân nhân thuộc Trung đoàn 44, bởi vì đa số binh sĩ của Trung đoàn có gia đình và thân nhân ở Phan Thiết. Những tin này chắc chắn là nỗi vui mừng lớn cho Trung đoà 45, một đơn vị thường trú từ ngày thành lập ở Ban Mê Thuột. Những cuộc hành quân liên tục trong suốt thời gian từ năm 1972 đến hôm đó trên lãnh thổ các tỉnh Pleiku, Phú Bổn và Kontum đã làm cho nỗi nhớ nhà của các binh sĩ Trung đoàn này thêm khắc khoải, nhất là vào thời gian này, khi cái hương vị Tết vẫn còn thoang thoảng baỵ Nhưng mãi tới ngày 17/2/75, tôi mới có lệnh về họp tại Bộ Tư lịnh (BTL) Sư đoàn để nhận chi tiết kế hoạch di chuyển. Theo kế hoạch này, BTL Sư đoàn sẽ đi bằng xe từ Hàm Rồng, khi ngang qua đèo Tử Sĩ, Trung đoàn 45 sẽ tháp tùng theọ Trung đoàn tôi sẽ được 1 Liên đoàn Biệt động quân thay thế. Theo ước tính, Liên đoàn này sẽ đến khoảng 3 ngày saụ Sau khi bàn giao khu vực trách nhiệm, Trung đoàn tôi cũng sẽ tiếp tục trở về Ban Mê Thuột cùng với một chi đoàn chiến xa M48 của Thiết đoàn 20.
Cuộc họp hàh quaân kéo dài không lâụ Khi rời phòng họp, tôi chợt nhìn thấy những sự tất bật, rộn ràng của mọi người trong khuôn viên BTL. Thấy những khuôn mặt rực rỡ niềm vui về cuộc trở về sắp tới, những câu nói đùa bỡn, những nụ cườị..tôi cũng cảm thấy lòng mình rộn ràng. Gia dình tôi, vợ tôi và 4 cháu cũng đang ở Ban Mê Thuột. Hơn 1 năm rồi, tôi có ghé về thăm nhà đôi lần, mỗi lần không quá 1 tiếng đồng hồ. Kể từ 6 giờ sáng ngày 18/2/75, đơn vị tôi được đặt trở lại dưới hệ thống chỉ huy trực tiếp của BTL Quân đoàn 2. Cũng từ lúc ấy, BTL Sư đoàn 23 tháo gỡ hệ thống truyền tin.
Tám giờ sáng ngày 18, đoàn xe vận chuyển đã có măt đầy đủ tại doanh trại Hàm Rồng. Công việc chất hàng khá gọn lẹ. Đến 10 giờ sáng, qua hệ thống truyền tin vô tuyến, tôi được biết đoàn xe đã sẵn sàng di chuyển.
Tướng Tường lên trực thăng chỉ huy, bay vào Trung Đoàn tôi để dặn dò các chi tiết cuối trước khi lên đường, lúc đó là 10 giờ 15. Chúng tôi đang ngồi họp tại Trung Tâm Hành Quân của Trung đoàn thì có điện thoại của Tướng Phú yêu cầu Tướng Tường trở về gặp ông gấp tại Bộ Tư Lịnh (BTL) Quân đoàn 2. Tôi đưa Tướng Tường ra trực thăng giã từ.
11 giờ đoàn xe vẫn không nhúc nhích.
11 giờ 15, Trung Tâm Hành Quân của Quân đoàn ra lịnh Trung đoàn 44 trở về hệ thống chỉ huy trực tiếp của Sư đoàn 23. Tôi quay điện thoại gặp Thiếu tá Phạm Văn Cẩm, Trưởng phòng 3 Sư đoàn. Tiếng Cẩm càu nhàu :”Lệnh di chuyển hủy bỏ rồi, niên trưởng ơi! Ai trở về nhà nấy, làm ăn như thường lệ!”. Bất giác tôi buông một câu chửi thề và tự hỏi : Thế là thế nào?
12 giờ trưa, Tướng Tường gọi điện thoại cho tôi biết, Tướng Phú giữ nguyên lập luận của mình, cho rằng Pleiku là điểm, Ban Mê Thuột chỉ là diện. Sự tái phối trí lực lượng do vậy là không cần thiết.
Nói cho ngay, mỗi vị Tư lịnh có những phán đoán riêng tư của mình. Khi có đươc những dữ kiện tình báo chính xác, vị chỉ huy có thể đề ra những đối pháp khẳng định không do dự. Ở đây, những tin tức thu lượm được giá trị không cao bao nhiêu, nếu như không muốn nói là còn cần phải kiểm tra và phối kiểm từ nhiều nguồn khác nhau, nên vấn đề xây dựng các quyết định lại càng khó khăn hơn. Lại nữa, Tướng Phú mới tới nhậm chức chưa bao lâu, thời gian chưa đủ để ông có thể cảm nhận tình hình một cách sắc bén hơn. Nếu cho tôi quyền nhận xét, tôi thấy Tướng Toàn có nhiều quyền biến hơn. Về phương diện thuần túy quân sự, Tướng Toàn đảm lược, cơ mưu và có những quyết định táo bạo hơn. Tôi vẫn tin là nếu Tướng Toàn còn ở lại chức vụ Tư lịnh Quân đoàn 2, những chỉ thi của TT Thiệu sẽ được thực thi một cách đúng đắn. Dĩ nhiên trận đánh Ban Mê Thuột sẽ vẫn xảy ra, nhưng trận Ban Mê Thuột không phải là trận đánh bất ngờ như Tướng Hoàng Minh Thảo đã tưởng tượng, những hoảng loạn sẽ không xảy ra, và biết đâu, kế hoạch rút quân tự sát theo liên tỉnh lộ 7 sẽ không còn cần thiết nữa?
4. Một chuyến đi tuyệt vọng Bốn giờ sáng ngày 10/3/75 trận đánh Ban Mê Thuột mở màn. Thiếu tá Cẩm điện thoại cho tôi biết ngay sau đó. Không bao lâu, mọi đường dây liên lạc với Ban Mê Thuột không còn. Nửa đêm về sáng, trên Cao nguyên thời tiết thường se lạnh, sương trắng bao phủ đầy trờị Tôi ngồi trong hầm chỉ huy, chăm chú nhìn các chi tiết địch tình ghi trên bản đồ. Chú em cận vệ bưng ra 1 ly cà phệ Ban Mê Thuột sẽ mất, tôi tự nghĩ như thế. Điều suy nghĩ này bắt nguồn từ những dữ kiện tôi có được sau hơn 1 năm làm Trưởng Phòng 3 Sư đoàn 23, mà tỉnh Đắc Lắc nằm trong lãnh thổ kiểm soát và hành quân của Sư đoàn. Những đơn vị Địa phương quân hầu như đa phần là ngươi Thượng, khả năng tác chiến rất kém vì thiếu huấn luyện. Họ được trang bị thô sơ và có ý thức kỷ luật quân đội rất kém. Về địa thế, Ban Mê Thuột khác hẳn Kontum. Ban Mê Thuột không có những chướng ngại thiên nhiên để dựa vào, hạn chế bớt khả năng xâm nhập của chiến xa hoặc bộ binh địch. Ngoài ra, với hàng trăm đồn điền cà phê tươi tốt, địch có che dấu, ngụy trang cho cả quân đoàn của họ một cách an toàn. Rõ ràng nơi đây là nơi lý tưởng cho các cuộc tiến quân áp sát của địch. Với 1 lãnh thổ rộng hơn tỉnh Kontum rất nhiều, lại do các đồn bót của Địa phương quân nằm rải rác trấn giữ, quân số thực tế của các đơn vị này luôn thấp hơn nhiều so với tên trên số lương. Ban Mê Thuột trở thành một căn cứ không còn vòng đai phòng thủ theo đúng nghĩa quân sự. Thành ra, việc thất thủ Ban Mê Thuột không phải là điều đáng hãnh diện như những lời tự mãn khoe khoang của các tướng lãnh VC qua các hồi ký của họ.
Sự chờ đợi bao giờ cũng làm thời gian trôi chậm lại. Mãi gần 7 giờ sáng mặt trời mới thật sự xua tan được mây mù. Tôi gọi điện thoại cho Thiếu tá Cẩm để tìm hiểu thêm tình hình. Chẳng có gì khả quan hơn. Cẩm nói với tôi phải chờ thời tiết khá hơn rồi sẽ cùng Tướng Tường bay lên quan sát tình hình. Gần 9 giờ sáng, chiếc trực thăng chỉ huy của Tướng Tường mới cất cánh được. Hình như tôi đã uống tới ly cà phê thứ 3 hay thứ 4 gì đó.
Suốt ngày hôm đó, trực thăng chỉ huy của Tướng Tường bay trên vùng trời Ban Mê Thuột. Mãi tới 7 giờ tối tôi mới nói chuyện được với Thiếu tá Cẩm qua điện thoạị Tiếng Cẩm xúc động :”Ban Mê Thuột bị tràn ngập rồi, không còn liên lạc được gì với Đại tá Quang, Tư lịnh phó nữa. Tướng Tường đang ở BTL Quân đoàn 2, họp bàn về lệnh lập kế hoạch giải tỏa”.
Ngay trong thời điểm ấy, tôi không tin là có thể làm gì hơn cho kế hoạch nàỵ Nguyên tắc quân sự cơ bản :”Phòng thủ 1 chống 3, tấn công 3 chọi 1”. Vậy cứ cho là đang có 2 sư đoàn địch chiếm cứ trận địa, làm sao kiếm ra tối thiểu 5 sư đoàn để tái chiếm? Ưu thế hỏa lực không còn, các đơn vị tổng trừ bị hầu như bị cầm chân gần hết tại chiến trường hỏa tuyến, lực lượng nào để tiếp cứu đây?
Sáng ngay 11, tôi được trực thăng đón ra BTL Sư đoàn họp hành quân. Kế hoạch hành quân do Thiếu tá Cẩm, Trưởng Phòng 3 Sư đoàn trình bày gồm 2 giai đoạn :
- Giai đoạn 1: Ngày 12, Trung đoàn 45 được trực thăng bốc đi từ đèo Tử Sĩ, đổ xuống Quận Phước An, di chuyển về thị xã từ hướng đông, đến chạm tuyến chờ lệnh.
- Giai đoạn 2 : Buổi sáng cùng ngày, Liên đoàn 7 Biệt động quân được không vận từ Saigon sẽ đến thay thế Trung đoàn 44 ra tập trung tại căn cứ Hàm Rồng và sẵn sàng di chuyển về Ban Mê Thuột bằng trực thăng.
Sáng ngày 13, Trung đoàn 44 sẽ được không vận xuống Phước An, lần theo quốc lộ 21, song song với Trung đoàn 45, tiến vào thị xã.
Họp hành xong, tôi trở về ngay căn cứ 801 để chờ đơn vị bạn. Mãi tới gần 3 giờ chiều, đoàn xe chở Liên đoàn 7 Biệt động quân mới tới nơị Người bước vào căn cứ đầu tiên là Đại tá Nguyễn Kim Tây. Cuộc bàn giao vị trí cũng kéo dài tới gần 5 giờ chiều mới hoàn tất. Trung đoàn 44 lên xe trực chỉ hướng Hàm Rồng.
Trung đoàn 44 sẵn sàng tại bãi đáp lúc 7 giờ sáng ngày 13/3/75. Số lượng trực thăng dự trù để di chuyển toàn bộ Trung đoàn gồm khoảng 50 chiếc đủ loại, trong đó có 8 chiếc Chinook, 30 chiếc HUID và phần còn lại là trực thăng vũ trang. Kế hoạch dự trù di chuyển làm 2 đợt. Đợt đầu gồm Tiểu đoàn 3/44 do Đại úy Trần Hữu Lưu làm Tiểu đoàn trưởng, Đại đội 44 trinh sát của Đại úy Mạnh, BCH (Bộ chỉ huy) Trung đoàn 44. Quân số tổng cộng khoảng gần 600 ngườị Đợt thứ 2 gồm 2 Tiểu đoàn 1/44 của Thiếu tá Nguyễn Xuân Hoè, và Tiểu đoàn 2/44 của Đại úy Nguyễn Văn Pho, BCH nhẹ do Trung tá Vũ Mạnh Cường, Trung đoàn phó chỉ huy.
Chuyến không vận đầu tiên cất cánh lúc 9 giờ, đáp xuống khu vực rừng trống trước cửa Chi khu Phước An lúc 10 giờ 15. Tôi vào găp Tướng Tường tại BCH Khu nhận lệnh. Tôi ra lệnh cho Đại úy Lưu đưa tiểu đoàn đi theo hướng bắc quốc lộ 21 tiến lên ngang tuyến của Trung đoàn 45 thì dừng lại chờ đợị Đại đội 44 Trinh sát được giữ lại để bảo vệ BTL Sư đoàn. Đoàn trực thăng cất cánh trở lại Hàm Rồng để chở tiếp đợt còn lại.
Đến 2 giờ chiều, vẫn không có tin tức gì của đợt không vận thứ 2. Tôi trở vào Chi khu, nơi BTL Sư đoàn đang tạm đặt tại đây, để hỏi tin tức. Trung Tâm Hành Quân của Sư đoàn cũng chẳng biết gì hơn! 4 giờ chiều, Trung Tâm hành Quân của Sư đoàn cho biết cuộc không vận bị hủy bỏ, số trực thăng ấy đã được sử dụng để chuyên chở các nhân viên BTL Quân đoàn trở về Nha Trang! 2 tiểu đoàn của tôi sẽ nhận lệnh trực tiếp của Quân đoàn. Sau này tôi mới được biết 2 tiểu đoàn còn lại của tôi đã đi theo đoàn quân triệt thoái theo liên tỉnh lộ 7 và bị tan rã hoàn toàn. Trung tá Trung đoàn phó Vũ Mạnh Cường bị bắt làm tù binh, sau này bị đem về nhốt và chết cháy trong conex tại trại giam Hàm Tân, Đại úy Pho, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2/44, tự sát trước khi bị bắt.
Ngày 14/3/75, chúng tôi kiểm điểm lại và thấy như sau :
Liên đoàn 21 Biệt động quân, sau khi vào được thị xã Ban Mê Thuột, tiến đến khu vực phi trường L.19 trong thị xã, đã bị đánh bật ra ngoài vòng đai, hiện đang bị vây hãm tại Đạt Lý.
Bô Chỉ huy Trung đoàn 45 và Tiểu đoàn 3/44 đang bị cầm chân ngoài vòng đai thị xã.
Lực lượng pháo binh yểm trợ trực tiếp (và duy nhất) là trung đội pháo binh diện địa đang đặt tại Chi khu Phước An chỉ có 2 khẩu dại bác 105 ly.
Lực lượng không quân yểm trợ, đánh phá các căn cứ tập trung của địch, trong và ngoài vòng đai thị xã đang bị khốn đốn vì hỏa tiễn tầm nhiệt cầm tay SA37 của CS do Nga chế tạo, lần đầu tiên được sử dụng rộng rãi trên chiến trường Tây Nguyên.
Buổi sáng ngày 14/3/75, trong chuyến bay từ Khánh Dương lên Phước An, máy bay trực thăng của Tướng Tường bị trúng đạn phòng không 12.8 ly của CS. Tướng Tường và viên co-pilot bị thương nhẹ, phải vào bịnh viện Nha Trang điều trị.
Sáng ngày 15/3/75, Đại tá Phùng Văn Quang, Trung đoàn trưởng Trung doàn 45 và tôi, được tin Sư đoàn có vị Tư lịnh mới, đó là Đại tá Lê Hữu Đức. Cùng ngày, Đại tá Đức ra lịnh 2 chúng tôi cho đơn vị di chuyển lui về hướng đồi Chư Cúc lập tuyến phòng thủ tại đâỵ 5 giờ chiều cùng ngày, trong khi chờ đợi trực thăng của vị tâ Tư lịnh đáp xuống đỉnh Chư Cúc để họp thì đoàn chiến xa CS tràn tới dưới chân đòi. Tiếng Đại úy Mạnh, Đại đội trưởng Đại đội 44 Trinh sát, reo lên trong máy:”Báo cáo Bá Hòa, chúng tôi đã thiêu sống 1 con cua”. Những tiếng súng nỗ ròn rã cách xa hướng chân đồi non cây số, quện trong khói đen và trắng của chiếc xe thiết giáp địch bốc cháy thực sự không còn gây cho tôi một ấn tượng hứng khởi nào nữa. Tiếng Đại tá tân Tư lịnh nói trong máy cho biết không thể đáp xuống được và yêu cầu Đại tá Quang cùng tôi phối hợp phòng thủ chờ lịnh! Tôi còn nhớ hình như Đại tá Quang có buông một tiếng chữi thề và leo lên xe Jeep chạy nhanh xuống chân đồi trở về đơn vị.
Tôi và Đại úy Phan Công Minh, sĩ quan hành quân của Trung doàn, lặng lẽ đi bộ theo saụ Vừa ra khỏi khúc quanh trên đỉnh đồi, chúng tôi nghe tiếng xích sắt của xe thiết giáp địch xình xịt bên taị cả 2 anh em không có chọn lựa nào khác là chui qua vòng rào kẽm gai giăng quanh căn cứ, trượt theo sườn giốc xuống chân đồi, nơi có cắm đầy những tấm bảng gỗ ngổn ngang, trên có hàng chữ :”Khu tử địa cấm vào!!!”.
Dưới chân đồi là môt lạch nước nhỏ, hai bên có trồng chuối. Tôi và Minh ngồi im lặng dưới tầu lá chuối, ngâm chân vào giòng nước lạnh. Trong suốt 15 năm quân ngũ, chưa bao giờ tôi thấy tuyệt vọng như thế, kể cả khi còn là môt Đại úy Tiểu đoàn phó Tiểu doàn 2/11 Sư đoàn 7, khi bị vây hãm 3 ngày 2 đêm ở khu vực bến xe Mỹ Tho, đơn vị chỉ gồm hơn 50 người, trong đó có tới hơn phân nửa là chết và bị thương, đạn dược cạn kiệt và đói khát. Lúc đó, tôi vẫn thấy địch sẽ thất bại và chúng tôi sẽ được giải cứu. Bây giờ đây thì không. Tôi không nhìn thấy một cơ may nào để có thể giải cứu Ban Mê Thuột. Ngày 16/3/75 tôi và Minh tìm lại được đơn vị, được trực thăng bốc về Khánh Dương.
5. Một vài cảm nghĩ về kế hoạch tái chiếm
Tôi dược lịnh đưa đơn vị trở về Vũng Tàu qua điện thoại từ Trung tâm Hành quân Bộ Tổng tham mưu. Khi đơn vị gom lại được tại Trung tâm Huấn luyện Lam Sơn, Vũng Tàu, tổn thất nhân mạng hầu như không bao nhiêu, nhưng số binh sĩ bỏ ngũ thì khá nhiềụ Phần lớn số binh sĩ này là người sinh trưởng tại các tỉnh duyên hải, thành ra lợi dụng trong lúc di chuyển bằng đủ mọi thứ phương tiện, họ đã di theo đoàn người di tản để trở về gia đình. Cuộc chiến tranh nhập nhằng đã vắt kiệt sức chịu đựng của người lính chiến VN.
Kể từ ngày VC rêu rao cái gọi là chiến dịch Đồng Khởi năm 1960 tại Bến Tre cho đến năm 1975, trong 15 năm ấy những ngươi lính VN có giờ phút nào được hưởng giây phút tạm gọi là thanh bình? Cuộc chiến không có hậu phương, ngay cả trong thời gian nghỉ phép ngắn ngủi, họ cũng vẫn có thể bị bắt cóc trên các chuyến xe đò trở về nhà, hoặc trúng mìn trên đường đi chuyển từ tiền phương trở về hậu cứ lấy giấy phép, và sau cùng, họ cũng vẫn có thể trúng đạn pháo kích khi đang ngủ trên giường cùng vợ con! Cái chết như là điều gì rất thường trực, lúc nào cũng có thể xuất hiện và mang họ đi, thậm chí mang luôn cả thân nhân ruột thịt của chính họ. Trong khi ngoài chiến trường xương rơi, máu đổ thì nhìn về phía sau lưng, những trò chính trị nhố nhăng cùng một số chính khách hoạt đầu, tứ thời sống bằng cái miệng hò hét hoan hô đả đảo, bôi nhọ, tranh chấp nhau, những luận điệu phản chiến vô trách nhiệm... Rồi bà nọ ông kia mua quan bán chức, sống phè phỡn trên nỗi thống khổ và sự hy sinh vô bờ bến của những người cầm súng. Giờ đây, trên radio, trên báo chí, trên những tin tức tác động tâm lý của địch, họ đã thấy gì? Họ thấy sự đổ vỡ của các mặt giới tuyến, thấy sự rút chạy (mà phát ngôn viên quân sự đặt cho nó một cái tên mới là “di tản chiến thuật”) tán loạn từ khắp mọi nơi. Trong tình thế như vây mà đòi hỏi nơi binh sĩ một tinh thần vì nước quên mình, có lẽ chỉ những cấp chỉ huy có đầu óc hài hước cỡ Charlot mới dám làm.
Những ngày trong lao tù CS, tôi có dịp gặp hầu hết những cấp chỉ huy có liên hệ ít nhiều tới chiến trường Tây nguyên năm 1975, như Đại tá Vũ Thế Quang (Tư lịnh phó Sư đoàn 23), Đại tá Phùng Văn Quang (Trung đoàn trưởng Trung đoàn 45), Đại tá Võ Ân (Trung đoàn trưởng Trung đoàn 53), Trung tá Lê Quí Dậu (Liên đoàn trưởng Liên đoàn 21 Biệt động quân), Đại úy Xuân (Trưởng phòng 2 Tiểu khu Daklac),... Qua các câu chuyện trao đổi, tôi chưa bao giờ nghe thấy ai tin tưởng vào một cơ quan có thể tái chiếm Ban Mê Thuột với những kế hoạch đã được đưa ra thi hành vào lúc ấy.
6. Câu chuyện bên lề
Trước khi chấm dứt bài viết này, tôi xin kể lại 1 câu chuyện thực 100% có liên quan đến mặt trận Ban Mê Thuột mà có thể nói hầu hết những nhân viên tham mưu thuộc Phòng 2 và Phòng 3 Sư đoàn 23 Bộ binh ai cũng từng nghe và từng biết.
Tháng 10/1972, vết thương ở đầu gối của tôi trở nên trầm trọng, có nguy cơ bị hoại thư, Tướng Trần Văn Cẩm, tân Tư lịnh của Sư đoàn, đồng ý cho tôi đi dưỡng thương ở Quân y viện Đoàn Mạnh Hoạch ở Phan Thiết. Tôi bàn giao Trung đoàn 44 lại cho Đại tá Võ Hữu Hạnh. Đầu năm 1973, tôi trở về đơn vị, lúc bấy giờ vẫn còn hành quân tại Kontum để đảm nhiệm chức vụ Trưởng phòng 3 Sư đoàn 23 Bộ binh. Không bao lâu, Hiệp dịnh đình chiến Paris được ký kết, cục diện quân sự trở nên trớ trêu, khó chịụ Trước ngày 28/2/73, cả hai phía đều tung ra các cuộc hành quân lấn đất giành dân bằng các cuộc tấn kích trải đều trên lãnh thổ trách nhiệm, ngõ hầu có thể cắm được nhiều cờ chứng tỏ vùng đất đó là do quân ta chiếm giữ (hiểu ngầm là bên địch phải chấp nhận, tôn trọng không dám bước vào!). Nhưng thực tế không đơn giản như vậỵ Sư đoàn F10 CS của Mặt trận B3 tràn vào khu dân cư Trung Nghĩa, nằm ở hướng tây Kontum, còn Sư đoàn 23 Bộ binh tung các toán trinh sát và viễn thám lên tới gần trại Benhet (Bạch Hổ) rải rác xuống tới Võ Định. Nhưng rồi cả hai bên chẳng bên nào giữ được miếng đất có cắm lá cờ của mình cả. 2 Trung đoàn 24 và 26 của Sư đoàn 10 CSBV bị đánh te tua, cũng đành bỏ của chạy lấy người sau gần 1 tháng (sau Hiệp định) cố thủ và kiện cáo với Ủy Ban 4 Bên Kiểm soát Đình chiến. Về phía ta, các toán viễn thám cũng bị săn đuổi ác liệt không kém nên ít lâu sau cũng phải bỏ vị trí trở về.
Các hoạt động quân sự, kể từ đó không còn các cuộc hành quân thế công, mà thu gọn vào các hình thái phòng thủ tuyến. Ta và địch đối diện nhau, nói chuyện qua lại! Lâu lâu bộ đội của địch thấy buồn buồn, gọi qua xin ta điếu thuốc Ruby Queen hút cho phê”. Bộ đội địch chẳng có gì để cho lại tạ Nhưng đằng sau cái vẻ mặt hòa bình giả tạo đó, địch vẫn không ngừng xâm nhập để thăm dò, thậm chí lâu lâu pháo vài trái súng cối hoặc hỏa tiển để nhắc nhở rằng cuộc chiến tranh thực sự vẫn còn nguyên. Phe ta tuy không còn các cuộc hành quân thế công quy mô, nhưng các hoạt động viễn thám để dò tìm tin tức địch và phát hiện kịp thời các hoạt động của địch thì vẫn như khi chưa có Hiệp định. Thêm vào đó, khi tin tức tình báo tốt, hoặc địch tập trung, hoặc di chuyển với qui mô lớn thì ta cũng sẵn sàng phi pháo để...cảnh cáọ
Ở mặt trận Kontum lúc đó, các toán viễn thám của Đại đội 23 Trinh sát Sư đoàn là chủ chốt trong các hoạt động quân sự nàỵ Tưởng cũng cần nói rõ về tổ chức và thành phần của một toán viễn thám như sau :
- Một Trưởng toán thường là 1 sĩ quan hoặc 1 hạ sĩ quan thâm niên. - 1 Phó Trưởng toán. - 1 Hiệu thính viên (trang bị máy truyền tin PRC/15). - 4 Binh sĩ.
Tất cả đều là những người tình nguyện, thành ra có thể nói, tinh thần tác chiến khá caọ Đại đội 23 Trinh sát có 6 Toán Viễn thám như vậỵ
Trưởng Phòng 2 Sư đoàn 23 là Trung tá Điều Ngọc Chuy, tốt nghiệp khóa 16 Đà Lạt. Sĩ quan tình báo đặc trách các hoạt động viễn thám này là Đại úy Miêng. Đề ra kế hoạch, chỉ định khu vực hành quân và cung cấp phương tiện trực thăng là do Phòng 3. Thành ra sự phối hợp hàng ngang giữa 3 chúng tôi khá mật thiết.
Thời gian xảy ra câu chuyện vào khoảng tháng 4/74. Số là sau khi thả xong 2 toán viễn thám ở khu vực tây Võ Định, cách Kontm chừng 20 km về hướng Tây Bắc, sau 2 ngày hoạt động, thì toán di chuyển tới 1 vị trí quan sát chỉ định thì bị địch phát hiện và vây lùng. Miêng quyết định cho toán lợi dụng đêm tối di chuyển về hướng Nam rồi sáng hôm sau sẽ dùng trực thăng võ trang yểm trợ bốc toán trở về. Đến nửa dêm, sĩ quan trưởng báo cáo anh ta và chú em hiệu thính viên bị thương, các toán viên bắt buộc phải phân tán mỏng để chạy thoát thân. Cũng từ đó, Trung tâm hành quân Sư đoàn mất liên lạc với toán. Sáng hôm sau, Trung tá Chuy, Miêng và tôi bay lên vùng đó khá sớm cùng với 2 trực thăng võ trang, một chyên chở và một trực thăng chỉ huỵ Chúng tôi bay trên vùng gần 2 tiếng đồng hồ mà tuyệt nhiên không thấy có dấu vết hay dấu hiệu gì. Trở lại Kontum đổ xăng, tôi và Chuy trở về lại BTL Sư đoàn, còn Miêng tiếp tục lên bao vùng, liên lạc Đến mãi gần trưa, Miêng mới phát hiện ra có tín hiệu kiếng chiếu từ 1 chân đòi có cây thưạ Miêng cố gắng gọi trên vô tuyến, nhưng không có trả lờị Miêng không dám vòng lại nhiều lần vì có thể làm 1 vị trí của những toán viên bị phát hiện, thành ra anh ghi nhanh vị trí này trên bản đồ và trở về. Vị trí do Miêng phát hiện nằm cách quốc lộ 14 chừng 2km, cách Kontum gần 15km. Chúng tôi ước định, đây có thể là 1 vài toán viên thoát hiểm, đang có khuynh hướng bám theo quốc lộ vượt thoát.
Hậu cứ của Đại đội 23 Trinh sát đóng tại Ban Mê Thuột. Một vài binh sĩ của Đại đội, bị thương trong tình trạng mất khả năng tác chiến được lưu giữ tại trại để canh gác và làm tạp dịch. Trong đó có 1 hạ sĩ tên Tân có biết nghề thợ maỵ Đại đội mua cho Tân 1 chiếc máy may để sửa chữa quần áo cho đơn vị. Trước cổng vào của Đại đội có 1 chiếc Bàn Thiên, hàng ngày Tân thường ra nhan khói cầu nguyện. Khi tin từ Kontum gọi về cho biết toán viễn thám bị vây bắt và mất liên lạc thì cả hậu cứ Đại đội xôn xaọ Các thân nhân của các anh em trong toán, từ khu gia binh kế cận kéo sang hỏi thăm tin tức.
Tân vốn bản tính ưa làm việc thiện và có đức tin. Buổi chiều hôm đó, Tân cũng sắm sửa ít thẻ nhang, nhánh chuối bày vào đĩa dâng lên Bàn Thiêng cầu nguyện ơn trên cho đồng đội của mình bình an trở về. Sau khi thắp ngang khấn vái xong, thì một chuyện lạ xảy ra, chuyện này chưa từng có ở hậu cứ nàỵ Tân bỗng dưng mặt đỏ tai tía, 2 mắt nhắm chặt, miệng phun phì phì, tay đấm ngực thùm thụp, rồi ngồi ngay xuống trước sân lấy tay vẽ lung tung trên mặt đất.
Mọi người hiện diện lúc ấy đều hốt hoảng không biết việc gì đã xảy ra, cứ nghĩ là anh ta bị trúng gió thành ra một hai người chạy lại định đỡ Tân vào trong nhà. Nhưng vô hiệu, anh rất khoẻ, xô đẩy không cho ai tiến lại gần, miệng cứ tiếp tục phun phì phì và một tay đấm ngực, còn một tay vẽ vòng vèo trên mặt đất. Lúc đó có 1 anh Thượng sĩ già từ trong nhà bước ra, sau khi quan sát, đã nói to :”Cốt nhập rồi! Mau vẽ bàn cơ ra đây xem các ngài dạy gì!”. Tân gật đầu tỏ vẻ hài lòng. Một binh sĩ đứng gần, nhanh tay mang 1 tờ giấy khổ đôi đưa cho viên Thượng sĩ, anh này ngồi xuống, dùng bút bi viết lên các mẫu tự, rồi đặt trước đồng tử (medium). Đồng tử tiếp tục ra hiệu lấy 1 khăn vải, bắt chịt chặt hai mắt trước khi ngồi vào ngay ngắn trước tấm giấỵ
Khi viên Thượng sĩ xin cốt cho biết tên họ, thì đồng tử ráp chữ trên giấy xưng danh là Quốc Thánh, và cho biết vì có cảm tình với đơn vị nên giáng cơ chỉ bảọ Nhân tiện có câu chuyện toán viễn thám đang bị mất tích, viên Thượng sĩ chỉ huy hậu cứ liền hỏi luôn tình trạng của họ ra saọ Quốc Thánh trả lời :”Chúng nó đang gặp nạn, có 3 đứa bị thương, nhưng ta sẽ đưa chúng nó trở về bình an nội trong 2 ngày tới”. Tin vui bất ngờ này làm cho mọi người thở ra nhẹ nhõm nên không ai có ý muốn hỏi gì thêm. Quốc Thánh cũng thăng. Chú em đồng tử trở về trạng thái bình thường, thậm chí khi hỏi chú vừa làm gì, chú ta cũng không biết.
Ngay trong đêm đó, Miêng là người nhận được cú điện thoại đầu tiên kể lại câu chuyện xảy rạ Sáng hôm sau, sau buổi họp tham mưu thường lệ, Miêng kêu tôi và Chuy ra một góc phòng và kể lại toàn bộ câu chuyện ly kỳ nàỵ Tôi vốn dĩ là người ít tin những chuyện dị đoan, nên góp vào một lời bàn ngang :”Thì cứ để ngày mai xem sao, còn mình vẫn tiếp tục xin cho cậu một chiếc C&C và 2 gunships để đi tìm các dệ tử của cậu”. Miêng gật đầu đồng tình, rồi bước ra khỏi phòng họp.
Ngày hôm ấy, suốt cả ngày, Miêng, Chuy và tôi luân phiên nhau lên vùng tìm kiếm, nhưng vẫn không có tin tức gì. Buổi chiều, khi trả hợp đoàn trực thăng trở lại Pleiku, cả 3 chúng tôi đều cảm thấy buồn. Tôi suy nghĩ miên man : Hòa bình rồi đó, ở những cao ốc, biệt thự, giờ này các chính trị gia chắc đang họp bàn âm mưu, tính kế tranh ngôi đoạt vị, các con buôn chiến tranh đang phè phỡn ăn chơi trác táng, trong khi các chiến sĩ trong QLVNCH vẫn âm thầm hy sinh. Tôi lo lắng về số phận của toán viễn thám. Trưa hôm sau, trong lúc Chuy đang bay đi tìm thì Trung tâm Hành quân Sư đoàn nhận được điện thoại của Trung tâm Hành quâ của Tiểu khu Kontum báo cáo có 4 quân nhân Sư đoàn 23 trở về, hiện đang ở xã Trung Nghĩa, trong đó có Chuẩn úy Trưởng toán bị thương ở bả vaị Khoảng 2 giờ chiều, toán tiền đồn của Trung đàn 53 báo cáo có 3 binh sĩ thuộc Đại đội 23 Trinh sát trở về, trong đó có 1 người bị thương!
Có điều đặc biệt là Quốc Thánh chỉ ứng cơ với các sự kiện có liên quan đến Đại đội 23 Trinh sát mà thôị Dĩ nhiên Quốc Thánh còn ứng cơ trong một vài trường hợp nữa nhưng cũng vẫn chỉ liên quan đến các hoạt động của các toán viễn thám, và cũng vẫn khá chính xác mà tôi không muốn nêu ra đâỵ Câu chuyện ứng cơ này được nhiều người biết tới, và đã có nhiều lời bàn tán cho rằng Quốc Thánh chính là anh hồn của Tướng Trương Quang Ân, nguyên Tư lịnh Sư đoàn 23 Bộ binh chứ không ai khác. Người ta dẫn ra rằng khi còn sống, ông là vị Tư lịnh có thiện cảm với đại đội trinh sát hơn bất cứ vị Tư lịnh nàọ Ông và phu nhân (nguyên là 1 nữ quân nhân) bị mất trong 1 tai nạn máy bay khi đang chỉ huy hành quân trong một cuộc hành quân tại Quảng Đức.
Tháng 7/74, khi rời chức vụ Trưởng Phòng 3, trở lại với Trung đoàn 44, với nhiệm vụ mới, tôi không còn theo dõi câu chuyện ly kỳ này nữạ Mãi cho tới khoảng tháng 1/75, sau buổi họp hành quân tại BTL Sư đoàn ở Hàm Rồng, Đại úy Miêng kêu tôi ra nói chuyện riêng. Anh hỏi tôi :
- Ông còn nhớ chuyện ngài Quốc Thánh không?
- Nhớ chứ! Tôi trả lời.
Miêng nói :
- Có chuyện naỳ lạ lắm, để tôi kể ông nghẹ Rồi Miêng tiếp :
- Chắc ông còn nhớ vụ mình thả viễn thám ở Kontum chứ gì? Từ sau thời gian Sư đoàn kéo về hành quân ở Quảng Đức, rồi trở về Ban Mê Thuột, Quốc Thánh nhập cơ một hai lần gì đó, rồi bẵng đi gần 3 tháng. Mới đây, hôm thứ 6 tuần trước, Quốc Thánh lại nhập cơ và báo cho biết VC đang kéo về hướng Ban Mê Thuột rất đông. Khi được hỏi từ hướng nào, ngài bảo hướng Tây và hướgn Bắc. Ngài còn bảo :”Tụi nó có ý muốn đánh Ban Mê Thuột”.
Tôi cười :
- Thế sao theo tin tức tình báo ông vừa thuyết trình thì VC đang tập trung thay quân giữa Công Trường 9 kéo từ Bình Long lên với Sư đoàn 320, có thể kéo trở ra Bắc để tái bổ sung và tái huấn luyện?
Cùng lúc ấy Trung tá Chuy đi tới, tôi quay lại hỏi Miêng :
- Chuy biết việc này chưa?
Miêng bảo :
- Tôi có kể cho Chuy nghe rồị
Tôi hỏi Chuy :
- Ông nghĩ thế nào về vụ VC có thể đánh Ban Mê Thuột?
Chuy nói :
- Tin tức từ Quân doàn và Tiểu khu Đắc Lắc cho biết có nhiều dấu hiệu địch tập trung quân đông lắm, có thể chúng sẽ mở cuộc tấn công qui mô như kiểu năm 1972. Đó là điều có thể xảy ra lắm chứ.
Chúng tôi nói vài câu chuyện vãn rồi chia taỵ Tôi lên máy bay trực thăng trở về BCH Hành quân của tôị
Khoảng 1 tuần lễ sau, Trung đoàn 45 bắt được 1 tù binh CSBV tên Sính, anh ta đã khai toàn bộ kế hoạch đánh chiếm Ban Mê Thuột, như tôi đã kể ở phần đầụ Trung tá Chuy và Đại úy Miêng đã đích thânthẩm vấn và ghi chép đầy đủ bản cung từ của Sính. Có điều lạ là kế hoạch tấn kích của VC gần như rất trùnh hợp với kế hoạch chúng đã tấn công vào đây năm 1968 (Tết Mậu Thân). Chỉ có sự khác biệt là lần này, theo lời Sính cung khai, chúng có sử dụng xe tăng trong mũi tấn công từ hướng Đông Bắc. Dĩ nhiên, tin tức mật này được báo cáo đầy đủ lên BTL Quân đoàn.
Về vụ Qyuốc Thánh, ông có nhập cơ lần cuối cùng vào khoảng nửa đêm, bây giờ ông không nhắc về chuyện thời sự nữạ Ông nói với viên Thượng sĩ già chỉ huy hậu cứ rằng tình hình đã muộn rồi, không còn cứu vãn được nữa, ông sẽ không còn ở lại với đơn vị trinh sát, ông sẽ đi vào một ngôi chùa nào đó.
24 tiếng đồng hồ sau thì cuộc tấn công vào Ban Mê Thuột mở màn. Cũng từ đó, tôi không còn được nghe kể về Quốc Thánh nữạ Quả thật, trong đời sống thường nhật có biết bao điều kỳ bí mà không ai có thể giải thích được, người ta chỉ có thể tiếp nhận bằng đức tin. Dấu hiệu về biến cố Ban Mê Thuột đã được thông báo trước đến những người chỉ huy Quân đoàn 2 bằng cả tin tức tình bà'o và tiếng nói huyền bí, nhưng không hiểu tại sao thành phố này đã không được phòng thủ một cách chu đáo, bị thất thủ 1 tới giai doạn xoay vần. Chúng ta chỉ còn biết dừng lại ít phút để tưởng nhớ đến các chiến sĩ đã hy sinh một cách oan uổng và cầu cho vong linh họ được siêu thoát.
Trung Tá Ngô Văn Xuân Campbell, 31/3/96
* Lá thư người lính chiến
Mẹ ơi, lời tâm thư gói trọn tình con viết từ chiến trường Mẹ ơi, sầu lo chi tóc già bạc phơ sót xa lòng con Mẹ ơi, đàn em thơ vắng người anh trai có còn khóc hoài Mẹ ơi, vợ hiền con có còn chăm lo luống khoai tháng ngày
Đời lính thân con nề chi Sót mẹ già chiều quê gió đông sầu Và nhớ thương thương người em Cưới nhau về chồng đi lính miền xa
Mẹ ơi, cầu xin cho xóm làng quê hương xóa mờ chiến trường Đồng bào ta cùng thương nhau xóa hận thù đi lấp đi đường ranh giới Mẹ ơi, và con trai của mẹ ngày mai sẽ về, sẽ về... Mẹ ơi, mẹ hiền ơi chớ buồn vì con nước non chưa tròn... ./-
Bấm chữ "Older Posts" trên đây để xem tiếp .... Dưới Là Bài Cũ Theo Từng Tháng.
-
►
2006
(249)
- Jun 2006 (13)
- Jul 2006 (51)
- Aug 2006 (36)
- Sep 2006 (32)
- Oct 2006 (33)
- Nov 2006 (37)
- Dec 2006 (47)
-
►
2007
(2315)
- Jan 2007 (66)
- Feb 2007 (62)
- Mar 2007 (54)
- Apr 2007 (95)
- May 2007 (123)
- Jun 2007 (192)
- Jul 2007 (249)
- Aug 2007 (204)
- Sep 2007 (255)
- Oct 2007 (329)
- Nov 2007 (361)
- Dec 2007 (325)
-
►
2008
(3206)
- Jan 2008 (228)
- Feb 2008 (204)
- Mar 2008 (273)
- Apr 2008 (328)
- May 2008 (304)
- Jun 2008 (312)
- Jul 2008 (258)
- Aug 2008 (310)
- Sep 2008 (290)
- Oct 2008 (256)
- Nov 2008 (218)
- Dec 2008 (225)
-
►
2009
(1551)
- Jan 2009 (152)
- Feb 2009 (126)
- Mar 2009 (139)
- Apr 2009 (148)
- May 2009 (183)
- Jun 2009 (164)
- Jul 2009 (145)
- Aug 2009 (100)
- Sep 2009 (102)
- Oct 2009 (117)
- Nov 2009 (94)
- Dec 2009 (81)
-
▼
2010
(1605)
- Jan 2010 (111)
- Feb 2010 (115)
- Mar 2010 (122)
- Apr 2010 (132)
- May 2010 (146)
- Jun 2010 (129)
- Jul 2010 (191)
- Aug 2010 (147)
- Sep 2010 (125)
- Oct 2010 (133)
- Nov 2010 (131)
- Dec 2010 (123)



